Tuy nhiên, trong các phương pháp ABFC, FLS thường được sử dụng để xấp xỉ những hàm hệ thống chưa biết chỉ phụ thuộc vào trạng thái của hệ hoặc đầu ra.. Với những nhiễu phi tuyến không xá
Trang 1Tóm tắt: Một hàm xấp xỉ mới được xây dựng bằng cách tổ hợp
một hệ logic mờ với khai triển chuỗi Fourier nhằm mô hình
hóa một hệ các hàm nhiễu tuần hoàn chưa biết Sau đó, một
phương án về hệ thống điều khiển bám cuốn chiếu thích nghi
được phát triển, khi mà phương pháp kiểm soát động lực bề
mặt được sử dụng để giải bài toán “sự bùng nổ của số phức”
trong phương pháp thiết kế cuốn chiếu, và hàm tích phân
Lyapunov phụ thuộc độc lập vào thời gian được sử dụng để
phân tích sự ổn định của hệ chu trình khép kín Dạng bán cầu
tối ưu bao ngoài tất cả các tín hiệu lặp khép kín được đảm bảo,
và độ lệch chuẩn tương đối được chứng minh hội tụ về một lân
cận nhỏ của giá trị gốc Hai ví dụ mô phỏng được đưa ra sẽ
minh họa hiệu quả của phương án điều khiển được thiết kế
trong bài báo này
Thuật ngữ sử dụng: Kiểm soát động lực bề mặt (DSC), khai
triển chuỗi Fourier (FSE), hệ thống logic mờ (FLS), tích phân
Lyapunov (ILF), hệ phi tuyến có tham số, nhiễu tuần hoàn
I GIỚI THIỆU
Khoảng 2 thập kỉ trở lại đây, đã có nhiều tiến bộ trong nghiên
cứu lĩnh vực điều khiển mờ Bài báo nghiên cứu về phân tích
và thiết kế hệ thống điều khiển mờ có thể tìm thấy trong [1]
Đặc biệt, gần đây, kỹ thuật cuốn chiếu thích nghi đã được sử
dụng kết hợp với hệ thống logic mờ (FLS) để phát triển cái gọi
là phương pháp cuốn chiếu thích nghi trong điều khiển mờ
(ABFC), thứ đặc biệt hữu ích để để giải quyết bài toán điều
khiển hệ thống có cấu trúc tam giác thấp với các ẩn và hệ
phương trình bất đối xứng Thực tế, ý tưởng cơ bản của ABFC
là đồng nhất thành điều khiển mạng nơ-ron cuốn chiếu thích
nghi (ABNNC) nghĩa là sử dụng xấp xỉ để ước lượng độ bất
đối xứng và bất định xuất hiện trong hệ thống hoặc bộ điều
khiển trực tuyến Tuy nhiên, so sánh với các mạng nơ-ron NNs,
lợi thế chính của FLS là nó có thể kết hợp kinh nghiệm và hiểu
biết của người thiết kế hoặc chuyên gia Những kinh nghiệm và
sự hiểu biết này có thể khởi đầu việc ước lượng qua tham số
nhằm khiến chúng gần với giá trị tối ưu nhất, điều rất quan
trọng để cải thiện hiệu suất điều khiển tức thời, đặc biệt là giai
đoạn quá độ của quá trình điều khiển Do đó, bài báo này sẽ tập
trung vào ABFC ABFC được đưa ra lần đầu tiên trong [8] giải
quyết bài toán bám trong lớp các hệ thống phản hồi hoàn toàn
với hiệu suất bám H∞ và sau đó đã được áp dụng cho nhiều hệ
thống phản hồi hoàn toàn nói chung [9] và hệ thống phản hồi
đầu ra nói riêng [10] Chen và Liu [11] đã phát biểu về vấn đề
xấp xỉ những nhiễu loạn mờ, tách riêng ra khỏi vấn đề hệ phi
tuyến đa kênh (MIMO - multi-input-multi-output) bằng
phương pháp cuốn chiếu Yang [14] và Ho [15] đã giới thiệu
một số phương án ABFC gián tiếp bằng cách phối hợp kĩ thuật
cuốn chiếu với khuếch đại nhỏ, với bộ điều khiển chứa ít tham
số thích nghi hơn Gần đây, phương pháp ABFC trực tiếp đã
được đề xuất bằng cách phối hợp tích phân Lyapunov cải tiến
(ILF) và kĩ thuật cuốn chiếu [16], và phương pháp ABFC có
thể mở rộng ra nữa tới những hệ thống thời gian trễ [17], [18]
và hệ MIMO [19] Gần hơn nữa, Chen và Zhang [36] đã đề
xuất phương pháp ABFC ổn định tổng thể đối với lớp các hệ
phản hồi đầu ra phi tuyến với tín hiệu thu được có tần số cao
chưa biết Tuy nhiên, trong các phương pháp ABFC, FLS
thường được sử dụng để xấp xỉ những hàm hệ thống chưa biết
chỉ phụ thuộc vào trạng thái của hệ hoặc đầu ra Với những
