Số liệu kiểu hình của quần thể F2 được thu thập bằng cách đánh giá mức độ nhiễm bệnh và mức độ nhiễm bệnh tích luỹ theo thời gian chỉ số AUDPC của 12 cây F3 phát triển từ hạt giống thu t
Trang 1Xác định macker Satt 431 liên kết với gen kháng bệnh rỉ sắt (Phakopsora pachyrhizi
Sydow) ở giống đậu tương ĐT2000
Identification of SSR macker Satt 431 associated with rust resistance (Phakopsora
pachyrhizi Sydow) in cultivar DT 2000
Nguyễn Thị Bình 1 , Nguyễn Thị Thanh
Tuyết 1 , Trần Thị Trường 2 Phạm Tùng Anh 3 , Glen Lee Hartman 3
Abtract
The soybean cultivar DT 2000 was identified to have a consistent and high resistance level to soybean rust in field evaluations in Vietnam In order to utilize this resistance effectively for the marker-assisted selection (MAS) and molecular breeding, a mapping QTL project was conducted on a F3 population developed from the cross DT12 by DT 2000, and SSR marker Satt 431 on linkage group J had an association with the resistance in the form of low area under disease progress curve (AUPDC) and disease severity values The finding
of the marker Satt 431 is significant and useful for MAS in breeding programs to get rust resistant cultivars in Vietnam
I Đặt vấn đề Cây đậu tương là cây trồng có giá trị
quan trọng thứ hai trong các cây họ
đậu Tuy nhiên sản lượng vẫn còn thấp
so với nhu cầu tiêu dùng Một trong
những yếu tố hạn chế năng suất là sâu
bệnh hại trong đó có bệnh gỉ sắt Bệnh
gỉ sắt hại đậu tương do nấm
Phakopsora pachyrhizi Sydow, thuộc
họ Melampsoracea, bộ Uredinales, lớp
Urediniomycetes gây ra Đây là loài ký
sinh chuyên tính (Green 1984) Nấm gỉ
sắt đậu tương đầu tiên được phát hiện ở Nhật bản năm 1902 Bệnh lan rộng, phổ biến ở hầu hết các vùng trồng đậu trên thế giới ở đông bán cầu bệnh có thể làm giảm năng suất trung bình từ
10 – 30 %, có vùng năng suất giảm trên 50% (Bromfield 1980; Green 1984) ở Việt nam có những vụ bị hại nặng mất mùa đến 81% (Trung tâm đậu đỗ Định Trường 1985)
Nghiên cứu tính kháng bệnh gỉ sắt của tập đoàn đậu tương địa phương và nhập nội, chúng tôi đã xác định được một số giống kháng bệnh, trong đó có giống đậu tương ĐT 2000 Đây là một giống có tính kháng bền vững qua
1 Viện Bảo vệ thực vật
2 Viện cây lương thực cây thực phẩm
3 Trường Đại học tổng hợp
Trang 2Illinois-nhiều vụ đánh giá Với sự phát triển
mạnh trong một vài năm gần đây về
sinh học phân tử, việc xác định các
marker phân tử có ích phục vụ cho
chọn giống kháng bệnh là con đường
đi ngắn , có hiệu quả cho việc chọn tạo
giống mới kháng bệnh năng suất cao
Vì vậy cần lập bản đồ gen kháng của
những giống kháng bệnh điển hình
như giống ĐT 2000, trên cơ sở tìm
kiếm các chỉ thị phân tử có liên kết
chặt với gen kháng Phương pháp
macker phân tử giúp chọn giống đậu
tương kháng bệnh và có tiềm năng
