1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU THEO DÕI DỌC BỆNH NHÂN DOẠ TỰ TỬ pot

6 268 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 448,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

K ẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU THEO DÕI DỌC BỆNH NHÂN DOẠ TỰ TỬ Nguyễn Văn Tường, Trần Thị Thanh Hương, Hà Trần Hưng, Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Thị Thanh Hương, Nguyễn Lan Anh, Hoàng Hoa Sơn, Phạm Thị

Trang 1

K ẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU THEO DÕI DỌC BỆNH NHÂN DOẠ TỰ TỬ

Nguyễn Văn Tường, Trần Thị Thanh Hương,

Hà Trần Hưng, Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Thị Thanh Hương, Nguyễn Lan Anh, Hoàng Hoa Sơn, Phạm Thị Minh Đức

Trường Đại học Y Hà Nội

90 bệnh nhân doạ tự tử vào điều trị tại các khoa hồi sức cấp cứu tại các bệnh viện nội thành Hà Nội được tiến hành phỏng vấn và chia thành 2 nhóm: 44 bệnh nhân được nhận điều tri thường quy

và nhóm gồm 46 bệnh nhân được nhận điều trị thường quy và tiến hành can thiệp Tư vấn trước khi bệnh nhân ra viện và theo dõi dọc được xem như các biện pháp can thiệp

Các thông tin chung được thu thâp Tỷ suất nữ/nam là 2,6:1 Tuổi trung bình của các bệnh nhân doạ tự tử là 25,1 ± 9,3 Sử dụng các thuốc giảm đau, gây ngủ, an thần là phương pháp chính được

sử dụng để doạ tự tử 23.5% bệnh nhân có tiền sử doạ tự tử trước đó Nguyên nhân chính dẫn đến

tự tử ở 33,3% bệnh nhân là do các áp lực liên quan tới tâm lý

Việc theo dõi bệnh nhân tại thời điểm 1 tuần, 2 tuần, 4 tuần, 7 tuần, 11 tuần, 4 tháng, 6 tháng, 12 tháng và 18 tháng sau khi ra viện được thực hiện Một số trường hợp có hành vi doạ tự tử cho tới tháng thứ 4 Không có bệnh nhân nào cảm thấy sức khoẻ xấu đi hoặc không tốt tại tháng theo dõi thứ 4 Các bệnh nhân cần sự hỗ trợ về tinh thần chủ yếu từ bạn bè và người thân

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Doạ tự tử bao gồm những hành vi tự làm

nguy hiểm đến tính mạng nhưng không dẫn

đến cái chết trong khi hành vi tự tử bao gồm

những hành động làm nguy hại đến bản thân

và dẫn đến cái chết

Doạ tự tử được đánh giá là chỉ số quan

trọng nhất dự báo cho hành vi tự tử [5] Hàng

năm, theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới có

tới hàng triệu người có hành vi doạ tự tử [6]

Theo nghiên cứu của chúng tôi, thì hàng năm

có khoảng 300 trường hợp doạ tự tử vào điều

trị tại khoa chống độc bệnh viện Bạch Mai [1]

Doạ tự tử là một hành vi chịu sự tác động

của rất nhiều các yếu tố khác nhau về y học, xã

hội và tâm lý Nhưng tại Việt Nam, hầu hết các

bệnh nhân doạ tự tử chỉ nhận được sự điều trị

tại các khoa hồi sức cấp cứu mà sau đó không

có sự theo dõi cũng như can thiệp bằng các trị

liệu tâm lý mặc dù có rất nhiều các nghiên cứu

trên thế giới đã chỉ ra rằng hành vi doạ tự tử

thường có nguy cơ lặp lại [3]

Năm 2001, Trường Đại học Y Hà Nội bắt

đầu tham gia cùng với 12 nước trên 5 châu

lục tiến hành “Nghiên cứu can thiệp đa quốc gia về hành vi doạ tự tử” với sự hỗ trợ của Tổ chức Y tế thế giới

Nghiên cứu thử nghiệm giải pháp can thiệp đối với hành vi doạ tự tử này được thực hiện với các mục tiêu sau:

1 Xác định một số đặc điểm của hành vi doạ tự tử tại nội thành Hà Nội

2 Đánh giá kết quả của theo dõi dọc đối với bệnh nhân doạ tự tử

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu bao gồm các bệnh nhân có hành vi doạ tự tử, hiện tại đang sống tại