nhiễu phi tuyến không xác định xuất hiện trong các hàm hệ
thống chưa biết, các phương pháp ABFC đang sử dụng đều vô
tác dụng vì trong thực tế thì nhiễu có thể phá hủy tất cả thuộc tính xấp xỉ của FLS
Trên cơ sở những thảo luận ở trên, bài báo này sẽ nghiên cứu tỉ
mỉ vấn đề điều khiển bám của lớp các hệ thống phản hồi hoàn toàn trong đó những tín hiệu nhiễu phi tuyến tuần hoàn phụ thuộc thời gian không xác định xuất hiện trong những hàm hệ thống chưa biết Động lực của hệ thống được miêu tả bởi dạng chính tắc có thể được kiểm soát dưới đây:
⎩
⎨
⎧ ̇ = ̅ , ( ) + ̅ , ( )
= 1, … , − 1
̇ = ̅ , ( ) + ̅ , ( )
=
(1)
Với ̅ = [[ ̇ , … , ] ∈ (1 ≤ ≤ ); = ̅ ∈ , ∈ , à ∈ là véc tơ trạng thái của hệ thống, đầu ra, và điều khiển đầu vào; ( ): [0, +∞) → (1 ≤ ≤ ) là ẩn, với nhiễu thay đổi theo thời gian với chu kì đã biết và thứ nguyên , tức là ( + ) = ( ); và : → và : → (1 ≤ ≤ ) là hàm trơn chưa biết
So sánh với những công việc đã tồn tại trong lĩnh vực ABFC [8]-[19], đặc tính chính của hệ (1) là nhiễu tuần hoàn không xác định ( ) xuất hiện trong các hàm hệ thống chưa biết dưới dạng phi tuyến Đó cũng là khó khăn chính và sẽ được giải quyết trong bài báo này Tuy nhiên, tại sao chúng ta chỉ quan tâm đến nhiễu tuần hoàn thay đổi theo thời gian thay vì những thứ khác? Lí do chính nằm ở những điểm sau:
1) Như đã đề cập ở [20], nhiễu tuần hoàn thường tồn tại trong rất nhiều hệ thống máy móc điều khiển như rô bốt công nghiệp, máy móc điều khiển số hoặc nhiễu phụ thuộc vào tần
số của nguồn cung cấp Gần đây, Tomizuka [21] đã đưa ra một
số vấn đề cơ bản và những thách thức mới trong việc giải quyết nhiễu tuần hoàn và ứng dụng trong những hệ máy móc Thêm nữa, thực tế một số hệ vật lý có thể được mô tả bởi những mô hình (1) [14], [22]
2) Về mặt lí thuyết, quả là vô cùng khó để tìm một phương pháp thích hợp để giải quyết bài toán bám của hệ (1) với những nhiễu phi tuyến có tham số, thay đổi theo thời gian nói chung Như đã trình bày ở [23] một cách thực tế là bước đầu phân loại nhiễu nói chung thành các tập con,…, nhiễu tuần hoàn so với không tuần hoàn, tiếp đó tìm kiếm một phương pháp thích hợp
và khả thi cho mỗi phân lớp
3) Thực tế, nhiều kết quả trong loại bỏ hoặc ước lượng nhiễu tuần hoàn (có thể có tham số) đã được đưa ra rộng rãi (có thể tham khảo [20]-[28]), cho nên nhiễu tuần hoàn được đưa vào hệ thống đã được kiểm soát chỉ là tuyến tính thay vì phi tuyến
Cũng cần nhấn mạnh rằng nhiễu tuần hoàn nói chung đã được phân loại thành 2 tập con: nhiễu tuần hoàn phụ thuộc trạng thái
và nhiễu phụ thuộc thời gian Loại đầu tiên thường xuyên xuất hiện trong các hệ máy móc gây bởi sự dao động nội tại của máy móc như hệ quay động lực [29], và một số loại nhiễu có thể được biểu thị bởi ( ) thỏa mãn ( + ) = ( ) với
> 0 là chu kì, và x là thông số trạng thái của hệ thống Loại thứ hai thường tồn tại trong một vài hệ vật lí bởi vì chịu tác động bên ngoài, như dao động Van de Pol [22] và mô hình điều khiển Brusselator [14], và nó có thể biểu thì bởi ( ) thỏa mãn ( + ) = ( ) Trong hệ thống (1), nếu ( ) phụ thuộc thông số trạng thái, ( ) = ( ̅ ), và hàm chưa biết ( ̅ , ( )) và ( ̅ , ( )) trở thành hàm chỉ phụ thuộc vào trạng thái của hệ ̅ ví dụ ( ̅ , ( ) = ( ̅ ) và ( ̅ , ( )) = ( ̅ ) Trong trường hợp này, một vài cách tiếp cận ABFC đã tồn tại [8]-[19] có thể được áp dụng trực tiếp
Trang 2để giải quyết vấn đề điều khiển của hệ (1) Do đó, trong bài báo
này, chúng tôi sẽ nhấn mạnh đến nhiễu tuần hoàn phụ thuộc
thời gian
