Sự gây hại và đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu đục lá Aproaerema modicella Deventer trên cây lạc Arachis hypogaea L.. Theo Kenis và Cugala 2006, ngoài cây lạc, loài này còn gây hại
Trang 1Sự gây hại và đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu đục lá Aproaerema modicella
Deventer trên cây lạc Arachis hypogaea L
Infestation and bio - ecological characteristics of leafminer Aproaerema modicella
Deventer on goundnut Arachis hypogaea L
Nguyễn Thị Thu Cúc, Nguyễn Trọng
Nhâm, Nguyễn Thị Tường Vân
Đại Học Cần Thơ
Abstract
Aproaerema modicella (Lepidoptera: Gelechiidae) is considered as one of the
national pests on groundnut in India and recently it has invaded Africa Even though its presence in Vietnam has not yet been mentioned, a study was carried out from 2004 to 2005 to collect more information about the existence, behavior
and development of this pest and the results showed that: A.modicella is quite
common on groundnut in Tra Vinh province and Cần Thơ city Its infestation changes from one field to another, the highest infestation can reach to 20,4 insects/m2 In the condition of 28-300C and 75 - 85% RH, the life cycle of
A.modicella is about 22,5 days Each female can laid an average of 155,7 eggs
Adult can live 5-7 days In the natural condition, A.modicella is parasitized by 5
species of parasitoids; among them, braconid is the most prevalent and its
parasitazion on A.modicella can go up to 36.8 % This is the first time A.modicella is recorded on groundnut in Vietnam
Key words: leafminer, Aproaerema modicella, goundnut, Vietnam, infestation, biology, natural enemies, parasitoids, Arachis hypogaea L
I ĐặT VấN Đề
(Lepidoptera: Gelechiidae) là loài sâu
hại quan trọng nhất trên cây lạc tại ấn
Độ (Amin,1983), Nam và Đông Nam
Châu á (Wightman et al., 1990) Theo
Kenis và Cugala (2006), ngoài cây
lạc, loài này còn gây hại trên đậu
tương (đậu nành) và một số cây họ đậu
khác Gần đây, loài này cũng đã xâm
nhập và bộc phát số lượng tại Phi
Châu ở mật số thấp, loài này có thể
làm ảnh hưởng đến năng suất đậu Hoạt động của ấu trùng có thể ăn phá hủy hoại 34,8 cm2 mô lá, tương đương với 6-10 lá đơn bị hủy hoại (Islam và ctv,1983) Một ấu trùng có thể ăn khoảng 179,3 mm2 diện tích lá (Shanower, 1989) Tại Việt Nam, các thông tin về dịch hại trên cây lạc của nhiều tác giả (Nguyễn Văn Huỳnh và
Lê Thị Sen, 2000; Lê Văn Ninh và Nguyễn Thị Kim Oanh, 2002; Viện Bảo vệ thực vật, 2003; Nguyễn Đức
Trang 2Khiêm, 2006) chưa thấy đề cập đến
loài này
Khi điều tra về dịch hại trên cây
lạc trong những năm 2002-2003, đã
ghi nhận được loài này trên nhiều địa
bàn trồng lạc thuộc vùng ĐBSCL
Bài viết này cung cấp một số kết
quả nghiên cứu trong 2 năm
(2004-2005) về mức độ gây hại, các đặc
điểm sinh học, sinh thái của sâu đục
(Lepidoptera: Gelechiidae) trên cây
lạc Arachis hypogaea L
II PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
Khảo sát trên 30 ruộng, 10 ruộng tại
tp Cần Thơ và 20 ruộng tại huyện Cầu
Ngang (tỉnh Trà Vinh - một trong 4
