1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận xét kết quả điều trị viêm thanh quản do ASPERGILLUS bằng itraconazol tại viện Tai mũi họng trung ương pdf

8 658 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 195,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận xét kết quả điều trị viêm thanh quản do ASPERGILLUS bằng itraconazol tại viện Tai mũi họng trung ương Lương Thị Minh Hương, Ngô Ngọc Liễn Bộ môn Tai Mũi Họng - Đại học Y Hà Nội 7

Trang 1

Nhận xét kết quả điều trị viêm thanh quản

do ASPERGILLUS bằng itraconazol tại viện Tai mũi họng trung ương

Lương Thị Minh Hương, Ngô Ngọc Liễn

Bộ môn Tai Mũi Họng - Đại học Y Hà Nội

76 trường hợp được chẩn đoán viêm thanh quản do nấm đã được điều trị khỏi tại khoa Nội soi viện Tai Mũi Họng trung ương từ 7/1999 đến nay

Hai loại nấm gây bệnh ở thanh quản đã nuôi cấy và phân lập được là Aspergillus 73,63%, Candida 22,36%, cả 2 loại 2,63%

Điều trị Itraconazole (Sporal) cho 59 trường hợp nhiễm Aspergillus cho kết quả tốt

100% Giọng nói được hồi phục hoàn toàn và các xét nghiệm vi nấm âm tính ngay trước khi ngừng điều trị Thời gian điều trị trung bình là 6,27 tuần không có trường hợp nào tái phát sau theo dõi 6 tháng

i ĐặT VấN Đề

Việt Nam là nước khí hậu nóng ẩm,

thiên tai lụt lội xảy ra thường xuyên là điều

kiện thuận lợi cho các bệnh vi nấm phát

triển, trong đó các bệnh nhiễm vi nấm tại

vùng Tai Mũi Họng cũng đang gia tăng

đáng kể Viêm thanh quản do nấm cũng

đang gia tăng nhanh chóng Việc cần thiết

có một quy trình chẩn đoán và một phác

đồ điều trị thích hợp được đặt ra Chúng tôi

tiến hành nghiên cứu viêm thanh quản do

nấm nhằm hai mục tiêu:

1 Nghiên cứu hình ảnh tổn thương

thanh quản do nấm qua nội soi, giá trị của

các xét nghiệm vi nấm, mô bệnh học trong

chẩn đoán xác định

2 Đánh giá kết quả điều trị đạt đựơc để

xây dựng nên một quy trình điều trị thích

hợp

ii ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP

NGHIÊN CứU

1 Đối tượng:

Các bệnh nhân bị viêm thanh quản do

Aspegillus không phân biệt tuổi, giới tính,

nghề nghiệp, điều trị tại khoa nội soi viện

Tai Mũi Họng trung ương từ 7/1999 đến 4/2003

2 Phương pháp:

Sử dụng phương pháp thống kê mô tả lâm sàng kết hợp với cận lâm sàng Những kết quả thu được sẽ được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học Xử lý số liệu theo chương trình Epi- Info 6.0

Quá trình nghiên cứu được tiến hành theo các bước:

- Làm hồ sơ bệnh án theo mẫu

- Qui trình chẩn đoán được tiến hành như sau:

+ Khám lâm sàng: Soi thanh quản gián tiếp: Mô tả hình ảnh vị trí màng giả trên hình vẽ

+ Nội soi thanh quản: Quan sát tổn thương thanh quản bằng mắt thường sau

đó quan sát qua lăng kính có phóng đại Chụp ảnh các hình ảnh tổn thương thanh quản điển hình và đặc biệt Sau đó bóc tách lấy hết màng giả để xét nghiệm Sinh thiết một mảnh tổ chức chỗ có màng giả để xét nghiệm mô bệnh học

Trang 2

+ Xét nghiệm vi nấm: Soi trực tiếp và

nuôi cấy phân lập để định danh nấm

+ Xét nghiệm mô bệnh học để tìm nấm

và phát hiện các tổn thương khác kết hợp

Bệnh nhân được chẩn đoán xác định

khi có các tiêu chuẩn sau:

- Có dấu hiệu lâm sàng rõ: Khàn tiếng

và có màng giả ở thanh quản

- Có ít nhất một trong các xét nghiệm

sau dương tính:

+ Soi trực tiếp: Có sợi nấm có vách

ngăn hoặc không có vách ngăn

+ Nuôi cấy: Sự phát triển của khóm

nấm sợi thuần nhất

Sự phát triển của khóm nấm men

thuần nhất

+ Mô bệnh học: Có bào tử (tế bào

nấm) hoặc sợi nấm

+ Định loại nấm: Dựa vào nuôi cấy phân

lập chủng loại nấm hoặc hình thái sợi nấm

trong tổ chức

- Qui trình điều trị bệnh nhân:

+ Chọn thuốc kháng nấm nhạy cảm với chủng loại nấm đã định loại:

• Đối với nhiễm Aspegillus: Dùng

Itraconazole 100mg (Sporal) theo đường uống Liều 200mg/ ngày dùng 1 lần vào bữa ăn

• Dùng mỡ Clotrimazole bôi vào thanh quản (nếu bệnh nhân phối hợp)

+ Đánh giá kết quả điều trị dựa vào:

• Sự tiến triển của lâm sàng: Phục hồi giọng nói

• Đánh giá tổn thương ở thanh quản:

Sự mất dần của màng giả

• Khám lại bệnh nhân sau 1 tuần, 2 tuần, 4 tuần đến khi hết tổn thương, xét nghiệm lại vi nấm để ngừng điều trị

• Tính thời gian điều trị trung bình

• Theo dõi các tác dụng phụ của thuốc

• Sau 3, 6 tháng kiểm tra lại để đánh giá sự tái phát

iii KếT QUả

1 Về dịch tễ học:

Bảng 1: Phân bố theo tuổi:

Tuổi

Tỷ lệ 0 -15 16-30 31-40 41- 50 51 -60 > 60 Tổng

Số ca 0 13 25 22 15 1 76

% 0 17,10 32,89 28,95 19,74 1,32 100,00

• Bệnh không gặp ở trẻ em

• Thường gặp nhất ở tuổi trung niên

31 – 50 tuổi (61,23%)

• Hiếm gặp ở người cao tuổi Sự khác

biệt rất có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

Bảng 2 Giới

Giới

Tỉ lệ Nam Nữ Tổng

% 36,84 63,16 100,00

Cả nam và nữ đều mắc bệnh Tỷ lệ nữ

gặp nhiều hơn nam Sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê với p < 0,05

Bảng 3 Tỉ lệ theo các tháng trong năm

Mùa

Tỷ lệ

Xuân Hạ Thu Đông Tổng

số ca 10 19 34 13 76

% 13,15 25,00 44,74 17,10 100 Bệnh có thể gặp ở tất cả các tháng trong năm nhưng nổi trội nhất là vào mùa

Trang 3

thu 44,74%, sau đó là mùa hạ 25,00%

Mùa đông và mùa xuân thì ít gặp hơn Sự

khác biệt tỷ lệ mắc bệnh giữa các mùa có

ý nghĩa thống kê với p < 0,001

Bảng 4 Phân bố theo nghề nghiệp

Nghề nghiệp

Tỷ lệ

Làm ruộng

Viên chức

Giáo viên

Ngành

y

Hưu trí Học

sinh

Các ngành khác

% 50,00 7,89 6,58 5,26 6,58 6,58 17,10

Nghề nghiệp gặp tỉ lệ bệnh cao nhất là

làm ruộng 50%, sau đó là viên chức

7,86%, các ngành khác có tỷ lệ thấp hơn

(p <0,001)

2 Lâm sàng:

2.1 Khởi phát:

Theo triệu chứng dễ nhận biết nhất là

khàn tiếng xảy ra từ từ (khàn tiếng ngày

càng tăng dần) hoặc đột ngột (khàn nặng

hoặc mất tiếng ngay từ đầu) Khoảng 1/5

số trường hợp 21,05% số bệnh nhân gặp sau khi bị cảm cúm có sốt, ho, chảy mũi

Thời gian từ khi khởi phát đến khi đến viện trung bình là 4 – 5 tuần, lâu nhất là 8 tuần, sớm nhất là 10 ngày, 100% đều được điều trị nội khoa trước đó

2.2 Triệu chứng cơ năng

Bảng 5: Mức độ và triệu chứng cơ năng

Triệu chứng

Tỷ lệ

Khàn tiếng

Nhẹ Vừa Nặng

Sốt Ho Khó thở Ngứa

họng

Số ca

1 17 58 8 50 4 48

% 1,32 22,37 76,31 10,53 65,79 5,26 63,16

- Triệu chứng cơ năng chính là khàn

tiếng, gặp ở 100% bệnh nhân, Thường

khàn tiếng ở mức độ nặng, mất tiếng, phát

âm không còn âm sắc chỉ nghe tiếng thều

thào 76,31% Khàn tiếng mức độ vừa, âm

sắc yếu 22,37%, chỉ có tỉ lệ nhỏ khàn tiếng

nhẹ 1,32%

- Khó thở gặp 5,26% trong đó khó

thở thanh quản độ 1 gặp 1,32% 3,95% có

khó thở hỗn hợp do hen phế quản kèm

theo

- Ho 65,79% và ngứa họng 63,16%

2.3 Tổn thương thực thể

Quan sát qua soi thanh quản gián tiếp

và nội soi thanh quản có lăng kính phóng

đại, hình ảnh tổn thương được vẽ và chụp lại Đặc điểm màng giả là màng trắng đục, xốp hoặc mịn bám trên lớp niêm mạc thanh quản, lớp trên dễ gỡ bỏ, lớp dưới màng giả dính chặt vào vào niêm mạc, khó

gỡ, dễ chảy máu

Trang 4

Bảng 6: Vị trí của màng giả

Vị trí

Tỷ lệ

Băng thanh

thất

Thanh thất Morganie

Dây thanh Mép trước Khe liên

phễu

Hạ thanh môn

% 47,37 15,79 100,00 11,84 3,95 1,32

Màng giả ở dây thanh100%, ở băng

thanh thất (47,37%), thanh thất Morganie

(15,79%), mép trước (11,84%), liên khe

phễu (3,95%) và ít khi lan xuống hạ thanh

môn (1,32%), không thấy có trường hợp

nào có màng giả ở họng, hạ họng, thanh

thiệt và khí quản

3 Các xét nghiệm cận lâm sàng

3.1 Các xét nghiệm sinh hoá huyết

học: Nhằm tìm ra yếu tố thuận lợi Nhưng

tất cả các bệnh nhân các chỉ số đều trong giới hạn bình thường

3.2 Xét nghiệm vi nấm:

Màng giả lấy ra từ thanh quản bằng nội soi thanh quản được soi trực tiếp trên kính hiển vi và nuôi cấy trên môi trường Sabouraud đường có chloramphenicol

Bảng 7 Kết quả xét nghiệm vi nấm

Xét nghiệm

Tỷ lệ Soi trực tiếp Nuôi cấy

Sợi nấm

Bào tử nấm

Chẩn

đoán

Aspegillus Candida Cả hai

loại

Không mọc

Số ca

% 98,68 97,76 98,68 73,68 22,36 2,63 1,32

Tỷ lệ thấy sợi nấm là 98,68%, bào tử

nấm 97,76% Định danh được Aspergillus

73,68%, Candida 23,36% và cả 2 loại là

2,63 % Tỉ lệ không mọc chỉ gặp 1,32%

4 Xét nghiệm mô bệnh học

Bảng 8: Kết quả mô bệnh học

Kết quả xét nghiệm

mô bệnh học n %

Có sợi nấm 60 78,95

Có tế bào nấm 56 73,68

Hiện tượng viêm mạn 76 100,00

Loét 20 26,31

Hoại tử 31 40,79

Loạn sản 16 21,05

- Xét nghiệm mô bệnh học 78,95 thấy có sợi nấm, 73,68% có bào tử nấm Hiện tượng viêm mạn tính 100%, loét 26,31%, hoại tử 40,79% Đặc biệt là các hiện tượng loạn sản tế bào 21,05%

5 Điều trị:

5.1 Tại chỗ:

- Kết hợp với nội soi thanh quản sinh thiết và lấy bệnh phẩm làm xét nghiệm, đã tiến hành bóc tách gỡ bỏ màng giả ở thanh quản ở 100% bệnh nhân

- Có 6 bệnh nhân (10,17%) sau một tuần điều trị màng giả vẫn còn tương đối

Trang 5

nhiều và dày nên tiến hành bóc tách màng

giả lần 2

- 4 trường hợp được bôi mỡ Clotrimazol

vào thanh quản, do phản xạ nôn oẹ và co

thắt thanh quản, bệnh nhân không hợp tác

vì vậy phải ngừng điều trị tại chỗ

5.2 Toàn thân:

- Chỉ định dùng Itraconazole (Sporal)

100mg x 2viên/ ngày uống 1 lần vào bữa

ăn cho các bệnh nhân:

+ Phân lập được Aspergillus (56 bệnh

nhân, 73,68%)

+ Phân lập được Aspergillus và Candida

(2 bệnh nhân, 2,63%)

+ Không mọc trên môi trường nuôi cấy (1 bệnh nhân 1,32%)

- Bệnh nhân được uống thuốc ngay sau khi có chẩn đoán xác định, được khám lại hàng tuần để theo dõi tiến triển của bệnh và các tác dụng phụ của thuốc

- Khi tái khám thấy các triệu chứng cơ năng hết hoặc cải thiện, giọng nói được phục hồi, đặc biệt nội soi thanh quản thấy không còn màng giả thì tiến hành xét nghiệm lại vi nấm, khi âm tính thì ngừng

điều trị, nếu còn dương tính thì cần tiếp tục

điều trị thêm 1 tuần và sau đó tiến hành xét nghiệm lại cho đến khi âm tính mới ngừng điều trị

Bảng 9: Thời gian điều trị trung bình

TG điều trị

Tỷ lệ < 4 tuần 4 tuần 5 tuần 6 tuần 7 tuần 8 tuần > 8 tuần

% 0 5,08 11,86 32,20 37,29 10,17 3,39

Thời gian điều trị trung bình là 6,27 tuần (69,49 %)

Thời gian điều trị ngắn nhất 4 tuần (5,08%)

Thời gian điều trị dài nhất là 9 tuần (3,39 %)

Có 2 bệnh nhân không tuân thủ quá trình theo dõi đã loại khỏi nghiên cứu này

Theo dõi tác dụng phụ của thuốc: Các bệnh nhân đều được hỏi về những dấu hiệu bất thường sau khi dùng thuốc Nếu thấy có các biểu hiện bất thường sẽ được xét nghiệm về sinh hoá và huyết học

Bảng 10: Tỷ lệ các tác dụng phụ

Biểu hiện

Tỷ lệ

Đau đâù

Nôn

Buồn nôn

Rối loạn tiêu hoá

Mệt mỏi Rối loạn kinh

nguyệt

% 3,39 1,69 3,39 1,69 3,39 1,69

Một số tác dụng không mong muốn có

thể gặp như: đau đầu 3,39 %, nôn 1,69%,

buồn nôn 3,39% không can thiệp gì tự

khỏi Chướng bụng và táo bón 1,69%, mệt mỏi 3,39%, rối loạn kinh nguyệt 1,69%

Trang 6

iv Bàn luận

1 Các triệu chứng lâm sàng gợi ý

VTQ do nấm

Triệu chứng quan trọng và dễ nhận biết

nhất là khàn tiếng xảy ra từ từ, từ vài tuần

đến vài tháng dẫn đến mất tiếng Đặc biệt

khàn tiếng không những không thuyên

giảm mà còn nặng lên sau điều trị kháng

sinh, corticoid

Các triệu chứng khác như ho (65,79%),

ngứa họng (63,16%) gặp với tỷ lệ cao, tuy

không đặc hiệu nhưng là các triệu chứng

gợi ý

Toàn trạng chung ít có biến đổi

Triệu chứng quan trọng nhất là có

màng giả ở thanh quản, nhưng khám đánh

giá thanh quản là một thao tác không dễ

nên mặc dù đã được thăm khám chuyên

khoa Tai Mũi Họng nhưng có tới 90,79%

trường hợp bị chẩn đoán nhầm

Vì vậy để phát hiện sớm VTQ do nấm

cần phải nội soi thanh quản nếu khàn

tiếng kéo dài trên hai tuần để đánh giá

chính xác bệnh lý thanh quản và lấy bệnh

phẩm nơi thương tổn làm xét nghiệm tìm vi

nấm

2 Giá trị của các xét nghiệm vi nấm

2.1 Xét nghiệm soi trực tiếp

Nếu thấy sợi nấm có vách ngăn hoặc

không có vách ngăn lấy ra từ bệnh phẩm ở

thanh quản có thể chẩn đoán xác định là

VTQ do nấm Nếu như chỉ thấy bào tử nấm

thì chưa thể chẩn đoán xác định vì bào tử

nấm có thể bị nhiễm từ môi trường vào

98,68% thấy có sợi nấm trong bệnh phẩm

soi trực tiếp cho thấy giá trị của phương

pháp này trong chẩn đoán xác định, so với

nghiên cứu năm 1999 của chúng tôi tỷ lệ

này chỉ là 20% [4]

2.2 Nuôi cấy

Môi trường Sabouraud đường là môi

trường chủ yếu, thông dụng để nuôi cấy

các loại vi nấm Khi thấy có khóm nấm thuần nhất mọc, theo dõi sự phát triển của khóm nấm Dựa vào màu sắc, đặc điểm sinh học của khóm nấm để định danh nấm gây bệnh Lấy khóm nấm đã mọc soi trên kính hiển vi để xác định giống nấm gây bệnh Đã dịnh danh được 2 giống nấm gây

bệnh ở thanh quản là Aspergillus 76,68%, Candida 23,36%, cả 2 loại là 2,63% Tỷ lệ

này cũng tương đương với nghiên cứu của

Lương Thị Xuân Hà [3] Aspergillus 40%, Candida 10%, tương đương với nghiên cứu năm 1999 của chúng tôi [4]: Aspergillus 89%, Candida 11% Cho đến nay chúng tôi chưa gặp Blastomyces, Histoplasma,

gây bệnh ở thanh quản như các tác giả nước ngoài đề cập [5, 9, 10, 11]

3 Giá trị của xét nghiệm mô bệnh học

Nếu thấy tế bào nấm hoặc sợi nấm trong mô là chẩn đoán xác định [6] Tuy nhiên trong nghiên cứu này chỉ có 78,95% cho kết quả dương tính Vì vậy nếu chỉ dựa vào xét nghiệm này thì sẽ có khoảng 1/5

số bệnh nhân bị bỏ xót, nên phải kết hợp với lâm sàng và các xét nghiệm khác

- Xét nghiệm mô bệnh học cũng cho phép chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác của thanh quản như lao, ung thư, bạch sản thanh quản vì trên các tổn thương này cũng là điều kiện thuận lợi để nhiễm các vi nấm

- Trong xét nghiệm mô bệnh học còn cho thấy các hiện tượng viêm 100%, loét 26,31%, hoại tử 40,79% và đặc biệt là hiện tượng loạn sản tế bào từ mức độ nhẹ đến nặng 21,05% Có thể đây là nguồn gốc dẫn tới ung thư nếu nguồn viêm do vi nấm không được loại trừ sớm [1],[2] Đã có 4 bệnh nhân sau điều trị VTQ do nấm, sau 2-6 tháng theo dõi đã phát hiện ung thư thanh quản Vì vậy vấn đề này cần được nghiên cứu sâu để xác định

Trang 7

4 Về điều trị

Việc điều trị gồm 2 phần: điều trị tại chỗ

và điều trị toàn thân

- Điều trị tại chỗ là bóc tách gỡ bỏ

màng giả nhằm loại bỏ nhanh tác nhân

gây bệnh để giảm liều thuốc và thời gian

điều trị Lương Thị Xuân Hà gỡ bỏ màng

giả cho 20 bệnh nhân và chấm tại chỗ

glycerin borat 10% cho kết quả tốt [3]

Chấm thuốc tại chỗ thanh quản hàng ngày

bằng pomat Clotrimazol 1% không thực

hiện được vì các bệnh nhân thường có

phản xạ nôn, ho và co thắt thanh quản

- Điều trị toàn thân bằng kháng sinh

kháng nấm, chỉ định dùng Sporal

(Itraconazol) là kháng sinh kháng nấm phổ

rộng, có tác dụng đối với nhiễm

Aspergillus, dùng theo đường uống thuận

lợi đối với các bệnh nhân điều trị ngoại trú

Le Beau [8] điều trị Itraconazol cho 16

trường hợp nhiễm Aspergillus cho kết quả

tốt

Với liều điều trị trung bình 200mg/ngày

cho 59 bệnh nhân dùng 1 lần vào bữa ăn,

đạt kết quả điều trị khỏi là 100%, giọng nói

được phục hồi hoàn toàn và xét nghiệm vi

nấm âm tính ngay trước khi ngừng điều

trị.Thời gian điều trị khỏi trung bình 6,27

tuần, ngắn nhất là 4 tuần 5,08%, dài nhất

là 10 tuần Thời gian điều trị khỏi trung

bình 90% số bệnh nhân của Lương Thị

Xuân Hà là 21 ngày [3] Thời gian điều trị

của chúng tôi dài hơn có lẽ do Lương thị

Xuân Hà ngừng điều trị chỉ dựa vào lâm

sàng, còn nghiên cứu của chúng tôi chỉ khi

xét nghiệm vi nấm (-) mới ngừng điều trị

- Theo dõi về tác dụng phụ của Sporal

chúng tôi thấy ngoài tác dụng trên đường

tiêu hoá không đáng kể, chúng tôi không

gặp tác dụng phụ nặng nề phải ngừng

thuốc

- Như vậy với liều điều trị Sporal

200mg/ngày uống 1 lần duy nhất vào bữa

ăn, điều trị VTQ do Aspergillus đạt kết quả

100% về lâm sàng và vi nấm Không thấy tái phát sau theo dõi 3 tháng và 6 tháng

v KếT LUậN

1 Viêm thanh quản do nấm ở nước ta hiện nay không phải là bệnh hiếm gặp

2 Về chẩn đoán:

- Triệu chứng chính là khàn tiếng, mất tiếng (100%) Khó thở thanh quản hiếm gặp (1,32 %)

- Phát hiện bệnh nhờ nội soi thanh quản thấy có màng giả ở dây thanh (100%) và các vị trí khác của thanh quản

- Chẩn đoán xác định bệnh dựa vào xét nghiệm vi nấm Soi trực tiếp cho chẩn

đoán nhanh (98,68 %) Nuôi cấy trên môi trường Sabouraud đường có kháng sinh đã

định danh được hai loại vi nấm gây bệnh là

Aspegillus 73,68%, Candida 22,36% và cả

hai loại là 2,63%

- Xét nghiệm mô bệnh học có tính chính xác cao nhưng tỷ lệ cho chẩn đoán xác định chỉ chiếm 78,95 % Vì vậy không nên chỉ thực hiện xét nghiệm này riêng rẽ Ngoài ra xét nghiệm mô bệnh học còn cho chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác của thanh quản như lao, ung thư Khi có hiện tượng loạn sản tế bào nên theo dõi chặt chẽ, lâu dài để sớm phát hiện ung thư thanh quản

3 Về điều trị:

- Tại chỗ: bóc tách gỡ bỏ phần màng giả để loại trừ nhanh tác nhân gây bệnh, giảm liều thuốc và thời gian điều trị

- Toàn thân: điều trị Sporal (Itraconazole) 200mg/ngày cho VTQ do

Aspergillus cho kết quả tốt ở 100% bệnh

nhân, thời gian điều trị trung bình 6,27 tuần Không thấy tái phát sau theo dõi 6 tháng

Trang 8

Tµi liÖu tham kh¶o

1 Bïi Xu©n §ång, NguyÔn Huy V¨n

(2000), Vi nÊm dïng trong c«ng nghÖ sinh

häc Nhµ xuÊt b¶n khoa häc vµ kü thuËt

Hµ Néi 2000, Tr 5- 42

2 NguyÔn L©n Dòng, Bïi Xu©n §ång,

Lª §×nh L−¬ng (1982), Vi nÊm Nhµ xuÊt

b¶n khoa häc kü thuËt, Hµ Néi, Tr 14-68

3 L−¬ng ThÞ Xu©n Hµ (1999) Gãp

phÇn chÈn ®o¸n vµ ®iÒu trÞ viªm thanh

qu¶n do nÊm t¹i trung t©m tai mòi häng

thµnh phè Hå ChÝ Minh, luËn ¸n chuyªn

khoa II, chuyªn ngµnh tai mòi häng, Tr

1-66

4 L−¬ng ThÞ Minh H−¬ng (1999),

NÊm thanh qu¶n (B¸o c¸o 50 tr−êng hîp

nÊm thanh qu¶n gÆp t¹i viÖn tai mòi häng),

Néi san Tai Mòi Häng, chuyªn san 1, sè 2,

Tr 19-24

5 Alba D, Perna C, Molina F, Ortega

L, Varquez JJ (1996 Apr) Isolated

Laryngeal candidiasis Description of two

cases and review of the literature, Arch

Bronconeumol, vol 32 (4):pp 205-8

6 David H.Ellis (1995), Clinical Mycology- The human oppotunistic mycoses, Gillingham Printers Pty Ltd, pp.3-78

7 Kwon chung K.J, Bennette JE (1992), Medical Mycology, Lea and Febiger Eds,, pp 202

8 Lebeau B, Pelloux Hm Pinel C et al (1994 jun- jul), Itraconazol in the treatment

of aspergillosis: a study of 16 cases, Mycoses, 37 (5-6): 171-9

9 Scheid Sc, Anderson TD, Sataloff

RJ (2003) Ulcerative fungal laryngitis Ear note Throat J, 82 (3), pp 1968-9

10 Vrabec DP (1993 Dec), Fungal infections of the larynx, Otolaryngol clin North Am.: 26 (6), 1091-114

11 Davit L Witsell, Wendell G.Yabrough and al (1994) Treatment of isolated laryngeal Blastomycosis with Ketoconazole, North Carolina Medical Journal 55 (12), pp 588-594

Summary

Comenting on the treatment results of the

laryngitis due to aspergillus by itraconazol in the

National Ent Institute

Since July 1999, in Endospopy Department of the National ENT Institute, 76 cases who were diagnosed with fungal laryngitis had recovered from the disease

Two types of fungi that causes laryngitis have been grown and subdivided into: Aspergillus (73,63%), Candida (22,36%), both types (2,63%)

Using Itraconazole (Sporal) to treat 59 cases Aspegillus by Itraconazole(sporal) conduced

to 100% good results, Patient’voices had totally recovered and fungal test showed nagative results right before stopping treatment The average treament duration is 6,27 weeks and no cases relapsed after the period of the six months

Ngày đăng: 11/03/2014, 00:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Giới - Nhận xét kết quả điều trị viêm thanh quản do ASPERGILLUS bằng itraconazol tại viện Tai mũi họng trung ương pdf
Bảng 2. Giới (Trang 2)
Bảng 6: Vị trí của màng giả - Nhận xét kết quả điều trị viêm thanh quản do ASPERGILLUS bằng itraconazol tại viện Tai mũi họng trung ương pdf
Bảng 6 Vị trí của màng giả (Trang 4)
Bảng 7. Kết quả xét nghiệm vi nấm - Nhận xét kết quả điều trị viêm thanh quản do ASPERGILLUS bằng itraconazol tại viện Tai mũi họng trung ương pdf
Bảng 7. Kết quả xét nghiệm vi nấm (Trang 4)
Bảng 10: Tỷ lệ các tác dụng phụ - Nhận xét kết quả điều trị viêm thanh quản do ASPERGILLUS bằng itraconazol tại viện Tai mũi họng trung ương pdf
Bảng 10 Tỷ lệ các tác dụng phụ (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w