phép biện chứng duy vật phương pháp luận chung nhất của hoạt động nhận thức và thực tiễn y học Trần Văn Thụy Bộ môn Mác - Lênin - Đại học Y Hà Nội Phép biện chứng duy vật là môn k
Trang 1phép biện chứng duy vật phương pháp luận chung nhất của hoạt động nhận thức và thực tiễn y học
Trần Văn Thụy
Bộ môn Mác - Lênin - Đại học Y Hà Nội
Phép biện chứng duy vật là môn khoa học (KH) về mối liên hệ phổ biến, về những quy luật vận
động và phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy Bằng phương pháp phân tích - tổng hợp, quy nạp - diễn dịch và thảo luận nhiều lần với các học viên các lớp cao học, nghiên cứu sinh của Trường Đại học Y Hà Nội, cho thấy, phép biện chứng duy vật có vai trò phương pháp luận quan trọng đối với hoạt động nhận thức và thực tiễn y học:
- Là công cụ nhận thức của người thầy thuốc
- Là cơ sở lý luận để xây dựng lý thuyết và lý giải các thành tựu của nghiên cứu khoa học
- Là cơ sở lý luận để giải quyết những vấn đề triết học nảy sinh trong quá trình NC y học
- Là KH đúng đắn để tư duy lý luận và nghệ thuật vận dụng các khái niệm của người thầy thuốc
- Là cơ sở lý luận giúp người thầy thuốc đấu tranh chống lại các tư tưởng chính trị phản động thông qua khoa học tự nhiên
I Đặt vấn đề
Sự phát triển nhanh của khoa học trong thế
kỷ XX đã tạo thành tiền đề cho những biến đổi
to lớn trong kỹ thuật, trong sản xuất; đồng thời
đã phá vỡ những nguyên lý, những khái niệm,
những phạm trù khoa học cũ và hình thành
những nguyên lý, phạm trù khoa học mới
Các nhà khoa học nhất là những người
đang phải giải quyết những vấn đề có tính chất
nền tảng khoa học chung, khoa học chuyên
ngành không thể dừng lại trong phạm vi những
vấn đề chuyên môn hẹp của mình, không thể
nào không vấp phải những vấn đề phương pháp,
phương pháp luận nói chung, những vấn đề triết
học nói riêng do chính lĩnh vực của mình đề ra
và buộc mình phải suy nghĩ, giải quyết Trước
tình hình như vậy loại triết học nào có thể đóng
vai trò phương pháp luận cho khoa học? Thực
tiễn phát triển của khoa học hiện đại chứng tỏ
rằng phương pháp luận cho khoa học chỉ có thể
là phép biện chứng duy vật [PBCDV]
Việc nghiên cứu PBCDV phương pháp luận
chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn
đã có nhiều nhà khoa học quan tâm, song việc
nghiên cứu PBCDV là phương pháp luận chung
nhất của hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn y học còn rất ít, chưa sâu sắc Xuất phát từ thực tế ấy, chúng tôi chọn phép biện chứng duy vật phương pháp luận chung nhất của hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn
y học làm vấn đề nghiên cứu
II đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu là pháp biện chứng duy vật Đó là khoa học về các phạm trù, các quy luật vận động và phát triển chung nhất của
tự nhiên, xã hội và tư duy
2 Phương pháp nghiên cứu: là đề tài triết học, nên phương pháp nghiên cứu được sử dụng là: phân tích-tổng hợp, quy nạp-diễn dịch, lịch sử-lôgíc; đồng thời tiến hành thảo luận nhiều lần đối với học viên các lớp cao học, nghiên cứu sinh trường đại học Y Hà Nội
III Kết quả
1 Phương pháp và phương pháp luận
- Phương pháp (p.p) + Để nhận thức được sự vật, đi sâu khám phá những bí ẩn của chúng, điều quan trọng đối với người nghiên cứu là phải có những phương
Trang 2pháp P.p là hệ thống các nguyên tắc điều chỉnh
hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực
tiễn xuất phát từ các quy luật vận động của các
khách thể đã được nhận thức
+ Xét về nguồn gốc, a/ p.p không phải là sự
bịa đặt tùy tiện của con người, mà hệ thống
nguyên tắc tạo nên nội dung của p.p bao giờ
cũng xuất phát từ các quy luật vận động của