Hà Nội vào điều trị tại các khoa hồi sức cấp cứu của các bệnh viện Thanh Nhàn, Saint Pault, Đống Đa, Trung tâm chống độc bệnh viện Bạch mai và Viện sức khoẻ tâm thần trung ương từ ngày 1/7/2002 đến 31/1/2004

2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu can thiệp có đối chứng theo

sơ đồ sau:

Trang 2

Các bệnh nhân doạ tự tử vào điều trị tại các khoa hồi sức cấp cứu

tại các bệnh viện nội thành Hà Nội

Đồng ý tham gia nghiên cứu Không đồng ý tham gia nghiên cứu

chọn ngẫu nhiên

+ Điều trị thường quy + Điều trị thường quy

+ Theo dõi 2 lần vào thời điểm + Tư vấn trước khi ra viện

6 tháng, 18 tháng sau khi ra viện + Theo dõi vào các thời điểm

1 tuần, 2 tuần, 4 tuần, 7 tuần,

11 tuần, 4 tháng, 6 tháng, 12 tháng

và 18 tháng sau khi ra viện

3 Công cụ nghiên cứu

Bộ câu hỏi nghiên cứu SUPRE-MISS

bệnh viện của Tổ chức Y tế thế giới được sử

dụng để phỏng vấn các bệnh nhân doạ tự tử

và đồng ý tham gia nghiên cứu vào điều trị tại

các bệnh viện được nêu trên Bộ câu hỏi này

bao gồm các thông tin về các yếu tố văn hoá

- xã hội, tiền sử tự tử của gia đình, thói quen

sử dụng rượu và các chất kích thích cũng

như các thang điểm đánh giá trầm cảm Beck,

thang điểm đo sự tức giận, thang điểm đánh

giá tình trạng sức khoẻ của WHO

Nhóm can thiệp sẽ được tư vấn trước khi

ra viện khoảng 1 giờ dựa trên tài liệu hướng

dẫn can thiệp của Tổ chức Y tế thế giới Tài

liệu này bao gồm các thông tin về tình hình tự

tử trên thế giới,các yếu tố nguy cơ, các yếu tố

bảo vệ cũng như các biện pháp phòng chống

hành vi doạ tự tử Dựa trên tài liệu này, các

nhà nghiên cứu sẽ xác định các yếu tố nguy

cơ cũng như các yếu tố bảo vệ ở từng bệnh

nhân để từ đó đưa ra giải pháp tư vấn thích

hợp với từng người

Việc theo dõi bệnh nhân sau khi ra viện

cũng được tiến hành bằng bộ câu hỏi theo dõi

của Tổ chức Y tế thế giới Bộ câu hỏi này bao

gồm các câu hỏi có liên quan tới hành vi doạ tự

tử sau khi điều trị, tình trạng sức khỏe chung cũng như nhu cầu cần sự hỗ trợ về cảm xúc của các bệnh nhân này sau khi ra viện

4 Xử lý số liệu

Số liệu nghiên cứu được nhập và xử lý trên phần mềm thống kê SPSS 10.5

5 Các vấn đề liên quan tới đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu được sự chấp nhận về đạo đức trong nghiên cứu của Viện Karolinska và Trường Đại học Y Hà Nội Các đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu được ký vào

“Phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu”

III KẾT QUẢ

Có 118 bệnh nhân doạ tự tử, hiện sống tại

Hà Nội vào điều trị tại các bệnh viện trên trong thời gian nghiên cứu, trong đó có 46 bệnh nhân ở nhóm can thiệp, 44 bệnh nhân ở nhóm chứng, 28 bệnh nhân từ chối tham gia nghiên cứu

1.Một số đặc điểm của bệnh nhân doạ

tự tử

Các đặc điểm của bệnh nhân doạ tự tử được trình bày trong bảng sau:

Trang 3

Bảng 1: Phân bổ một số đặc điểm của bệnh nhân doạ tự tử ở nhóm can thiệp và nhóm chứng

Nhóm can thiệp (n = 46)

Nhóm chứng (n = 44)

Cả 2 nhóm (n = 88)