năng suất cao nhanh và hiệu quả, đáp
ứng nhu cầu cấp bách của thực tiễn sản
xuất hiện nay
II Vật liệu
và phương pháp nghiên cứu
1.Vật liệu nghiên cứu
Quần thể F2, F3 của cặp lai ĐT12
và ĐT2000
ADN cuả 154 cây thế hệ F2
Các hoá chất để chiết tách ADN:
Tris - HCL, EDTA, NaCL, Ethanol
384 macker SSR: Các marker này
được chọn từ 20 nhóm liên kết và cách
nhau một khoảng cách là 20cM
Các hoá chất và thiết bị phục vụ
nghiên cứu macker đa hình và thu thập
số liệu kiểu gen: máy chạy phản ứng
PCR, máy soi gel bằng tia UV, hoá
chất : agarose, ethidium bromide, Tag
polymerase, dNTPs, PCR buffer,
peptone
2 Phương pháp nghiên cứu
Tạo quần thể lai phương pháp lai hữu
tính
Tách chiết ADN từ mẫu lá non thu thập trên cây của giống bố mẹ ĐT 12 và
ĐT 2000, và ADN của các cây F2 theo phương pháp CTAB (Keim et al, 1988) Xác định các marker đa hình và thu thập số liệu kiểu gen bằng phương pháp công nghệ sinh học và được tiến hành tại phòng thí nghiệm bệnh cây của khoa Nông học trường Đại học tổng hợp Illinois-Hoa kỳ
Số liệu kiểu hình của quần thể F2 được thu thập bằng cách đánh giá mức
độ nhiễm bệnh và mức độ nhiễm bệnh tích luỹ theo thời gian (chỉ số AUDPC) của 12 cây F3 phát triển từ hạt giống thu thập trên cây F2 tương ứng Thí nghiệm được thực hiện ở vườn thực nghiệm của viện Bảo vệ thực vật trong vụ Đông năm 2006 Dùng phần mềm SAS để kiểm tra tính phân bố chuẩn của số liệu về chỉ
số bệnh tích luỹ theo thời gian (AUDPC) và mức độ nhiễm bệnh trung bình của các dòng trong quần thể lai F3 Sử dụng phần mềm MapQTL
để tìm marker có liên kết chặt với gen kháng bệnh sử dụng số liệu kiểu gen
và kiểu hình của quần thể F2
III kết quả nghiên cứu
1 Kết quả tạo các quần thể lai
Dựa vào kết quả đánh giá tính kháng bệnh gỉ sắt của tập đoàn đậu tương địa phương và nhập nội đã tiến hành từ năm 2000-2005, chúng tôi đã tiến hành lai tạo được 3 tổ hợp lai giữa giống ĐT 2000 và 3 giống nhiễm bệnh
Trang 3nặng:
ĐT 12 x ĐT2000
V74 x ĐT2000
Williams x ĐT2000
2 Kết quả xác định các marker đa
hình
Chiết tách ADN của 4 giống cây bố
mẹ: ĐT12, V74, Williams 82, ĐT2000
và hai giống đối chứng là PI 230970
và PI 437323, với hàm lượng 5000
g/l/cá thể, tiến hành thí nghiệm cho bắt cặp lần lượt 384 marker SSR với ADN của các giống bố mẹ để chọn macker SSR đa hình Marker nào cho kết quả băng ADN của hai giống bố
mẹ lệch nhau thì macker đó là đa hình, còn macker nào cho kết quả băng ADN của giống bố mẹ chạy ngang bằng nhau thì đó là marker không đa hình (hình 1)
Hình 1 Marker SSR gây đa hình trên ADN của các bố mẹ
Chú thích: Băng ADN của 6 giống đậu tương bố mẹ thu được sau phản ứng PCR với các marker SSR Đối với mỗi marker, sáu mẫu ADN được sắp xếp theo trình tự như sau: V 74, ĐT 2000, ĐT 12, Williams 82, PI 230 970, và PI 437323
Hàng 1 (trên): Sử dụng 8 marker: trong đó marker 1(Satt 306), 2 (Satt 303), 3