Từ những vấn đề đã thảo luận ở trên, có thể thấy rằng vấn đề
bám của hệ (1) có vai trò quan trọng cả trong lí thuyết và thực
hành Trở ngại chính là làm cách nào để giải quyết với hàm hệ
thống chưa biết bị ảnh hưởng bởi nhiễu tuần hoàn ở dạng phi
tuyến Để vượt qua trở ngại này, trong bài nghiên cứu trước,
chúng tôi đã đề cập đến 2 phương pháp xấp xỉ mới bằng cách
kết hợp khai triển chuỗi Fourier (FSE) và NNs [30]; tiếp đó, cả
hai được dùng cho ABNNC trong [31] và [32], theo thứ tự định
sẵn Tuy nhiên, thật tốt khi biết rằng NNs không thể tận dụng
một vài kinh nghiệm và hiểu biết từ người thiết kế và chuyên
gia, nhưng FLS có thể Do đó, trong bài báo này, chúng tôi
phối hợp FSE với FLS để thành lập phương pháp xấp xỉ cơ bản
FSE-FLS mới để mô hình hóa một cách thích hợp từng nhiễu
ngẫu nhiên, nơi FSE thường được dùng để ước lượng nhiễu
thay đổi theo thời gian, và tiếp đó, ước lượng giá trị xa hơn nữa
như dữ liệu đầu vào FLS để xấp xỉ hàm hệ thống với nhiễu
chưa biết, cái mà khác với tất cả những xấp xỉ mờ đã tồn tại, đã
được giao phó chỉ cho mô hình hàm nhiễu độc lập [8]-[19]
Thuận lợi chính của xấp xỉ cơ bản FSE-FLS là nó có khả năng
rất tốt để bù đắp cho nhiễu tuần hoàn phi tuyến tham số hóa bới
vì sự giới thiệu của FSE Hơn nữa, trên cơ sở đề xuất xấp xỉ cơ
bản FSE-FLS, chúng tôi phát triển đề án bán cầu ABFC ổn
định sử dụng phương pháp điều khiển động lực bề mặt (DSC)
và kĩ thuật ILF, nơi phương pháp DSC được sử dụng để giải
quyết vấn đề” sự bùng nổ phức tạp” trong thủ tục thiết kế cuốn
chiếu, và một ILF thay đổi theo thời gian và phụ thuộc tham số
được dùng để phân tích sự ổn định của những hệ thống chu
trình đóng
Phần còn lại của bài báo này là sự sắp xếp lại những phần trên
Phần II đưa ra một cách sơ bộ, phát biểu bài toán, và xấp xỉ cơ
bản FSE-FLS Trong phần III, chúng tôi giới thiệu thủ tục thiết
kế của thuật toán ABFC Phần IV đưa ra phân tích sự ổn định
của hệ thống chu trình đóng và là kết quả chính của bài báo
này Trong phần V, hai ví dụ mô phỏng được đưa ra để minh
họa tính hiệu quả của đề án điều khiển đã được đề xuất Trong
phần VI, chúng tôi kết thúc công việc của bài báo này
II MỞ ĐẦU, CÔNG THỨC VẤN ĐỀ, VÀ KHAI TRIỂN
CHUỖI FOURIER LOGIC MỜ, XẤP XỈ CƠ BẢN CỦA
HỆ THỐNG
A Mở đầu
Những kí hiệu sau sẽ được sử dụng xuyên suốt cả bài báo này
biểu thị ma trận đơn vị cấp m Tr(∙) là toán tử vết (của ma
trận) biểu thị hoán vị của ma trận A ||∙|| biểu thị chuẩn
Euclidean của ma trận, ||B|| biểu thị chuẩn Frobenius…để
cho ma trận B= , × , ||B|| = { }, và | | =
∑ | | với = [ , , … , ] ∈ và ( ) và ( )
lần lượt biểu thị giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của hình vuông ma
trận C
Định nghĩa 1 [35]: véc tơ phụ thuộc tham số ( ) bị chặn đều,
nếu với tập con Ω compact bất kì thuộc và tất cả ( ) ∈ Ω,
tồn tại một ε> 0 và một số T(ε, ( )) sao cho ‖ ( )‖ < ε với
mọi t ≥ +
Bổ đề 1 [33]: chúng ta giả sử rằng hàm ( ) ≥ 0 là hàm khác
biệt định nghĩa với t ≥ 0 Nếu ̇ ( ) ≤ − ( ) + với và
là các hằng số đã xác định
( ) ≤ ( (0) − ) +
Bây giờ, chúng tôi giới thiệu một FLS bao gồm hệ tĩnh ánh xạ
từ U ⊂ đến Quy tắc mờ if-then được viết như sau:
( ): à à … à à , à Khi và lần lượt là thành phần mờ của hàm ( ) và ( ) FLS với giá trị trung bình trung tâm, kết luận rằng, một giá trị mờ riêng lẻ được định nghĩa như sau:
Khi m là số quy tắc mờ, x= [ , , … , ] và là điểm tại
đó ( ) Trong (2), thành phần mờ của hàm ( ) thường được lựa chọn là hàm Guassian với công thức sau:
Khi và lần lượt biểu thị trung tâm và bề rộng của ( ) Nếu chúng ta xem , và là tham số biến thiên, thành phần mờ của hàm ( ) có thể được viết cách khác như sau:
Khi = , − / là véc tơ tham số chưa biết và = [ , 1] là véc tơ giá trị của hàm chưa biết Biểu thức (2) cũng
có thể viết lại là:
Khi W=[ , , … , ] là véc tơ của tham số biến thiên;
= [ , 1] là véc tơ giá trị hàm số; = [ , , … , ] là
ma trận của tham số biến thiên với
và
là véc tơ giá trị hàm số với ( ) được định nghĩa là
Bổ đề sau sẽ chỉ rõ thuộc tính xấp xỉ chung của FLS (2) hoặc (3)
Bổ đề 2 [7]: đối với hàm thực liên tục bất kì ( ) trong tập compact ⊂ và ′ > 0 tùy ý, tồn tại một FLS ( ) có dạng (3) thỏa mãn
Trang 3∈ | ( ) − ( )| <
Chú ý 1: bổ đề 2 có nghĩa là với lân cận nhỏ tùy ý, phải
tồn tại một tham số thích hợp của FLS(3), với điểm chính giữa
, bề rộng , số quy tắc mờ l, sao cho ∈ | ( ) −
( )| < Nó cũng nhấn mạnh rằng nếu số quy tắc mờ l cố
định, sai số xấp xỉ không thể được tạo ra một cách nhỏ tùy ý
băng cách điều chỉnh và Để giảm sai số xấp xỉ, chúng ta
vẫn phải dùng các quy tắc mờ nhiều nhất có thể Tăng l rất hữu
ích để giảm sai số xấp xỉ, điều này rất giống với NNS [35]
B Bài toán:
Đối tượng điều khiển của bài báo này đã được công thức hóa
như sau Để đưa ra một tín hiệu mẫu ( ), ta tìm luật điều
khiển động lực thích nghi theo dạng sau
Khi ˆ thường biểu thị tín hiệu lọc và ước lượng của tham số
chưa biết, ví dụ như, trong khi duy trì tất cả các tín hiệu chu
trình SGUUB, sai số đầu ra ( )− ( ) thỏa mãn
khi là hằng số, có thể chọn nhỏ tùy ý
Giả định sau trong hệ (1) thường được dùng để mô tả sớm đối
tượng điều khiển
Giả định 1: kí hiệu ( , ( )), = 1, … , đã biết, tồn tại
hằng số > 0 và đã biết hàm trơn sao cho
Giả định 2: tín hiệu mẫu ( ), cũng như ̇ ( ) và ̈ ( ) là liên
tục và bị chặn
Chú ý 2: giả định 1 có thể dùng rộng rãi trong xấp xỉ cơ bản
điều khiển cuốn chiếu thích nghi ( xem [3] và [23]) Giả định
này muốn nói rằng hàm trơn luôn dương hoặc
luôn âm Không mất tính tổng quát, giả sử
0 < < ( , ( ) < ( ) Giả định 2 là tiêu chuẩn trong thiết kế DSC [4] Cũng nên nói
rằng hàm… sẽ được sử dụng để phân tích sự ổn định của thiết
kế DSC chứ không phải dánh cho thiết kế điều khiển
C Khai triển chuỗi fourier xấp xỉ cơ bản hệ logic mờ
Trong bài báo này, trở ngại thiết kế chính là không biết nhiễu
tuần hoàn ( ) không thể được sử dụng ở đầu vào của FLS
Chúng ta sẽ xét tính chất tuần hoàn của ( ) Trước hết, chúng
ta dùng FSE để ước lượng ( ) và sau đó tận dụng tín hiệu đã
đo của hệ thống và giá trị ước lượng của như là đầu vào
của FLS để xấp xỉ một cách hợp lí một số hàm chưa biết
ℎ ( , ( ))
Không mất tính tổng quát, chúng ta xét một hàm chưa
biết ℎ( , ( )) khi ∈ Ω ⊂ là tín hiệu đã đo được, với
Ω là một tập compact, và
là một nhiễu liên tục chưa biết với chu kì T đã biết, với Ω là một tập compact Một
mặt, vec tơ nhiễu tuần hoàn và liên tục ( ) cũng có thể được
biểu diễn bởi một tham số tuyến tính FSE như sau [25]:
khi là một ma trận hằng với ∈ là một véc tơ gồm có hệ số q của FSE của ( ) (khi q là số nguyên lẻ), ( ) là lỗi gián đoạn với giới hạn trên nhỏ nhất
̅ > 0, có thể làm giảm tùy ý bằng cách tăng q, và
với
có đạo hàm trơn và bị chặn đến cấp n
Mặt khác, nếu ( ) đã đo được, hàm liên tục chưa biết ℎ( , ( )) có thể được xấp xỉ trên tập compact
Ω = Ω × Ω bởi FLS
với giới hạn trên nhỏ nhất ̅ > 0, có thể giảm bằng cách tăng
số điều kiên mờ theo chú ý 1
Tuy nhiên, khi không biết ( ), chúng ta có thể lập hàm xấp xỉ
cơ bản mới trong (4) và (5) Chú ý rằng có thể chia ra làm