Mean ± SD Mean ± SD Mean ± SD

n % n % n %

Giới

Nam

Nữ

10

36

21,7 78,3

15

29

35,7 64,3

25

65

28,4 73,9

Tình trạng hôn nhân

Chưa lập gia đình

Đã lập gia đình

Ly dị/ly thân/goá

29

14

3

63,0 30,4 6,5

26

16

1

61,9 38,1 2,4

55

30

4

62,5 34,1 4,5

Phương pháp tự tử theo ICD 10

X60: thuốc gây ngủ và hạ sốt

X61: thuốc an thần, barbituric

X63: thuốc tác động lên hệ TKTƯ

X64: thuốc và hoá chất khác

X68: bằng thuốc trừ sâu/thuốc chuột

X70: bằng treo cổ

X78: bằng các vật sắc

X80: nhảy từ trên cao xuống

X83: các cách khác xác định được

29

8

3

0

0

1

1

0

1

63,0 17,4 6,5

2,2 2,2 2,2

17

8

1

3

3

3

1

1

0

40,5 19,0 2,4 7,1 7,1 7,1 2,4 2,4 0,0

46

16

4

3

3

4

2

1

1

52,3 18,2 4,5 3,4 3,4 4,5 2,3 1,1 1,1

Đã từng có hành vi doạ tự tử

trước đó

11 26,2 10 24,4 21 25,3

Nguyên nhân

+ Bị đánh

+ Bị đe doạ

+ Áp lực về tinh thần

2

8

15

4,9 19,5 36,6

4

7

12

10,0 17,5 30,0

6

15

27

7,4 18,5 33,3

Điểm theo thang điểm đánh giá

trầm cảm Beck (Median)

Điểm theo thang điểm đánh giá tình

trạng sức khoẻ của WHO (Median)

Điểm theo thang điểm đo sự tức

giận (Median)

18,5 21 20

Trang 4

Bảng 1 cho thấy không có sự khác biệt về

các đặc điểm như tuổi, giới tính, tình trạng

hôn nhân cũng như một số test đánh giá trầm

cảm hay tình trạng sức khoẻ giữa 2 nhóm

can thiệp và nhóm chứng với p > 0,05

Tỷ suất nữ/nam ở cả 2 nhóm là 2,6:1 và

phần lớn bệnh nhân doạ tự tử ở lứa tuổi trẻ

với tuổi trung bình là 25,1 ± 9,3

Phương pháp sử dụng chủ yếu ở bệnh

nhân nội thành là sử dụng thuốc gây ngủ, hạ

sốt (52,3%), tiếp theo là thuốc an thần

(18,2%)

25,3% có tiền sử có hành vi doạ tự tử trước đó 33,3% doạ tự tử với nguyên nhân chính là do các áp lực về tinh thần

Điểm theo các thang điểm đánh giá trầm cảm, tình trạng sức khoẻ và đo sự tức giận ở mức trung bình Các mức điểm của các test này càng cao thì chứng tỏ nguy cơ xuất hiện hành vi tự tử càng lớn

2 Đánh giá bước đầu tình trạng bệnh nhân sau theo dõi dọc 12 tháng

Bảng 2: Tình trạng bệnh nhân sau khi theo dõi dọc

n = 46

2 tuần

n = 45

4 tuần n= 45

7 tuần

n = 44

11 tuần

n = 40

4 tháng

n = 36

6 tháng

n = 36

12 tháng

n = 7

Số người có hành vi

doạ tự tử

7 15,2 6 13,3 6 13,3 3 6,8 1 2,5 0 0,0 0 0,0 0 0,0 Tình trạng sức khoẻ

+ Tồi

+ Không tốt

+ Tương đối tốt

+ Tốt

+ Rất tốt

1

7 26

9

3

2,2 15,2 56,5 19,6 6,5

0

3 28

9

5

0,0 6,7 62,2 20,0 11,1

1

2 27

8

7

2,2 4,4 60,0 17,8 15,5

0

1 27 11

5

0,0 2,3 61,4 24,4 11,1

0

0 25 10

5

0,0 0,0 62,5 25,0 12,5

0

0 20 12

4

0,0 0,0 55,5 33,3 11,1

0

0

20

12

3

0,0 0,0 55,5 33,3 8,3

0

0

4

2

1

0,0 0,0 57,1 28,6 14,3 Cần sự hỗ trợ 15 32,6 12 26,7 11 24,4 10 22,7 6 15,0 3 8,3 3 8,3 0 0 Cần sự hỗ trợ từ:

+ Điện thoại

+ Bạn bè

+ Khác

1 14

2,2 30,4

1 11

2,2 24,4

1 10

2,2 22,2 10 22,7 6 15,0 3 8,3 3 8,3

Bảng 2 cho thấy tỷ lệ có hành vi doạ tự tử

lại cao nhất vào tuần thứ 1 sau khi ra viện

(15,2%) và giảm dần theo thời gian Từ tháng

thứ 4 trở đi, không có bệnh nhân nào có hành

vi tự tử lại nữa

Bệnh nhân có tình trạng sức khoẻ tốt trở

lại càng tăng dần theo thời gian theo dõi

Bệnh nhân vẫn cần sự hỗ trợ về tâm lý

trong những tuần đầu sau khi điều trị (32,6%)

và chủ yếu nhận sự hỗ trợ này từ bạn bè

Sau 1 năm thì hầu như bệnh nhân không cần

sự hỗ trợ về tâm lý nữa

IV BÀN LUẬN

1 Một số vấn đề về phương pháp

Đây là một nghiên cứu khó thực hiện, với

bộ câu hỏi phỏng vấn dài, thời gian tư vấn lâu trên một đối tượng rất nhạy cảm, do vậy mà

tỷ lệ bệnh nhân từ chối tham gia nghiên cứu

là khá lớn (28 bệnh nhân tương ứng với 23,7%) Kết quả này cũng giống như các nghiên cứu khác đã được thực hiện ở các nước châu Âu [4]

Một đặc điểm nữa ở nghiên cứu này là nghiên cứu theo dõi dọc, với thời gian theo dõi khá lâu (1,5 năm), do vậy sẽ có một tỷ lệ không nhỏ bệnh nhân bỏ cuộc có thể gây ảnh

Trang 5

hưởng đến kết quả nghiên cứu Để khắc

phục đặc điểm này, chúng tôi sẽ kéo dài thời

gian nghiên cứu để đảm bảo được lực mẫu

cho nghiên cứu

Bảng 2 mới chỉ trình bày được kết quả

theo dõi dọc mà chưa có sự so sánh kết quả

can thiệp giữa 2 nhóm do các bệnh nhân vẫn

chưa hết thời gian theo dõi (18 tháng), chúng

tôi sẽ tiếp tục theo dõi và sẽ có được các kết

quả sâu hơn về hiệu quả can thiệp

2 Một số đặc điểm của bệnh nhân doạ

tự tử ở nội thành Hà Nội

Các đặc điểm về yếu tố văn hoá xã hội đối

với hành vi doạ tự tử như nữ gặp nhiều hơn

nam, chủ yếu là những người chưa lập gia

đình, hay phương pháp tự tử là thuốc gây

ngủ và an thần cũng tương tự như kết quả

nghiên cứu của chúng tôi thực hiện tại bệnh

viện Bạch Mai [1]

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng cho

thấy các áp lực về tinh thần là nguyên nhân chủ

yếu dẫn tới hành vi doạ tự tử, đặc biệt với

những người trẻ tuổi Vì vậy mà sự hỗ trợ về

tinh thần của những người thân như bạn bè,

gia đình, thầy cô giáo trở thành một yếu tố quan

trọng trong việc phòng tránh hành vi tự tử

Các đặc điểm về tổn thương tâm thần

cũng chưa thật rõ rệt trên những bệnh nhân

này Kết quả này cũng phù hợp với nghiên

cứu trước đây của chúng tôi cũng như các

nghiên cứu ở châu Á về mối tương quan giữa

tâm thần và hành vi tự tử [1,2]

3 Tác dụng của theo dõi sau khi ra viện

đối với bệnh nhân có hành vi doạ tự tử

Kết quả ban đầu cho thấy trong thời gian

đầu sau khi ra viện, tình trạng tâm lý của

bệnh nhân chưa ổn định, vẫn có thể xuất hiện

hành vi doạ tự tử, do vậy mà việc theo dõi

bệnh nhân sau khi ra viện trở nên rất quan

trọng trong việc phòng sự xuất hiện lại của

hành vi doạ tự tử Tác dụng của việc theo dõi

bệnh nhân doạ tự tử sau khi điều trị 1 năm

cũng được xác định tại một số các nghiên

cứu của các nước châu Âu [5]