(Satt 319), 4 (Satt 321) cho kết quả không gây đa hình đối với ADN của bố mẹ, các marker còn lại: 5 (Sat 384), 6 (Sat 385), 7 (Satt 165), và 8 (Satt 276) cho kết quả gây đa hình đối với ADN của bố mẹ
Hàng 2 (dưới): Marker 6 (Satt 330) cho kết quả không gây đa hình đối với ADN của bố mẹ Các marker còn lại gây đa hình: 1 (Satt 300), 2 (Sat 217), 3 (Sat 271), 4 (Sat 294), 5 (Sat 406), 7 (Sat 409), và 8 (Satt 455)
Trang 4Kết quả chọn được 140 macker đa
hình với ADN của các bố mẹ nói trên và
85 macker đa hình với ADN của cặp lai
ĐT12 và ĐT2000 thuộc 19 nhóm liên
kết (bảng 1) Trong đó nhiều nhất là các macker ở nhóm D1b, ít nhất là nhóm A2 và nhóm K
Bảng 1 Các marker đa hình đối với cặp lai ĐT12 x ĐT2000 (2006 – 2007)
Nhóm
Nhóm
Nhóm
Sat 674
Sat 172
Sat 036
Trang 5Nhóm
Nhóm
Nhóm
3 Kết quả bước đầu tìm các
marker có liên kết chặt với gen
kháng bệnh gỉ sắt ở giống đậu tương
ĐT2000
* Thu thập số liệu kiểu gen
Dựa vào kết quả của phần 2 , 85
marker đa hình sẽ được tiến hành phản
ứng PCR với 154 mẫu ADN của các cá
thể trong 1 quần thể F2 thuộc tổ hợp lai
ĐT12 x ĐT2000 Các băng ADN đa
hình ở các cá thể này sẽ được ghi lại
thành số liệu kiểu gen:
- a là ký hiệu đối với cá thể có băng
ADN cao hơn
ADN thấp hơn
băng ADN cao và băng ADN thấp
* Thu thập số liệu kiểu hình
Chỉ số nhiễm bệnh ở giai đoạn sinh
trưởng R6 và chỉ số bệnh tích luỹ theo
thời gian AUDPC của của mỗi dòng
(12 cá thể) trong quần thể F3 là số liệu
kiểu hình đại diện cho mỗi cá thể trong
quần thể F2 Dùng phần mềm SAS để
kiểm tra tính phân bố chuẩn của số
liệu kiểu hình, kết quả được thể hiện
trên hình 2 và hình 3 cho thấy mức độ
nhiễm bệnh (severity) và chỉ số bệnh
tích luỹ theo thời gian (AUDPC) có sự
dao động lớn Mức độ nhiễm bệnh và
chỉ số AUDPC đều có phân bố chuẩn,
như vậy số liệu của 2 tính trạng này có
sự phân bố bình thường (normal distribution) Điều này cũng cho thấy
cả mức độ nhiễm bệnh và chỉ số AUDPC đều là tính trạng số lượng (qualitative trait) do nhiều QTL quy định Mức độ nhiễm bệnh của quần thể F3 dao động trong khoảng 20 đến
75, chỉ số bệnh trung bình của các dòng là 38 Chỉ số AUDPC trung bình của các dòng là 492.8 và dao động trong khoảng 255 đến 1109
Hình 2 Sự phân bố tính trạng chỉ số
bệnh tích luỹ theo thời gian của các dòng lai của quần thể F3 (ĐT 12 x ĐT
2000)
Kết quả phân tích số liệu kiểu gen
và kiểu hình bằng phần mềm MapQTL
để tìm marker liên kết với gen kháng
0 5 10 15 20 25
0 0
Area Under Disease Progress Curve (AUDPC)
Chỉ số bệnh tích luỹ theo thời gian(AUDPC ) Tần
suất
Trang 6ở giống đậu tương ĐT2000 cho thấy
đối với tính trạng kiểu hình của vết
bệnh TAN/RB (kháng / nhiễm),
marker Satt 619 thuộc nhóm liên kết
A1 đã có chỉ số LOD (chỉ số biểu hiện
mức độ liên kết có ý nghĩa đối với
gene được nghiên cứu) bằng 2.4 Vì
chỉ số LOD phải lớn hơn 2.5 mới cho
thấy marker liên kết có ý nghĩa với
gene quy định tính trạng nghiên cứu
Tuy nhiên, chúng tôi vẫn nêu kết quả
này vì 2.4 là tương đối cao Đây sẽ là
tiền đề cho nghiên cứu trong thời gian
tới, tiếp tục tìm kiếm ở các vùng lân
cận nằm quanh marker này để tìm ra
marker SSR cho chỉ số LOD cao hơn,
hoặc dùng các marker khác hiện đại và
chính xác hơn như SNP, nhằm tìm ra
marker liên kết với gen quy định tính trạng kiểu vết bệnh
Hình 3 Sự phân bố tính trạng mức độ
nhiễm bệnh trung bình của các dòng lai F3 (ĐT 12 x ĐT 2000)
Bảng 3 Kết quả tìm các macker có liên kết chặt với gen
kháng bệnh gỉ sắt ở giống đậu tương ĐT2000
Mức độ đa dạng của các cá thể trong quần thể % Phản ứng với bệnh (RB,
Chỉ số bệnh tích luỹ theo
được phát hiện là có liên kết với (một
hoặc nhiều) gene quy định hai tính
trạng là mức độ nhiễm bệnh và
AUDPC với chỉ số LOD lần lượt là
tính kháng bệnh gỉ sắt ở giống đậu
tương ĐT2000 Như vậy bước đầu có
thể kết luận gen kháng bệnh gỉ sắt ở
giống đậu tương ĐT2000 thuộc nhóm
liên kết J
Trên thế giới, các nhà khoa học đã
xác định được vị trí của gene kháng
bệnh Rpp1, Rpp2 và Rpp4 Rpp1 nằm
ở nhóm liên kết G và có liên kết chặt với marker Sct_187 và cách marker này 0.8 cM (Hyten et al 2007) Rpp2 cũng đã xác định ở nhóm liên kết J (tài liệu đang xuất bản) Gene liên kết với tính trạng mức độ nhiễm bệnh và chỉ
số AUDPC của ĐT 2000 mà chúng tôi tìm được liên hệ chặt với marker Satt431 cũng ở nhóm liên kết J Tuy nhiên, do khoảng cách giữa hai marker lớn hơn 20 cM nên đây có thể
là hai gene (QTL) khác nhau
IV kết luận và đề nghị
Tần suất
Chỉ số nhiễm bệnh trung bình
Trang 71 Kết luận
1.1 Đã tạo được 24 quần thể lai F2
và 2 quần thể F3 của 3 tổ hợp lai giữa
giống làm mẹ là giống đậu tương
ĐT12, Williams82, V74 nhiễm bệnh
gỉ sắt nặng và giống đậu tương
ĐT2000 kháng bệnh làm vật liệu
nghiên cứu
1.2 Đã tuyển chọn được 85 macker
SSR gây đa hình ở ADN của giống bố
mẹ để nghiên cứu thu thập số liệu kiểu
gen ở các cá thể F2
1.3 Xác định được gen kháng bệnh
gỉ sắt ở giống đậu tương ĐT 2000 nằm
ở nhóm liên kết J vì marker Satt 431 có
liên kết chặt với gen kháng thuộc nhóm
liên kết J
2 Đề nghị
Cần nghiên cứu tìm thêm các
macker khác có liên kết với gen kháng
bệnh ở giống đậu tương ĐT2000 để phục vụ chọn giống kháng bệnh
Tài liệu tham khảo
1 Trung tâm Đậu đỗ Định Tường
1983 Bệnh gỉ sắt đậu tương(Phakopsora
pachyrhizi Sydow) Báo cáo khoa học
năm 1983
2 Frederik, R., Synder,C., Peterson,
G., and Bonde, M 2002 Polymeraza
chain reaction assays for the detection and discrimination of the soyabean rust pathogen P Pachyrihizi and P Meibromiea Phytopathology
92:217-227
3 Hartman, G L., Miles, M R., and
Fredrick, R D., 2005 Breeding for
resistance to soybean rust Plant Dis
89:664-666