3 thành phần, = + ( ) + , trong đó bằng cách thay thế nhiễu tuần hoàn phụ thuộc thời gian ( ) với (4), ta
Thay (6) vào (5) ta dẫn đến
Trên
cơ sở (7), chúng ta xây dựng hàm xấp xỉ cơ bản FSE-FLS mới
để mô hình hóa hàm chưa biết ℎ( , ( ))như sau
khi
Chú ý 3: có thể thấy từ (9) rằng nếu đầu vào của FLS ( , ( )) luôn tồn tại trên tập compact Ω = Ω × Ω và sai số ( , ) bị chặn và có thể giảm tùy ý bằng cách tăng giá trị của p hoặc q,
có thể thấy rằng xấp xỉ mới (8) là một xấp xỉ tốt Tuy nhiên, một khi đầu vào của FLS không thuộc tập compact Ω, sai số có giới hạn không được đảm bảo Đó là lí do tại sao sự ổn định của hệ chu trình đóng đạt được chỉ là một nửa thay vì toàn bộ Thực tế, như đã chỉ ra ở [5], cách để nhận dạng tập compact và đảm bảo sự ổn định hoàn toàn của hệ chu trình đóng là một vấn
đề mở trong lĩnh vực điều khiển mờ hoặc điều khiển NN Trong bài báo này, để phân tích sự ổn định một cách thuận tiện, chúng tôi giữ vấn đề mở này như một công việc cần khám phá
Trang 4trong tương lai, và vẫn thừa nhận rằng đầu vào của FLS luôn
tồn tại trên tập compact phù hợp Do đó, sai số xấp xỉ luôn bị
chặn
Trên cơ sở chú ý 3, chúng ta vẫn thừa nhận | ( , ) | < ̅ khi
̅ biểu thị giới hạn trên nhỏ nhất của ( , ) Tổng quát, tham
số W và V là chưa biết và cần ước lượng trong thiết kế điều
khiển Gọi và theo thứ tự là ước lượng của W và V, và sai
số ước lượnglà và
Bổ đề 3: với xấp xỉ cơ bản FSE-FLS (8), sai số ước lượng có
thể biểu diễn như sau:
khi
với
và số hạng dư d bị chặn bởi
Chứng minh: chứng minh tương tự như chứng minh của [34,
bổ đề 3 1], và không làm ở đây
III KIỂM SOÁT BỀ MẶT ĐỘNG THÍCH ỨNG THIẾT
KẾ DỰA TRÊN HÀM TÍCH PHÂN LYAPUNOV
Trong phần này, chúng tôi sẽ đưa ra THIẾT KẾ BƯỚC NHẢY
cho hệ thống (1) bằng cách kết hợp phương pháp DSC với kỹ
thuật ILF, với phương pháp DSC được sử dụng để giải quyết
vấn đề” sự bùng nổ của số phức” trong phương pháp thiết kế
cuốn chiếu, và kỹ thuật ILF được sử dụng để phân tích độ ổn
định của hệ thống lặp khép kín; tuy nhiên, phương pháp xấp xỉ
FSE-FLS (8) được sử dụng để xấp xỉ một số hàm thích hợp
tuần hoàn phụ thuộc thời gian và phi tuyến có tham số như
:
với , với đóng cho trước, và sai số riêng bổ
sung do phép tính xấp xỉ, đánh giá sai số sẽ được xét tới
Bước 1: Kí hiệu Từ phương trình thứ nhất trong
hệ (1), cho ta có:
phân
Đổi biến và sử dụng giả thiết 1, ta có thể viết lại
như sau:
Chú ý rằng:
ơ
ta có
Hệ quả là là một hàm thực xác định khả vi theo Tiếp theo, đạo hàm theo thời gian của có thể biểu diễn như sau:
Tín hiệu điều khiển đầu tiên cho bởi:
với phương pháp xấp xỉ FSE-FLS: ̅ ( , ) được đưa ra để xấp xỉ , và phần dôi ra được tính bằng:
với hằng số và các vector tham số chưa biết thu được từ:
Trang 5với và là các ma trận tương ứng
thu được, và và là các hệ số biến đổi
Viết lại trong (17) và thế (19) vào (17)
ta được:
với
Dựa trên bổ đề 3, Ψ được biểu diễn như sau:
Ta đưa vào thêm biến trạng thái và cho truyền qua bộ lọc
cấp một với thời gian khoảng không đổi để tìm được :
Bước thứ ( = 1, 2, … − 1): ta đặt Từ
phương trình thứ trong hệ (1), ta được:
Ta định nghĩa
và theo hàm tích phân ILF:
Tương tự như phép đạo hàm ở (17) ta cũng có đạo hàm theo
thời gian của có thể biểu diễn như sau:
với
và
Ta đưa vào tín hiệu điều khiển như sau:
với phương pháp xấp xỉ FSE-FLS: ̅ ( , ) được đưa ra để xấp xỉ , và phần dôi ra được tính bằng:
với hằng số và các vector tham số chưa biết thu được từ:
Tương tự như phép đạo hàm ở (22), thế (29) vào (27), ta được:
với
Ta đưa vào thêm biến trạng thái và cho truyền qua bộ lọc cấp một với thời gian khoảng không đổi để tìm
Bước n: Ta đặt Sử dụng phương trình cuối cùng trong hệ (1), ta có:
Ta đặt:
Và tích phân ILF thứ n là:
Sau đó, sử dụng đạo hàm như các bước ở trên, ta lại có đạo hàm theo thời gian của có thể biểu diễn như sau:
Trang 6BẢNG I
TIÊU CHUẨN LỰA CHỌN CÁC THÔNG SỐ ĐIỀU KHIỂN
Các thông số điều khiển Tiêu chuẩn lựa chọn
Kiểm soát tăng
Ma trận tăng tương ứng
Các hệ số biến đổi
Thông số lọc
Dương Xác định dương Dương, rất nhỏ Dương, rất nhỏ
, và
Ta đưa vào tín hiệu vào như sau
với phương pháp xấp xỉ FSE-FLS: ̅ ( , ) được
đưa ra để xấp xỉ , và phần dôi ra được
tính bằng:
với hằng số và các vector tham số chưa biết thu được từ:
Thay (39) và (37) ta có:
tương tự như các bước ở trên, hàm ước lượng sai số được
biểu diễn bởi:
Trong quá trình thiết kế điều khiển trên, có nhiều thông số
được lựa chọn Tương tự như một số tài liệu viết về phương
pháp DSC [4], các tiêu chí của sự lựa chọn các thông số điều
khiển đã được đưa ra trong Bảng I
Nhận xét 4: Trong phương pháp điều khiển đã đưa ra, chúng ta
đã dùng phương pháp thiết kế ILF để đề cập tới hàm ẩn
phụ thuộc thời gian kiểm soát được và sử dụng phương pháp DSC thích nghi để tránh vấn đề bùng nổ một cách phức tạp trong phương pháp thiết kế cuốn chiếu Tuy nhiên, đây không phải là một sự kết hợp đơn giản bởi vì tham số phụ thuộc thời gian xuất hiện trong tích phân ILF, là cần thiết
để đưa ra thêm đạo hàm theo thời gian của ILF Đến chừng mà tác biết, một vài phương pháp đã đưa lại kết quả là kết hợp cả phương pháp tích phân ILF và phương pháp DSC trong phương pháp cuốn chiếu thích nghi trong điều khiển mờ (ABFC) thiết kế trong giai đoạn hiện nay
IV PHÂN TÍCH SỰ ỔN ĐỊNH
Chú ý rằng:
ở đây, ta chỉ ra sai số bộ tín hiệu lọc là:
Theo (24) và (34), có thể giảm bằng cách tăng tham số
dự kiến Chú ý rằng:
với
và
là những hàm liên tục
Những kết quả chính được tóm tắt lại như sau:
Định lý 1: Với các giả thiết 1 và 2, ta khẳng định được rằng
chu trình khép kín thích nghi bao gồm hệ thống máy móc (1), các hàm điều khiển ảo (19) và (29), các bộ lọc (24) và (34), và luật điều khiển (39) với các luật thích nghi (21), (31) và (41) Tiếp theo, với bất kì sơ kiện nào thỏa mãn
với là hằng số dương bất kì, tồn tại , , , , Γ , Γ ,
Trang 7và , = 1, … , , để tất cả các tín hiệu của chu trình khép kín
là SGUUB, và sai số bám nhỏ tùy ý có thể tạo ra bởi việc
điều chỉnh tham số dự kiến một cách thích hợp trong bộ điều
khiển
Chứng minh: Ta xét hàm Lyapunov sau:
Chú ý (44), theo (21) và (22), (31) và (32), (41) và (42), và (45)
và (46), đạo hàm theo thời gian của được cho bởi:
Sử dụng (23), (33) và (43) ta có:
Thế (21), (31), (41) và (50) vào (49), và chú ý rằng:
Ta có:
Với mỗi > 0 và > 0, tập hợp
Π ≔ {( , , … , , , , ̇ , ̈ ): + ⋯ + +
Φ Φ + ⋯ + Φ Φ + + ̇ + ̈ ≤ } và Π : =
(1 2⁄ ) ∑ Γ + (1 2⁄ ) ∑ ≤ ,
= 1, 2, … là tập đóng, lần lượt Π × Π cũng là các tập đóng,
do đó có cực trị trong các Π × Π , và bất đẳng thức
sau có thể dễ dàng được suy ra:
Thế (20), (30), (40) và (50)-(60) vào (51)
với
chọn
và chú ý rằng đạo hàm tương tự như (16), ta có thể dễ dàng đưa
ra bất đẳng thức sau:
tiếp theo, ta có:
với
cho , do đó khi Vì vậy là một tập bất biến, đó là nếu , khi đó với mọi
≥ 0 Vì vậy (59) thỏa mãn với mọi và ≥ 0 Bất
Trang 8đẳng thức (59) dẫn đến:
Theo bổ đề 1, phương trình trên nghĩa là ( ) bị chặn bởi ⁄ , ℓ
vì thế, tất cả các tín hiệu của hệ lặp khép kín, đó là , , và
đều bị chặn Hơn nữa, bằng cách tăng giá trị của 1⁄ và
giảm giá trị của , và , tức là tăng giá
trị của ℓ, và số ⁄ nhỏ tùy ý Vì thế độ lệch chuẩn tương đối ℓ
có thể nhỏ tùy ý Kết thúc phần chứng minh
V Mô phỏng nghiên cứu
Trong mục này, hai ví dụ mô phỏng số được đưa ra để chứng
minh hiệu quả của phương pháp kiểm soát đề xuất Một là
xây dựng hệ thống toán học, và một là hệ vật lý nổi tiếng – hệ
dao động van der Pol
Ví dụ 1:Chúng ta hãy xem xét hệ thống bậc hai sau:
̇ = [0 8 + 0 2 cos( ( ))] + ( )
( )
̇ = [0 7 + 0 3 sin( ( )] + ( ( )) [ ( )]
= (61)
Ở đó những đại lượng phụ thuộc thời gian biết thiên rối loạn
( ) = |sin(0 5 )| à ( ) = |cos | Với những chu kì đã
biết = 2π và = Tín hiệu mẫu này được chọn như
= sin( ) Dễ dàng chỉ ra rằng giả thiết 1 và 2 thỏa mãn với
( ) = ( ) = 1 Trên cơ sở phương pháp điều khiển tiến
gần được phát triển ở phần 3, hàm điều khiển ảo được cho
như sau:
= − ( ) − ( ( , )) (62)
Ở đó:
( ) =1
2+
1 3
= y -
= [ , , ̇ ]
Luật đáp ứng được cho bởi:
Và đạo hàm bậc nhất của đáp ứng lọc được thiết kế như sau:
Khi đó, luật điều khiển u được thiết kế như sau:
Trong đó:
( ) =1
2+
1 3
2+ ( , )
Và luật đáp ứng được thiết kế như sau:
Nó được giả định rằng tồn tại một số luật mờ của ℎ ( , )
và ℎ ( , ), bắt nguồn từ những hàm đã biết của ( , )
và ( , ) (i=1 và 2) Những luật này được cho dưới đây Những luật mờ của ℎ ( , ):
( ) :Nếu và tiến tới -0 9, thì ℎ tiến tới 1 7;
( ) :Nếu và tiến tới -0 6, thì ℎ tiến tới 1 1;
( ) :Nếu và tiến tới -0 3, thì ℎ tiến tới 0 4;
( ) :Nếu và tiến tới 0, thì ℎ tiến tới 0;
( ) :Nếu và tiến tới 0 3, thì ℎ tiến tới -0 1;
( ) :Nếu và tiến tới 0 6, thì ℎ tiến tới -0 05;
( ) :Nếu và tiến tới 0 9, thì ℎ tiến tới -0 2;
Những luật mờ của ℎ ( , ):
( ) :Nếu và tiến tới -0 9, thì ℎ tiến tới 1 4;
( ) :Nếu và tiến tới -0 6, thì ℎ tiến tới 0 8;
( ) :Nếu và tiến tới -0 3, thì ℎ tiến tới 0 4;
( ) :Nếu và tiến tới 0, thì ℎ tiến tới 0;
( ) :Nếu và tiến tới 0 3, thì ℎ tiến tới -0 4;
( ) :Nếu và tiến tới 0 6, thì ℎ tiến tới -0 8;
( ) :Nếu và tiến tới 0 9, thì ℎ tiến tới -0 6;
Trang 9Trong mô phỏng, những trạng thái đầu của hệ thống được thiết
lập như sau (0) = −0 05 và (0) = 0 Chúng ta chọn
những hệ số cấu thành hệ FSE như sau = = 9, và những
giá trị ban đầu của hệ số của hệ FSE được lấy một cách tùy ý
trong khoảng [1] Cho hệ FLS, những hàm thành viên được
chọn như hàm Gaussian
μ ( ) = exp −
Mà đã được xem xét trong phần 2 Khi đó, những phần tử trung
tâm và vector điều chỉnh được thiết lập theo luật mờ ở
trên Tất cả những giá trị ban đầu của những độ rộng được
thiết lập cho [1] Những giá trị ban đầu của và trong
những xấp xỉ FSE-FLS mới ( ( , )) (i=1 và 2)
được tính toán dựa vào những giá trị đầu của tham số ở trên
Ngoài ra, theo tiêu chuẩn đã xem xét trong bảng 1, những hệ
hinh vẽ 1 và 2 Hình vẽ 1(a) và (b) cho thấy hệ ra, tín hiệu mẫu
và lỗi đi kèm Hình vẽ 1(c) và (d) cho thấy đường cong của
ℎ ( , ), xấp xỉ của chúng ( ( , )), và những
xấp xỉ lỗi, từ đó chúng ta có thể thấy rằng vì chúng ta sử dụng
đầy đủ một số luật mờ, những lỗi và những xấp xỉ lỗi đều nhỏ,
ngay cả trong giai đoạn ban đầu Điều này chỉ ra rằng hệ thống
vòng kín có đặc tính thực hiện tạm thời tốt Ngoài ra, tín hiệu
vòng kín khác uốn cong, nó bao hàm sự ước lượng ‖ ‖, ‖ ‖,
i=1, 2 bộ lọc và hàm điều khiển u, được thể hiện trên hình
vẽ 2, từ đó có thể thấy rằng nhứng tín hiệu chu kì đóng là đều
bị chặn
Để thấy được sự khác biệt giữa phương pháp điều khiển của chúng tôi và phương pháp hiện thời, chúng tôi áp dụng ý tưởng ABFC trong mục [8]-[19] vào hệ thống (61), ở đó FSE được kết hợp với FLS, và chỉ duy nhất FLS được sử dụng để xấp xỉ
hệ phương trình chưa biết Chúng ta quay trở lại hệ FSE-FLS-trên cơ sở xấp xỉ trong (62)-(66) bởi duy nhất FLS Để khách quan, trong mô phỏng đó, chúng tôi vẫn sử dụng phương pháp DSC và giữ nguyên các tham số trước đó Kết quả mô phỏng được thể hiện trên hình vẽ 3 Có thể thấy rằng do sự tồn tại của nhiễu chu kì phụ thuộc thời gian, mà lỗi kéo theo cuối và lỗi xấp xỉ cuối rõ ràng là lớn hơn những lỗi tương tự trong hình vẽ
1
Từ đó nó còn xác nhận khả năng của hệ FSE-FLS-dựa vào xấp
xỉ để bù đắp cho những hàm bị nhiễu loạn chưa biết bởi những nhiễu chưa biết và nhiễu chu kì phụ thuộc thời gian
Trong công việc [30] trước, chúng tôi đã đề xuất hệ FSE-NN-dựa vào xấp xỉ, bao gồm hệ FSE-hàm trọng tâm mạng noron-dựa vào xấp xỉ và hệ FSE – mạng noron nhiều tầng (MNN)-dựa vào xấp xỉ Bây giờ chúng ta so sánh những hệ xấp xỉ đó Không mất tính tổng quát, chúng ta so sánh hệ FSE-FLS – dựa vào xấp xỉ trong (62)-(66) với hệ FSE-RBFNN – dựa vào xấp
xỉ Trong mô phỏng, bởi vì NNs không thể sử dụng bất kì một kiến thức tiền nghiệm nào từ hệ (61), những giá trị ban đầu của những tham số chưa biết của hệ FSE-RBFNN-dựa vào xấp xỉ được lấy một cách ngẫu nhiên trong khoảng [1] Để so sánh khách quan, những tham số điều khiển khác và những điều kiện ban đầu được giữ nguyên như trước Kết quả mô phỏng được thể hiện trên hình vẽ 4 Có thể nhận thấy rằng mặc dù những lỗi kèm theo và lỗi xấp xỉ vẫn hội tụ về một vùng xung quanh vùng gốc, việc thực hiện nhất thời của hệ thống vòng chưa phải là lý tưởng trong giai đoạn đầu Bởi vì không có thông tin phù hợp để cải tạo giá trị ban đầu của những tham số
Trang 10được ước lượng, những tham số được ước lượng này là khá xa
so với giá trị tối ưu, mà chắc chắn sẽ làm xấu đi việc thực hiện
tức thời trong giai đoạn đầu
Cuối cùng, để thấy được ứng dụng của phương pháp điều khiển
đề xuất, ta xét thêm một hệ thống vật lý có nhiễu phụ thuộc
thời gian, hệ dao động van der Pol, được khảo sát bởi phương
pháp trong muc [22], tại đó những nhiễu được giả sử như chưa
biết, nhưng hệ phương trình thì đã biết Tuy nhiên, dưới đây,
chúng ta giả sử rằng nhiễu tuần hoàn và hệ phương trình đều
chưa biết
Ví dụ 2: Chúng ta hãy xem xét hệ dao động van der Pol sau đây:
Trong đó F(t) = qcos( t) là một tín hiệu tuần hoàn đặc biệt Như cho trong mục [22], khi tham số hệ thống được chọn như sau = 1, a = 0 7, b = 0 8, p = 0, và q = 0 74, hệ (67) không
có kiểm soát sẽ ngay lập tức nhiễu loạn Rõ ràng, chu kì của nhiễu F(t) phụ thuộc thời gian là 2π, nhưng hàm , ө( ) = −1 thì không tuần hoàn Do đó, chúng ta phải thay đổi những hàm điều khiển ảo như dưới đây:
Nhưng luật điều khiển, luật tham số đáp ứng, và bộ lọc vẫn giữ nguyên như trước Tương tự, chúng ta giả sử tồn tại luật mờ dưới đây để bắt đầu tính toán các tham số
Những luật mờ của ℎ ( , ):
( ) :Nếu và tiến tới -0 9, thì ℎ tiến tới 0 7;
( ) : Nếu và tiến tới -0 6, thì ℎ tiến tới 0 5;
( ) :Nếu và tiến tới -0 3, thì ℎ tiến tới 0 3;
( ) :Nếu và tiến tới 0, thì ℎ tiến tới 0;
( ) :Nếu và tiến tới 0 3, thì ℎ tiến tới -0 3;
( ) :Nếu và tiến tới 0 6, thì ℎ tiến tới -0 5;
( ) :Nếu và tiến tới 0 9, thì ℎ tiến tới -0 7;
Những luật mờ của ℎ ( , ):
( ) :Nếu và tiến tới -0 9, thì ℎ tiến tới 0 05;
( ) :Nếu và tiến tới -0 6, thì ℎ tiến tới 0 06;
( ) :Nếu và tiến tới -0 3, thì ℎ tiến tới 0 06;
( ) :Nếu và tiến tới 0, thì ℎ tiến tới 0 07;
( ) :Nếu và tiến tới 0 3, thì ℎ tiến tới 0 07;
( ) :Nếu và tiến tới 0 6, thì ℎ tiến tới 0 08;
( ) :Nếu và tiến tới 0 9, thì ℎ tiến tới -0 08;