Phần lớn các bệnh nhân trở về trạng thái sức khoẻ tốt vào tháng thứ 4 sau khi ra viện, trong khi ở một số nghiên cứu khác thì tình trạng sức khoẻ trở về bình thường thưòng là sau 1 năm [5]

Bệnh nhân sau khi ra viện khi cần sự hỗ trợ thì thường liên hệ với bạn bè Điều này có

lẽ do đặc điểm văn hoá của châu Á cũng như vẫn còn rất ít các tổ chức hỗ trợ cho các vấn

đề xúc cảm ở Việt Nam Việc giáo dục cho những người trẻ khả năng chia sẻ với bạn bè, người thân khi gặp những trở ngại trong cuộc sống trở nên có vai trò quan trọng trong việc phòng chống tự tử

V KẾT LUẬN Doạ tự tử ở bệnh nhân nội thành Hà Nội thường là nữ nhiều hơn nam, lý do chủ yếu là các áp lực về tâm lý

Kết quả theo dõi dọc cho thấy bệnh nhân

sẽ trở về trạng thái sức khoẻ tốt vào tháng thứ 4 sau khi ra viện và trong thời gian đầu bệnh nhân vẫn rất cần sự hỗ trợ về tâm lý

Lời cảm ơn

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp

đỡ của BS Nguyễn Bảo Liên, BS Nguyễn Đức Minh, BS Hoàng Văn Vinh, BS.Đinh Thu Hương, SV Nguyễn Văn Mạnh, SV Nguyễn Huyền Linh đã hỗ trợ rất nhiều trong việc thu thập số liệu nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện với sự hỗ trợ về kinh phí và kỹ thuật của Tổ chức y tế thế giới Các tác giả xin chân thành cảm ơn

TÀI LIÖU THAM KH¶O

1 Huong TTT, Guo Xin, Tuong NV et al: Attempted suicide in Hanoi, Vietnam Summitted

2 Philips MR, Yang G, Zhang Y et al Risk factors for suicide in China: a national case –

control psychological autopsy study Lancet,

2002; 360:1728 – 36

3 Schmidtke A, Bille Brahe U et al Attempted suicide in Europe: rates, trend and sociodemographic characteristics of suicide

Trang 6

attempters during period 1989 – 1992 Acta Psychiatry Scan, 1996; 93: 327 – 38

4 Stravynski A and Boyer R (2001)

Loneliness in relation to suicide ideation and

parasuicide: a population wide study Suicide

and life-threatening behavior 31 (1) Spring

5 Wasserman D (ed) Suicide: an

Unnecessary Death London: Martin Dunitz,

2001

6 WHO World report on Violence and Health Geneva: WHO, 2002

Summary

PRELIMINARY RESULTS OF EFFECTIVENESS OF COUNSELING AND

FOLLOW-UP SUICIDE ATTEMPTERS

88 suicide attempters enrolled in intensive care units in urban hospitals in Hanoi were interviewed and divided in to 2 groups: group with 42 patients received annual treatment, group with 46 patients received annual treatment and intervention Counseling ans follow-up interview were considered as interventions

Based line information was collected The ratio female/male was 2.6: 1 Mean age of attempted suicide was 25,1 ± 9,3 Non-opioid analgesics, antipyretics and sedatives are meaning of attempted suicide in urban of Hanoi 23.5% had privious suicide attempts The main cause of attempted suicide

is emotionally abused

Follow- up interviews at 1 week, 2 weeks, 4 weeks, 7 weeks, 11 weeks, 4 months, 6 months, 12 months, 18 months period after the event and the counseling were implemented Some cases intending to futher attempted suicide after 1 weeks until 11 weeks No cases feeling bad or not good

on interview at 4 months Interviewees stated that they need support from mainly relatives/friends

Ngày đăng: 11/03/2014, 00:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Phân bổ một số đặc điểm của bệnh nhân doạ tự tử ở  nhóm can thiệp và nhóm chứng - KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU THEO DÕI DỌC BỆNH NHÂN DOẠ TỰ TỬ pot
Bảng 1 Phân bổ một số đặc điểm của bệnh nhân doạ tự tử ở nhóm can thiệp và nhóm chứng (Trang 3)
Bảng 1 cho thấy không có sự khác biệt về - KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU THEO DÕI DỌC BỆNH NHÂN DOẠ TỰ TỬ pot
Bảng 1 cho thấy không có sự khác biệt về (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm