TCNCYH 22 2 - 2003 Gánh nặng kinh tế của tai nạn thương tích Nguyễn Xuân Thành, Nguyễn Thị Kim Chúc Khoa Y tế công cộng - Đại học Y Hà Nội Nghiên cứu này nhằm mục đích ước lượng chi p
Trang 1TCNCYH 22 (2) - 2003
Gánh nặng kinh tế của tai nạn thương tích
Nguyễn Xuân Thành, Nguyễn Thị Kim Chúc
Khoa Y tế công cộng - Đại học Y Hà Nội
Nghiên cứu này nhằm mục đích ước lượng chi phí của toàn bộ tai nạn thương tích (thương tích không chủ ý) của huyện Ba Vì trong 01 năm và mô tả gánh nặng kinh tế của tai nạn thương tích phân bố như thế nào giữa hộ gia đình, Chính phủ và cơ quan bảo hiểm y tế Nghiên cứu thuần tập của chúng tôi bao gồm 04 điều tra cắt ngang cộng đồng mẫu nghiên cứu tại huyện Ba Vì trong năm
2000, mỗi cuộc điều tra đều hỏi về tai nạn thương tích trong vòng 03 tháng trước ngày phỏng vấn Thông tin về chi phí được lấy từ các cơ sở y tế công và hỏi từ nạn nhân Tổng chi phí của tai nạn thương tích tại Ba vì được ước tính là 3,412,539,000 đồng, tương đương với thu nhập hàng năm của
1800 người ở Ba Vì Chín mươi phần trăm của gánh nặng kinh tế này rơi vào các hộ gia đình, chỉ có 8% rơi vào Chính phủ và 2% vào cơ quan bảo hiểm y tế Chi phí trung bình cho một tai nạn thương tích nặng tương đương khoảng 7 tháng thu nhập của nạn nhân Tai nạn thương tích xảy ra ở nhà và tai nạn giao thông chiếm trên 80% tổng chi phí, lần lượt là 45% và 38%
i Đặt vấn đề
Trên thế giới mỗi ngày khoảng 16000 người
chết vì tai nạn thương tích ứng với mỗi người
chết có đến hàng ngàn người khác bị thương và
nhiều người phải mang thương tật vĩnh viễn [7]
Tai nạn thương tích không chỉ là nguyên nhân
gây chết và tàn tật hàng đầu, mà còn là một
gánh nặng tài chính lớn đối với các nền kinh tế
ở Việt Nam, các số liệu thống kê cho thấy tai
nạn thương tích là một vấn đề đang tăng nhanh,
đặc biệt là từ khi bước sang thời kỳ Đổi Mới
Điều này đặc biệt rõ ràng với tình hình tai nạn
giao thông [5] Từ 1988 đến 1997, số vụ tai nạn
giao thông tăng bốn lần lên đến con số 19,159
Thống kê của cảnh sát cho thấy các tai nạn gây
chết người tăng 235%, tai nạn gây thương tích
tăng 400% Tỷ lệ bị tai nạn giao thông tăng từ
7,1 đến 24,9 trên 1000 người dân, tỷ lệ bị chết
tăng từ 3,9 đến 7,4, và tỷ lệ bị thương tăng từ
8,7 đến 28,4, đưa Việt Nam trở thành một trong
những nước có tỷ lệ bị tai nạn giao thông cao
nhất trên thế giới [6] Tuy nhiên, gánh nặng
kinh tế của các tai nạn thương tích đó thì chúng
ta không biết vì chưa có một nghiên cứu phân
tích chi phí tai nạn thương tích nào được công
bố
Mục tiêu:
1 Ước lượng toàn bộ chi phí của tất cả các tai nạn thương tích của huyện Ba Vì trong vòng một năm,
2 Mô tả gánh nặng kinh tế của tai nạn thương tích phân bổ giữa nạn nhân, Chính phủ
và cơ quan bảo hiểm y tế
ii Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây Toàn huyện có 352 cụm dân cư (mỗi cụm là 1 làng) với số hộ gia đình dao
động từ 41 đến 512 (trung bình là 146,4) và số dân dao động từ 185 đến 1944 (trung bình là 676) Ba mươi cụm được chọn ngẫu nhiên vào nghiên cứu với số dân là 23,807 người Quần thể nghiên cứu được theo dõi bằng 04 cuộc
điều tra cắt ngang cách nhau 3 tháng một trong năm 2000 Qua hỏi chủ hộ, người bị tai nạn thương tích được phát hiện, và bước tiếp theo là
điều tra viên phỏng vấn trực tiếp nạn nhân Nếu không thể gặp được nạn nhân hoặc nạn nhân là trẻ em thì chủ hộ sẽ là người cung cấp thông tin Tất cả các trường hợp tai nạn thương tích
Trang 2TCNCYH 22 (2) - 2003
xảy ra trong vòng 03 tháng trước ngày phỏng
vấn đều được ghi lại
Một tai nạn thương tích được định nghĩa
như “một tình huống không mong muốn bất
ngờ xảy ra trong mối liên hệ giữa cá nhân và
môi trường làm cho cá nhân bị thương tích”
[3] Tai nạn giao thông bao gồm tất cả các tai
nạn liên quan ít nhất một phương tiện giao
thông bất kể loại gì Trong nghiên cứu này,
định nghĩa bao gồm cả những người đi bộ bị
thương không liên quan đến phương tiện giao
thông, ví dụ như bị thương do vấp hay trượt
chân ngã Tai nạn thương tích ở nhà là tai nạn
thương tích xảy ra ở phạm vi nhà ở như trong
nhà, ngoài sân, vườn, đường đi lại trong nhà,
nơi để xe, ao của nhà… Tai nạn thương tích
liên quan đến lao động sản xuất là tai nạn
thương tích xảy ra tại nơi làm việc Một tai nạn
thương tích trường học được định nghĩa như
một tai nạn thương tích xảy ra tại khu vực
trường học trong giờ học hoặc trong các hoạt
động do nhà trường tổ chức “Loại khác” bao
gồm các tai nạn thương tích xảy ra ở môi
trường hoặc trong các hoạt động chưa được đề
cập ở trên, như một nơi công cộng khác, sân
kho, ao làng… Định nghĩa một trường hợp tai
nạn thương tích ở nghiên cứu này là phải đáp
ứng ít nhất một trong các điều kiện sau: (1)
Phải sử dụng bất kể một loại hình chăm sóc sức
khoẻ nào, (2) Phải nằm tại giường ít nhất một
ngày, (3) Phải dừng các công việc hoặc hoạt
động thường lệ hàng ngày ít nhất một ngày Do
không có chẩn đoán của bệnh viện, để phân
loại mức độ nặng nhẹ của thương tích, chúng
tôi sử dụng quan niệm của nạn nhân
Trong phân tích chi phí của chúng tôi, “chi
phí trực tiếp” bao gồm chi phí cho y tế và cho
đi lại Toàn bộ chi phí trực tiếp cho y tế được
chia thành 03 phần: bệnh nhân trả trực tiếp,
Chính phủ cấp và Bảo hiểm y tế Để tránh tính
hai lần, chúng tôi lấy số tiền viện phí bệnh
nhân phải trả trừ đi số tiền họ thanh toán lại với
cơ quan bảo hiểm
Chi phí gián tiếp bao gồm chi phí cho thời gian của bệnh nhân, chi phí cho thời gian của người nhà nghỉ để chăm sóc bệnh nhân và chi phí cho “hoạt động bình thường bị hạn chế”[2] Chi phí cho thời gian của bệnh nhân và người nhà tương đương với lượng sản phẩm đã không
được họ làm ra trong thời gian nghỉ để điều trị Chi phí này được ước lượng bằng cách nhân số ngày họ nghỉ việc để điều trị hoặc để chăm sóc nạn nhân với thu nhập trung bình một ngày của
01 người Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng số liệu của Cơ sở thực địa dịch tễ học Ba Vì năm 1999, ở đó thu nhập 01 người/01 ngày
là 5.300 đồng Khái niệm “hoạt động bình thường bị hạn chế” bao gồm tất cả các hoạt
động khác (ví dụ: đi học) nằm ngoài phạm vi thị trường lao động, không được duy trì do tai nạn thương tích Vì lý do một số hoạt động bình thường có thể giá trị hơn lao động sản xuất và một số thì kém, chúng tôi ước lượng giá trị của nó như giá trị của thời gian lao động Vì vậy, tổng chi phí cho các hoạt động bình thường bị hạn chế được ước tính bằng số ngày
bị hạn chế các hoạt động bình thường nhân với thu nhập 01 ngày của 01 người
Toàn bộ chi phí cho tai nạn thương tích của cả huyện được ước tính bằng cách nhân chi phí trong mẫu nghiên cứu với tỷ lệ giữa toàn bộ dân số huyện và mẫu nghiên cứu (235000/23807=9,87) Chi phí đơn vị (chi phí cho 01 tai nạn thương tích) của các loại tai nạn thương tích khác nhau được tính bằng cách lấy tổng chi phí cho 01 loại chia cho số tai nạn thương tích trong loại đó
Để ước tính gánh nặng kinh tế của tai nạn thương tích trên vai nạn nhân, chúng tôi chuyển chi phí đo lường bằng tiền sang chi phí đo lường bằng thời gian làm việc của họ Thời gian làm việc là số tháng cần thiết để nạn nhân
có thể kiếm được số tiền chi phí cho tai nạn thương tích của họ Thời gian làm việc được tính bằng cách nhân chi phí đơn vị với phần
Trang 3TCNCYH 22 (2) - 2003
trăm nạn nhân phải trả rồi chia cho thu nhập
bình quân đầu người tháng ở Ba Vì
iii Kết quả
Tổng số có 1.740 tai nạn thương tích không
gây chết người xảy ra trong mẫu nghiên cứu
vào khoảng thời gian 12 tháng từ 01/11/1999
đến 30/10/2000 Tai nạn thương tích ở nhà
chiếm nhiều nhất (44%), tiếp theo là tai nạn
giao thông (32%) và tai nạn thương tích liên quan đến lao động sản xuất (15%) Hai loại ít xảy ra hơn là “khác” (5%) và tai nạn thương tích trường học (4%) Toàn bộ chi phí, số tai nạn thương tích và chi phí đơn vị của các loại tai nạn thương tích khác nhau được trình bày trong bảng 1
Bảng 1 Tổng chi phí và chi phí đơn vị (chi phí cho 1 thương tích) của các loại tai nạn thương tích khác nhau (nghìn đồng)
Loại tai nạn thương tích Các loại chi phí
Nhà Giao thông Làm việc Trường học Khác
Tổng
Chi phí trực tiếp:
Chi phí cho y tế:
trả bởi nạn nhân 57.441 60.808 9.631 4.389 4.551 136.820 trả bởi BHYT 2.785 2.533 590 618 120 6.646 trả bởi Chính phủ 14.567 12.468 1.454 291 581 29.361 Chi phí cho đi lại 3.680 2.277 549 236 125 6.867
Chi phí gián tiếp:
Thời gian của nạn nhân 39.400 26.776 13.287 1.977 4.208 85.648 Thời gian của người nhà 12.757 8.194 1.961 763 917 24.592 Hoạt động b thường bị hạn chế 25.997 17.018 7.192 1.055 4.516 55.777
Trong mẫu nghiên cứu, tổng chi phí cho tai
nạn thương tích một năm là 345.712.000 đồng,
chi phí trung bình cho 01 tai nạn thương tích là
198.685 đồng Ngoại suy ra toàn bộ dân số
huyện Ba Vì, toàn bộ chi phí khoảng
3.412.539.000 đồng (=345.712.000 x 9,87)
Chi phí y tế chiếm 50%, đi lại 2% và gián tiếp
48% Với số lượng tai nạn thương tích nhiều
nhất, loại tai nạn thương tích ở nhà có chi phí
lớn nhất, chiếm 45% tổng chi phí, theo sau là
tai nạn giao thông (38%), tai nạn thương tích
liên quan lao động sản xuất (10%), “khác” (4%) và tai nạn thương tích trường học (3%) Nếu chỉ tính chi phí trực tiếp cho y tế, tai nạn giao thông chiếm tỷ lệ chi phí cao nhất 44%, tiếp đến là tai nạn thương tích xảy ra ở nhà 43%
Như mong đợi, bảng 2 cho thấy tai nạn thương tích mức độ rất nặng có chi phí đơn vị cao nhất, đặc biệt loại tai nạn giao thông chi phí đơn vị lên đến 1.501.000 đồng Chi phí đơn
vị tỷ lệ thuận với mức độ nặng của thương tích
Trang 4TCNCYH 22 (2) - 2003
Bảng 2 Chi phí đơn vị (nghìn đồng) theo loại và mức độ nặng nhẹ của thương tích
(số tai nạn thương tích trong ngoặc đơn)
Loại tai nạn thương tích
Mức độ nặng nhẹ Nhà Giao thông Làm việc Trường học Khác Tổng Nhẹ 52 (171) 80 (147) 52 (78) 39 (15) 59 (23) 61 (434) Vừa 117 (352) 143 (270) 87 (117) 82 (41) 86 (37) 118 (817) Nặng 373 (199) 462 (122) 271 (67) 245 (22) 293 (26) 371 (436) Rất nặng 1362 (22) 1501 (15) 465 (5) - (0) 922 (3) 1280 (45) Không biết 1213 (2) 211 (4) - (0) - (0) 37 (2) 418 (8) Các mức độ 210 (746) 233 (558) 130 (267) 120 (78) 165 (91) 199 (1740) Tổng chi phí (triệu đ) 156.6 130.1 34.7 9.3 15.0 345.7 Bảng 3, chi phí đơn vị của các mức độ thương tích và các loại tai nạn khác nhau được chuyển sang đo lường bằng thời gian làm việc Với một thương tích nhẹ, nạn nhân cần làm việc trong vòng 0,3 tháng mới kiếm đủ tiền chi phí Nếu ai đó không may bị một thương tích rất nặng thì cần phải làm việc 7,3 tháng mới kiếm đủ tiền chi phí
Bảng 3 Chi phí đơn vị tính bằng thời gian làm việc (tháng) theo loại và mức độ nặng nhẹ
của tai nạn thương tích
Loại tai nạn thương tích
Các mức độ 1.2 1.3 0.7 0.7 0.9 1.1
iv Bàn luận
1 Những hạn chế của đề tài:
Một trong những vấn đề là sai số nhớ lại có
thể làm tỷ lệ bị tai nạn thương tích trong nghiên
cứu thấp hơn so với thực tế, phụ thuộc vào
khoảng thời gian từ khi bị tai nạn đến lúc được
phỏng vấn dài hay ngắn Nghiên cứu từ Ghana
của Mock và cộng sự [4] cho thấy “thời gian
nhớ lại càng dài sẽ làm tỷ lệ mới mắc được ước
lượng thấp hơn so với thời gian nhớ lại càng
ngắn Thời gian nhớ lại càng ngắn (1 - 3 tháng)
nên được sử dụng khi tính toán tỷ lệ mới mắc
của tai nạn thương tích không có tử vong”
Theo đó, thời gian nhớ lại 3 tháng được áp dụng ở nghiên cứu này
Chúng tôi đã quyết định “tính trung bình ngày” cho tất cả các loại bệnh nhân và ước tính chi phí cho y tế của chính phủ là như nhau ở tất cả các tuyến bệnh viện Vì vậy chi phí cho những trường hợp điều trị ở tuyến tỉnh và trung
ương được ước tính sẽ thấp hơn so với thực tế Ngược lại, chi phí cho những người điều trị tại trạm y tế xã được ước tính sẽ cao hơn
Trang 5TCNCYH 22 (2) - 2003
Hầu hết đối tượng nghiên cứu là nông dân
và rất khó để ước tính số sản phẩm không được
làm ra bởi họ Có ý kiến cho rằng trong một vụ
mùa chỉ có một số ngày là quan trọng Tuy
nhiên trên thực tế, để có một vụ mùa tốt, người
nông dân phải chăm sóc trong suốt cả mùa vụ
Hơn nữa, ở Ba Vì, hầu hết nông dân có thể
kiếm tiền từ những công việc khác như chăn
nuôi, thủ công, làm thuê, buôn bán v v Vì
vậy chúng tôi sử dụng thu nhập trung bình
ngày để ước tính chi phí của sản phẩm không
được làm ra
Thông thường, chi phí gián tiếp của trẻ em
và người già như sản phẩm không được làm ra
không được tính, nhưng chúng tôi vẫn tính bởi
lẽ nông nghiệp ở Ba Vì bao gồm nhiều hoạt
động có thể được làm bởi người ở các lứa tuổi
khác nhau Ví dụ cho gia súc, gia cầm ăn hay
tưới rau trong vườn có thể được làm bởi trẻ em
cũng như người già
Mô hình chi phí:
Chúng tôi không tìm thấy các nghiên cứu
như thế này ở các nước đang phát triển, nhưng
rất nhiều ở các nước phát triển Một nghiên cứu
ở Motala, Thuỵ Điển [3] , tất cả các tai nạn
thương tích xảy ra trong vòng 12 tháng cần
được chăm sóc y tế đã được ghi lại Chi phí cho
sản phẩm không được làm ra chiếm tỷ lệ cao
nhất, 77% tổng chi phí, trong khi đó chi phí
cho y tế chỉ chiếm 23% Trong nghiên cứu này
của chúng tôi, chi phí cho sản phẩm không
được làm ra chỉ là 32%, trong khi chi phí cho y
tế là 50%
Năm 1991, một nghiên cứu [1] ở Rauma,
Na Uy ước tính chi phí sử dụng tài khoản bệnh
viện và hoàn trả của bảo hiểm Tai nạn giao
thông chiếm tỷ lệ cao nhất, 36% Trong nghiên
cứu của chúng tôi, tai nạn giao thông chiếm
44% - phần lớn nhất của chi phí trực tiếp cho y
tế Tai nạn thương tích tại nhà chiếm 43% chi
phí trực tiếp cho y tế ở nghiên cứu của chúng
tôi, chiếm 29% tổng chi phí cho y tế trong
nghiên cứu ở Na Uy, có lẽ phản ảnh môi trường gia đình ở Na uy an toàn hơn
Những sự khác nhau về kết quả giữa nghiên cứu của chúng tôi và một số nghiên cứu ở các nước giàu có thể là do có sự khác nhau lớn về
điều kiện kinh tế xã hội, mô hình tai nạn thương tích, cũng như các hệ thống tính chi phí Mặc dù vậy, chúng cũng cho một kết quả giống nhau Đó là thương tích càng nặng thì chi phí càng lớn
Gánh nặng kinh tế của tai nạn thương tích:
Bằng cách chuyển chi phí ước tính bằng tiền của tai nạn thương tích trong vòng một năm sang thu nhập hàng năm của người dân Ba Vì, chúng tôi có được hình ảnh về gánh nặng kinh
tế của tai nạn thương tích đè lên vai các hộ gia
đình Thu nhập bình quân đầu người hàng năm
ở Ba Vì khoảng 1.896.000 đồng, vì vậy chi phí của tai nạn thương tích trong vòng một năm tương đương thu nhập hàng năm của 3.412.539.000 đồng/1.896.000=1.800 người 90% của chi phí này đè lên vai các nạn nhân, chỉ 8% rơi vào Chính phủ và 2% rơi vào Bảo hiểm y tế (bảng 1) Nếu chỉ nhìn vào chi phí cho y tế, 79% chi phí cho y tế được trả trực tiếp
từ túi các hộ gia đình, phản ảnh chính xác tình hình tài chính y tế của Việt Nam [8]
Hơn nữa, bảng 3 cho thấy gánh nặng kinh tế của tai nạn thương tích đè lên vai các nạn nhân Nếu ai đó không may bị tai nạn giao thông với thương tích rất nặng, người đó phải làm việc 8,6 tháng mới kiếm đủ tiền chi phí Nạn nhân
và gia đình họ sẽ vô cùng khó khăn trong cuộc sống vì áp lực tài chính đó Kết quả này, bằng cách nào đó, đã minh chứng cho khái niệm
“bẫy bệnh tật-nghèo đói” – trong trường hợp này là “bẫy tai nạn thương tích-nghèo đói”
v Kết luận
• Tổng chi phí do tai nạn thương tích gây
ra tại huyện Ba Vì năm 2000 được ước tính tương đương với thu nhập 1 năm của 1800 người
Trang 6TCNCYH 22 (2) - 2003
• Tai nạn thương tích tại nhà và tai nạn
giao thông gây chi phí nhiều nhất (lần lượt là
45% và 38%)
• 90% gánh nặng kinh tế của tai nạn
thương tích đè lên vai các nạn nhân
Khuyến nghị
• Cần phải có các chương trình phòng
chống tai nạn thương tích, đặc biệt là thương
tích tại nhà và tai nạn giao thông vì chúng, mỗi
loại, chiếm gần một nửa tổng chi phí
• Cần phải có một cơ chế tài chính y tế
mới để giảm gánh nặng đè lên vai nạn nhân
Tài liệu tham khảo
1 Aarseth S, Vatne J (1991), Injuries in
Rauma county, Norway 1983 Tidsskr Nor
Laegeforen; 111: 41-44
2 Drummond MF, Stoddart GL, Torrance
GW (1989), Methods for the economic
evaluation of health care programmes Oxford
Medical Publications, Oxford
3 Lindqvist KS, Brodin H (1996), One
year economic consequences of accidents in a
Swedish municipality Accid Anal Prev; 28:
209-219
4 Mock C, Acheampong F, Adjei S, Koepsell T (1999), The effect of recall on estimation of incidence rate for injury in Ghana Int J Epidemiol; 28: 750-5
5 Pham NP (1997), Road traffic mortality and morbidity in Vietnam Emory University, Rollins School of Public Health, Dept of International Health Atlanta, USA, July
6 World Bank Vietnam Moving Forward: Achievements and challenges in the Transport Sector Traffic Accidents Available from www.worldbank.org.vn/rep12/box1-1.htm
7 World Health Organization Injury: A leading cause of the global burden of disease Available from: www.who.int/violence-injury-prevention/injury/burden.htm
8 World Health Organization (2000), Health Systems: Improving performance, The World Health Report, WHO, Geneva, pp
192-5
Summary
The economic burden of unintentional injuries
This study sought to estimate the costs of various unintentional injuries in Bavi district during one year; and to describe how the economic burden of unintentional injuries was distributed between households, government and the health insurance agency Our cohort study involved four cross sectional household surveys among sampled communities in the Bavi District during the year
2000, each asking about injuries in the preceding 3 months The costing system in public health care in Vietnam was applied as well as information from the victims The total cost of injuries for the Bavi District was estimated to be 3,412,539,000 VND, equivalent to the yearly income of 1,800 people Ninety percent of this economic burden fell on households, only 8% on government and 2%
on the health insurance agency The cost of a severe injury to the victim corresponded to approximately 7 months of earned income Home and traffic injuries together accounted for more than 80% of the total cost, 45% and 38% respectively