tỉnh có diện tích trồng cây lạc lớn nhất
vùng ĐBSCL) Ruộng điều tra có diện
tích ít nhất là 500m2, ruộng đã được
canh tác nhiều năm trên địa bàn khảo
sát, các ruộng này đều được trồng luân
canh với lúa hoặc một loại cây màu
khác Trên ruộng khảo sát, điều tra
định kỳ 10 - 15 ngày/lần trong suốt
mùa vụ Điều tra, ghi nhận mật số sâu
theo 5 điểm chéo gốc, mỗi điểm là
1m2 Trong quá trình điều tra, ghi nhận
triệu chứng và cách gây hại ở điều
kiện ngoài đồng, sau đó thu mẫu sâu
(ấu trùng, nhộng) và những lá bị hại
với sự hiện diện của sâu đem về quan
sát và nuôi trong phòng thí nghiệm
Công tác nuôi sâu được tiến hành
trong điều kiện phòng thí nghiệm
(nhiệt độ: 27- 30oC; ẩm độ: 75 - 85%)
Thức ăn của ấu trùng là lá đậu được
thay mỗi ngày Cho thành trùng bắt cặp và đẻ trứng trong lồng lưới ấu trùng được nuôi trong hộp nhựa có bông gòn thẩm nước để giữ ẩm và lót giấy thấm dưới đáy hộp để hút ẩm III KếT QủA Và THảO LUậN
3.1 Sự hiện diện và gây hại của
Aproaerema modicella
Kết qủa khảo sát ghi nhận, A
modicella hiện diện phổ biến trên các
ruộng khảo sát ở tỉnh Trà Vinh và TP Cần Thơ, với tỷ lệ hiện diện trên các ruộng điều tra là 83,3% Tuy nhiên sự gây hại thay đổi tùy theo ruộng và địa bàn khảo sát Kết quả khảo sát cho thấy sâu hiện diện và gây hại cao trên các ruộng lạc tại Trà Nóc (Cần Thơ) với tỷ lệ cây bị hại có lúc lên đến 40% trên ruộng quan sát Trong khi đó, tại Cồn Khương, Nông trại ĐHCT (tp Cần Thơ) và huyện Cầu Ngang (tỉnh Trà Vinh), loài này xuất hiện rải rác, gây hại chưa đáng kể Trong qúa trình điều tra, cũng phát hiện có sự gây hại
của A modicella trên đậu nành Trên
đậu nành, loài này xuất hiện ở giai đoạn cây bắt đầu ra hoa và gây hại nặng ở giai đoạn 35 – 40 ngày sau gieo, mật số (mật độ) trung bình biến động từ 1,6 đến 12,7 con/m2
3.2 Một số đặc điểm hình thái của
A modicella
Thành trùng có cánh trước có màu nâu xám, phần nữa cuối cánh sậm màu hơn phần nữa trên cánh, đầu cuối cánh
có một đốm trắng sáng cách đuôi 1,3
mm Thành trùng cái có kích thước
Trang 3thân là 3,1 0,07 mm và sải cánh rộng
10,7 0,2 mm, thành trùng đực có kích
thước thân 2,7 0,1 mm và sải cánh
rộng 9,3 0,2 mm Trứng hình bầu
dục, có kích thước 0,23 0,1 mm
Trứng mới đẻ có màu vàng nhạt đến
khi sắp nở có màu vàng sậm ấu trùng
mới nở có màu trắng vàng nhạt, đầu
đen Kích thước thân khi mới nở là:
0,6 0,12 mm Vào tuổi 3, ấu trùng có
kích thước 2,5 – 0,4 mm, cơ thể màu
vàng xanh, xuất hiện nhiều chấm đen
và nhiều lông tơ ở tuổi 3, có thể phân
biệt con đực và con cái Con đực có
đốm màu nâu đỏ ở giữa đốt bụng thứ 7
và đốt bụng thứ 8, con cái thì không có
đốm nâu đỏ ấu trùng tuổi 5 có màu
xanh đậm, nhiều lông tơ, các chấm đen
hiện rất rõ, đầu đen Nhộng mới hình
thành nằm bên trong lớp màng mỏng
trong lá xếp và có màu vàng nhạt đến
khi sắp vũ hóa, nhộng có màu nâu
đậm
3.3 Đặc điểm sinh học và gây hại
của A modicella
Trong điều kiện phòng thí nghiệm,
bướm hoạt động bắt cặp và đẻ trứng
vào ban đêm Bướm cái đẻ sau 2 ngày
vũ hóa, đẻ liên tục 2 - 4 ngày và chết
vào 1-2 ngày sau khi đẻ xong Thời
gian sống của bướm cái từ 5 – 6 ngày
và thời gian sống của bướm đực từ 7 –
9 ngày Trứng được đẻ rải rác ở mặt
trên và cả mặt dưới của lá, trên những
lông tơ và cả cuống lá Thời gian trứng
phát dục từ 3 đến 4 ngày ấu trùng tuổi
1 khá linh động, khoảng 1 giờ sau khi
nở, ấu trùng chui vào trong mô lá, gây hại trong phần mô, giữa hai lớp biểu
bì, làm lá có những đường đục nhỏ, bất định, những đường đục này về sau chuyển sang màu nâu, khô trên mặt lá
và thải phân làm bít miệng đường đục Trên một lá chét có từ 1 đến 4 đường hầm Vào tuổi 3, ấu trùng bắt đầu chui ra khỏi đường đục bằng cách cắn rách lớp biểu bì nâu, khô của lá Sâu nhả tơ làm tổ kết 2 mép lá hoặc một phần lá hoặc 2 lá gần kề, nằm bên trong ăn phần mô dọc theo lớp tơ kết
lá, đôi khi ăn luồn giữa 2 lớp biều bì bên ngoài ổ lá, đặc biệt chúng không
ăn phần mô giữa ổ lá vì đây là nơi trú
ẩn Mỗi ổ lá chỉ có một ấu trùng, ấu trùng thích tập trung gây hại ở lá non
và kết 2 mép lá hay phân nữa lá hay 2
lá lại với nhau Khi mật số cao, ấu trùng có thể làm cho lá đậu phộng bị rụi hoàn toàn Vào tuổi cuối, ấu trùng
ăn phá rất mạnh Trước khi hóa nhộng,
ấu trùng có màu trắng đục và nhả tơ tạo một lớp màng mỏng bên trong ổ lá Những ổ lá được kết lỏng lẻo, phần lớn đều bị kí sinh Thời gian nhộng kéo dài 3 đến 4 ngày
Bảng 1 Thời gian vòng đời của Aproaerema modicella ở điều kiện
phòng thí nghiệm (t = 28 – 300C, ẩm độ = 75 - 85%)
Số cá thể quan sát
Trứn
g (ngà y)
ấu trùn
g (ngà
Nhộ
ng (ngà y)
Thành trùng-trứng (ngày)
Thời gian vòng đời
Trang 4y) (ngày)
Trun
g
bình
3,5 13,8 4,4 2,4 22,2
0,5
Thành trùng sâu đục lá A
modicella có vòng đời tương đối
ngắn, trung bình 22,2 ngày, giai đoạn
ấu trùng có 5 tuổi, kéo dài trung bình
khoảng 13,8 ngày A modicella có
khả năng đẻ trứng khá cao, trung bình 155,7/cá thể (bảng 2) Trong điều kiện phòng thí nghiệm, tỷ lệ trứng nở rất cao, trung bình khoảng 89,2% Tuổi thọ của thành trùng biến động trong khoảng 5-7 ngày
Bảng 2 Khả năng đẻ trứng của thành trùng A modicella
ở điều kiện phòng thí nghiệm (t = 28 – 300C, ẩm độ = 75 – 85%)
Cá thể
3.4 Biến động mật số của sâu
đục lá
Kết quả khảo sát trên 3 ruộng đậu
lạc tại Trà Nóc ghi nhận: Mật số sâu
tăng dần theo thời gian gieo sạ, ruộng
có thời gian gieo sạ muộn (ruộng III)
có mật số sâu cao nhất, mật số cao
nhất lên đến 20,4 con/m2 Ruộng gieo
sạ sớm (ruộng I) mật số trung bình của
3 lần điều tra rất thấp 2,3 con/m2, sự
gây hại của sâu gần như không đáng
kể, sâu chỉ hiện diện vào cuối vụ
Bảng 3 Biến động mật số A
modicella
trên cây lạc tại Trà Nóc- TP.Cần Thơ
Ruộn
g
Thời
gian
Giai đoạn sinh trưởng
Mật số (con/m2)
A
modicell
(NSKG )
a
15/10/0
4
25/10/0
4
23/11/0
4
Trung bình 2,3
22/12/0
4
Trung bình 5,7
Trang 5Trung bình 9,4
Ghi chú: NSKG: ngày sau khi gieo
Hình 1 Trứng và ấu trùng của
A.modicella (A; trứng; B: ấu trùng)
A
Hình 2 Thành trùng A modicella
B
Hình 3 Triệu chứng gây hại
của A modicella
3.5 Thiên địch của sâu đục lá
Thành phần ong ký sinh trên sâu
A modicellal khá phong phú, có đến
5 loài ong ký sinh đã được phát hiện, bao gồm 3 loài ong Chalcidid, 1 loài Ichneumonidae và 1 loài Braconidae Trong 5 loài này thì phổ biến nhất là loài ong họ Braconidae, tỷ lệ sâu kí sinh bởi loài ong này khoảng 36,8 % trên ruộng khảo sát Theo Kenis và Cugala (2006), tại châu á, có trên 30 loài ký sinh chính đã được phát hiện trên sâu đục lá, đỉnh ký sinh có thể đạt đến là từ 53-91% Hiện nay rất nhiều công trình nghiên cứu về thiên
địch của A modicella đang được tập trung nghiên cứu tại ấn Độ, nơi bị A
modicella gây hại nặng nề
IV KếT LUậN
Đã ghi nhận sự có mặt và sự gây hại
của A modicella trên cây lạc tại đồng
bằng sông Cửu Long Mặc dù sự gây hại chưa đồng đều nhưng tỷ lệ hiện diện của loài này đạt 83,3% ruộng khảo sát và có những ruộng bị hại nặng (với tỷ lệ cây bị hại đạt đến 40% trên ruộng, mật số trung bình có thể đạt đến 20,6 con/m2) Điều này cho thấy loài này có tiềm năng gây hại mạnh tại ĐBSCL Hiện nay trên cây lạc, để phòng trừ côn trùng gây hại, nông dân chủ yếu sử dụng chủ yếu là thuốc hóa học, trên nhiều vùng, nông dân sử dụng thuốc định kỳ hoặc khi thấy có sự hiện diện của sâu Đây là điều kiện quan trọng có thể tạo cho sâu
A modicella bộc phát Kết qủa này
cho thấy cần phải nghiên cứu, xây
Trang 6dựng mô hình IPM trên cây lạc để
giúp nông dân ngăn chận sự bộc phát
của A.modicella trên các ruộng lạc tại
ĐBSCL nói riêng và Việt Nam nói
chung
Tài liệu tham khảo
Amin, P.W 1983 Major field
insect pest of groundnut in India ang
associated crop losses India Journal
of Entomology, 2:337-344
Islam, W., K.N Ahmed, A Nargis,
abundance and extent of damage
caused by insect pests of groundnut
(Arachis hypogaea L.) Malaysian
Agricultural Journal, 54(1): 18-24
Kenis M and Domingos Cugala
2006 Prospects for the biological
control of the groundnut leafminer,
Aproaerema modicella, in Africa
Veterinary Science , Nutrition and
Natural Resources 2006 1, No 031
Lê Văn Ninh và Nguyễn Thị Kim
Oanh (2006) Thành phần sâu hại lạc,
đặc điểm sinh học, sinh thái của loài
rệp muội đen (Aphis craccivora
Koch) hại lạc vụ Xuân hè 2002 tại
http://www.ppd.gov.vn/tapsanbvtv/2
007/So%202/bái.htm
Nguyễn Đức Khiêm 2006 Giáo
trình côn trùng Nông Nghiệp Nhà xuất bản Nông Nghiệp, t 179-184 Nguyễn văn Huỳnh và Lê Thị Sen
2000 Giáo trình côn trùng chuyên khoa Khoa nông nghiệp và Sinh học ứng Dụng - Đại Học Cần Thơ
Shanower, T.G., J.A Wightman, A.P Gutierrez 1993 Biology and control of the groundnut leafminer,
(Lepidoptera: Gelechiidae) Crop Protection, 12(1):3- 10
Natural Enemies, and Impact of the
Groundnut Leafminer, Aproaerema
modicella (Deventer) (Lepidoptera:
India PhD Dissertation Berkeley USA: University of California Viện Bảo Vệ Thực Vật 2003 Atlat côn trùng cây trồng nông nghiệp ở Việt Nam Bộ nông nghiệp
và phát triển nông thôn Nhà xuất bản nông nghiệp
Wightman, J.A., K.M Dick, G.V Ranga Rao, T.G Shanower, C.S Gold 1990 Pests of Groundnut in the semi-arid tropics In: Singh SR,
ed Insect Pests of Food Legumes
New York, USA: John Wiley and Son,
243-322