khách thể, b/ Các quy luật ấy chỉ là cơ sở khi
xét tới cùng, còn cơ sở lý luận trực tiếp của p.p
là các quy luật của khách thể đã được con
người nhận thức, được diễn đạt dưới dạng lý
luận; c/ Lý luận này là hạt nhân, là cốt lõi và từ
đó các nguyên tắc tạo nên nội dung của p.p
được xây dựng
Như vậy, p.p một mặt có nội dung khách
quan, bị quyết định bởi bản chất, đặc điểm của
khách thể nghiên cứu thông qua lý luận phản
ánh nó; mặt khác, p.p chỉ tồn tại trong đầu,
trong ý thức, mà do đó trong hoạt động có ý
thức của con người chứ không tồn tại bên ngoài
và độc lập với con người
+ Hệ thống các p.p của khoa học hiện đại
rất đa dạng Cách phân loại chủ yếu là dựa vào
các tính chất của các quy luật tạo nên cốt lõi
của p.p Bằng cách đó, người ta phân ra ba loại:
các phương pháp riêng chỉ áp dụng trong phạm
vi một bộ môn khoa học, phương pháp chung
áp dụng được cho một số bộ môn khoa học,
phương pháp phổ biến áp dụng được tất cả các
bộ môn khoa học Phương pháp phổ biến đáp
ứng được các yêu cầu của khoa học hiện đại và
của hoạt động thực tiễn là phương pháp biện
chứng
- Phương pháp luận (P.P.L)
+ Để có thể lựa chọn được phương pháp
đúng, khoa học trong nghiên cứu, người nghiên
cứu phải có tri thức khoa học về phương pháp,
tức là phương pháp luận Ppl là lý luận về các
phương pháp nhận thức và cải tạo hiện thực -
đó là hệ thống chặt chẽ các quan điểm, nguyên
lý chỉ đạo tìm kiếm xây dựng, lựa chọn và vận
dụng các phương pháp Trong các nguyên lý chỉ đạo, quan trọng nhất là:
Các nguyên lý thế giới quan gắn liền với khách thể nghiên cứu và có tác dụng định hướng trong quá trình tìm tòi lựa chọn và vận dụng phương pháp
Các nguyên lý chung về cách xem xét, nghiên cứu sự vật, các nguyên tắc chung về vận dụng phương pháp, về việc sử dụng tài liệu, sự kiện trong một ngành khoa học
Lý luận chung về bản thân các phương pháp của ngành khoa học ấy Tất cả các bộ phận trên gắn bó mật thiết với nhau tạo nên hệ thống lý luận chặt chẽ, thống nhất, là thành phần không thể thiếu của các môn khoa học Mỗi khoa học có phương pháp luận của mình + Phương pháp luận có nhiều loại:
Có phương pháp luận riêng chỉ dùng cho từng bộ môn khoa học nhất định;
Có phương pháp luận chung áp dụng được cho một số bộ môn khoa học;
Phương pháp luận chung nhất, phổ biến nhất đó là triết học Nhưng triết học có nhiều loại: có triết học đúng đắn, khoa học, có triết học sai lầm, phản khoa học Trong tình hình phát triển của khoa học hiện nay thì triết học thực sự khoa học đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu của khoa học hiện đại là triết học Mác- Lênin xét ở góc độ là học thuyết phương pháp chung nhất của hoạt động nhận thức và hoạt
động thực tiễn
2 Sự thống nhất giữa lý luận và phương pháp trong phép biện chứng duy vật
- Phép biện chứng duy vật [PBCDV] là môn khoa học về mối liên hệ phổ biến, về những quy luật vận động và phát triển chung nhất của
tự nhiên, xã hội và tư duy Phép biện chứng duy vật bao gồm hai nguyên lý, sáu cặp phạm trù và
ba quy luật cơ bản vừa là lý luận duy vật biện chứng, vừa là lý luận nhận thức khoa học, vừa
là lôgíc học của chủ nghĩa Mác
Trang 3- Trong khi vạch ra tính chất biện chứng
chung nhất của thế giới thông qua những phạm
trù, quy luật chung nhất của sự vận động và
phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy, phép
biện chứng với tính cách là phương pháp biện
chứng đã rút ra những quan điểm, nguyên tắc
xuất phát để điều chỉnh hoạt động nhận thức và
thực tiễn của con người Đi sâu vào từng
nguyên lý, phạm trù và quy luật của phép biện
chứng duy vật ta thấy rõ sự thống nhất chặt chẽ
giữa lý luận và phương pháp của phép biện
chứng duy vật:
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của
phép biện chứng duy vật khái quát bức tranh
toàn cảnh chằng chịt những mối liên hệ của thế
giới Tính chất vô hạn của thế giới khách quan,
tính chất có hạn của sự vật, hiện tượng và quá
trình của thế giới chỉ có thể giải thích được
trong mối liên hệ phổ biến và được quyết định
bởi nhiều mối liên hệ có vai trò, vị trí khác
nhau Sự liên hệ phổ biến là đặc trưng phổ quát
của thế giới Quan điểm toàn diện là nguyên
tắc phương pháp luận chung nhất được rút ra từ
nguyên lý về mối liên hệ phổ biến sẽ chỉ đạo
mọi hoạt động và suy nghĩ của con người
Nguyên lý về sự phát triển của phép biện
chứng duy vật phản ánh đặc trưng biện chứng
phổ quát nhất của thế giới Mọi sự vật, hiện
tượng luôn vận động và biến đổi, khuynh
hướng chung của sự vận động và biến đổi là
phát triển Quan điểm phát triển là nguyên tắc
chung nhất được rút ra từ nguyên lý về sự phát
triển sẽ chỉ đạo mọi hành động và suy nghĩ của
con người
Những nguyên lý của phép biện chứng duy
vật đã trình bày trên là quan niệm bao quát
những tính chất biện chứng chung nhất của thế
giới Còn các cặp phạm trù và quy luật là lý
luận nghiên cứu các mối liên hệ và khuynh
hướng phát triển trong thế giới các sự vật, hiện
tượng, quá trình cụ thể Vì vậy, các phạm trù và
quy luật của phép biện chứng duy vật cho ta
phương pháp luận thực hiện quan điểm toàn
diện và quan điểm phát triển gắn liền với quan
điểm lịch sử - cụ thể trong nhận thức và hoạt
động thực tiễn
Cặp phạm trù cái riêng - cái chung; tất nhiên - ngẫu nhiên; bản chất - hiện tượng là cơ
sở phương pháp luận trực tiếp của phương pháp phân tích - tổng hợp; diễn dịch - quy nạp; khái quát hóa; trừu tượng hóa để giúp chúng ta rút ra
được mối liên hệ bản chất, từ đó hiểu được toàn
bộ các mối liên hệ theo một hệ thống nhất
định
Cặp phạm trù nguyên nhân - kết quả; khả năng - hiện thực là cơ sở phương pháp luận để chỉ rõ trình tự kế tiếp nhau của các mối liên hệ
và sự phát triển là một quá trình tự nhiên Cặp phạm trù nội dung - hình thức là cơ sở phương pháp luận để xây dựng các hình thức tồn tại trong sự phụ thuộc vào nội dung, phản
ánh tính đa dạng các phương pháp nhận thức và hoạt động thực tiễn
Ba quy luật cơ bản của Phép biện chứng duy vật có ý nghĩa phương pháp luận chỉ đạo mọi hoạt động của con người để thực hiện quan
điểm toàn diện, quan điểm phát triển và quan
điểm lịch sử - cụ thể về phương diện vạch ra nguồn gốc, động lực, cách thức, xu hướng phát triển tiến lên của các sự vật, hiện tượng trong thế giới
3 Sự đối lập và thống nhất của phép biện chứng duy vật và phép siêu hình trong tư duy
- Phép biện chứng duy vật khác về nguyên tắc với phép siêu hình trong xem xét trạng thái tồn tại của các sự vật hiện tượng:
Phép siêu hình cho rằng giữa các sự vật và hiện tượng của thế giới không liên hệ với nhau Nguồn gốc của sự vận động là do sự xung đột của những lực lượng bên ngoài Quá trình phát triển, không hình thành cái mới trong sự vận
động và phát triển không có tính định hướng Phép biện chứng duy vật cho rằng giữa các
sự vật và hiện tượng của thế giới có mối liên hệ với nhau, không tách rời nhau Nguồn gốc của
sự vận động là do sự thống nhất và đấu tranh
Trang 4giữa các mặt đối lập Quá trình phát triển có sự
tiêu diệt cái cũ và xuất hiện cái mới Trong sự
vận động và phát triển có sự định hướng từ thấp
đến cao
- Sự thống nhất của phép biện chứng và
phép siêu hình trong tư duy
Khi tiếp cận nhận thức thế giới, phép siêu
hình và phép biện chứng nói lên hai cực bao
gồm trong đó các mức độ trừu tượng hóa trong
quá trình phản ánh đối tượng nhận thức
Ăngghen trong "Chống Duy rinh" và "Phép
biện chứng của tự nhiên" đã làm rõ ưu và
nhược điểm của hai cực này Để nhận thức
đúng đắn thế giới vốn diễn biến một cách
khách quan, biện chứng cần phải két hợp cả hai
cách tiếp cận nhận thức toàn bộ - biện chứng và
trừu tượng - siêu hình Chỉ có như vậy mới có
thể kết hợp được ưu điểm của cả hai cách tiếp
cận
IV bàn luận
Đối tượng của y học là con người bình
thường hoặc bệnh lý - một thực thể phức hợp có
ý thức Y học là một khoa học phức hợp rộng
lớn những khoa học chung, cũng như riêng
Phép biện chứng duy vật có vai trò phương
pháp luận quan trọng đối với các hoạt động
nhận thức và thực tiễn y học ở từng khía cạnh
sau:
1 Phép biện chứng duy vật là công cụ
nhận thức của người thầy thuốc
- ở khía cạnh lý luận, phép biện chứng duy
vật có thể giúp người thầy thuốc định hướng
công tác nghiên cứu, giúp người thầy thuốc khi
bắt tay vào nghiên cứu đối tượng của mình bao
giờ cũng xuất phát từ một lập trường triết học
nhất định, thấy trước được phương hướng vận
động chung của đối tượng nghiên cứu, xác định
được sơ bộ các mốc cơ bản mà việc nghiên cứu
phải trải qua
- ở khía cạnh phương pháp, những nguyên
tắc chung của phép biện chứng duy vật đã được
rút ra trong quá trình nghiên cứu triết học thực
sự giúp người thầy thuốc định hướng phương pháp cho các hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn trong y học Thí dụ:
+ Nguyên tắc toàn diện của phép biện chứng duy vật đối với các hoạt động nhận thức
và hoạt động thực tiễn của người thầy thuốc có các nội dung chính sau:
Phải xem xét toàn diện các mối liên hệ của
đối tượng nghiên cứu;
Trong tổng số các mối liên hệ đã tìm ra phải rút ra được mối liên hệ bản chất, chủ yếu
để hiểu sâu sắc bản chất đối tượng;
Từ bản chất của đối tượng đã phát hiện, quay trở lại hiểu toàn bộ đối tượng trên cơ sở liên kết mối liên hệ bản chất, chủ yếu với tất cả các mối liên hệ khác của đối tượng để đảm bảo tính đồng bộ khi giải quyết mọi vấn đề với đối tượng trong thực tiễn
Quan điểm toàn diện đối lập với mọi suy nghĩ, hành động phiến diện, siêu hình trong y học
+ Nguyên tắc phát triển của phép biện chứng duy vật đối với hoạt động nhận thức và thực tiễn của người thầy thuốc có các nội dung chính sau:
Khi xem xét đối tượng nghiên cứu phải đặt
nó trong sự vận động, trong sự phát triển, phải phát hiện ra xu hướng biến đổi chuyển hóa của chúng;
Quan điểm phát triển đối lập với quan điểm tuyệt đối hóa một nhận thức nào đó về đối tượng có được trong hoàn cảnh cụ thể nhất
định, xem đó là nhận thức duy nhất đúng về toàn bộ đối tượng trong quá trình phát triển tiếp theo
+ Nguyên tắc quyết định luận của phép biện chứng duy vật đối với hoạt động nhận thức
và thực tiễn của người thầy thuốc Có các nội dung chính như sau:
Khi xem xét toàn diện các mối liên hệ của
đối tượng nghiên cứu, người thầy thuốc lần lượt ghi nhận các thuộc tính của đối tượng và lý giải
Trang 5chúng thông qua các phạm trù của khoa học
chuyên môn;
Khi nguời thầy thuốc chuyển sang giải
thích thuộc tính này hay thuộc tính khác của
đối tượng là đã chuyển từ ghi nhận thuộc tính
đối tượng sang tìm hiểu nguyên nhân của
chúng ở giai đoạn phát triển này của nhận
thức, nguyên tắc quyết định luận bắt đầu giữ
vai trò chủ đạo, nó đòi hỏi phải vạch ra tính
quy định tất yếu của từng thuộc tính được phát
hiện ra trong đối tượng nghiên cứu Nguyên tắc
quyết định luận hình thành truớc hết trên cơ sở
thừa nhận mối liên hệ tất yếu giữa nguyên nhân
và kết quả Nếu nguyên tắc quyết định luận
hình thành trên cơ sở tính nhân quả thì ở đây
phải phân tích nguyên nhân và kết quả, những
đặc điểm của mối liên hệ nhân quả;
+ Vận dụng lý luận của phép biện chứng
duy vật về nguyên nhân và kết quả vào việc
xem xét nguyên nhân của bệnh có thể kết luận
rằng mọi bệnh đều có nguyên nhân xuất hiện,
tồn tại và tiêu vong Vì vậy, không có vấn đề có
hay không có nguyên nhân của bệnh nào đó mà
chỉ có vấn đề các nguyên nhân ấy đã được phát
hiện hay chưa phát hiện mà thôi Nhiệm vụ
chính của nhận thức khoa học là đi tìm những
nguyên nhân chưa được phát hiện
Trong quá trình đi tìm nguyên nhân, người
thầy thuốc cần chú ý:
Vì mối liên hệ nhân quả tồn tại khách quan,
không phụ thuộc vào ý thức con người nên chỉ
có thể tìm nguyên nhân của bệnh ở trong các
triệu chứng chứ không thể ở ngoài đó
Vì nguyên nhân luôn luôn có trước kết quả
nên khi đi tìm nguyên nhân của một bệnh nào
đó cần tìm trong những sự kiện, những mối liên
hệ xảy ra trước khi bệnh xuất hiện
Vì dấu hiệu đặc trưng của nguyên nhân
trong mối liên hệ với kết quả là nguyên nhân
sinh ra kết quả, cho nên xác định nguyên nhân
của bệnh nào đó, cần chú ý đến đặc tính ấy
Vì bệnh có thể do nhiều nguyên nhân sinh
ra nên trong quá trình xác định nguyên nhân
của một bệnh nào đó, cần hết sức tỷ mỷ, thận trọng, vạch ra cho được kết quả tác động của từng mặt, từng sự kiện, từng mối liên hệ cũng như các tổ hợp khác nhau của chúng trong việc làm nảy sinh triệu chứng để trên cơ sở đó xác
định đúng nguyên nhân của bệnh
Khi xem xét mối liên hệ nguyên nhân và bệnh, chúng ta thấy rằng bệnh do nguyên nhân gây ra phụ thuộc vào những điều kiện nhất
định Các điều kiện này cùng với các hiện tượng khác có mặt khi nguyên nhân gây nên bệnh gọi là hoàn cảnh Thực tiễn cho thấy một nguyên nhân nhất định trong những hoàn cảnh nhất định có thể gây nên bệnh nhất định Điều
đó chứng tỏ mối liên hệ nguyên nhân và bệnh trong những hoàn cảnh nhất định có tính tất yếu Vì mối liên hệ nguyên nhân - bệnh mang tính tất yếu nên có thể dựa vào nó mà điều trị Trong quá trình ấy, muốn loại bỏ một bệnh nào
đó, cần phải loại bỏ nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân bên trong sinh ra bệnh
+ V v và v.v
2 Phép biện chứng duy vật là cơ sở lý luận đúng đắn để xây dựng lý thuyết và lý giải các thành tựu của nghiên cứu khoa học
- ở giai đoạn đầu của quá trình xây dựng lý thuyết khoa học- tức giai đoạn phải đề xuất những tiền đề, những tư tưởng cơ bản với tư cách là những điểm xuất phát của lý thuyết để khái quát những tài liệu thực nghiệm thì người thầy thuốc phải vận dụng những quan điểm triết học Đ iều đó có nghĩa muốn xây dựng
được một lý thuyết đúng đắn, người thầy thuốc phải xuất phát từ lập trường triết học duy vật, phải có cách nhìn, cách xem xét đối tượng một cách biện chứng nhằm tránh tư duy tuỳ tiện, chủ quan và phiến diện
- Giai đoạn hai, sau khi đưa ra được những tiền đề, những tư tưởng cơ bản, người thầy thuốc vận dụng những phương pháp, thủ thuật riêng của ngành Y để giải quyết vấn đề chuyên môn của mình ở giai này các phương pháp
Trang 6riêng của y học nổi lên hàng đầu, có vai trò
quyết định
- ở giai đoạn ba, giai đoạn giải thích các
thành tựu đã thu được, vai trò triết học duy vật
biện chứng nổi lên hàng đầu Các quan điểm
triết học liên quan đến đề tài nghiên cứu của y
học được người thầy thuốc vận dụng để giải
thích về mặt lý luận, bản chất các thành tựu đã
thu được ở giai đoạn trước đó
3 Phép biện chứng duy vật là cơ sở lý
luận duy nhất đúng đắn để giải quyết những
vấn đề triết học nảy sinh trong quá trình
nghiên cứu y học
Thực tiễn cho thấy trong khi đi sâu tìm hiểu
các vấn đề khác nhau của đối tượng y học, y
học không thể tránh khỏi vấp phải những vấn
đề mà tự mình không giải quyết được vì những
vấn đề ấy tuy gắn bó với y học nhưng lại là
những vấn đề triết học Ví dụ, do sự xâm nhập
của các tư tưởng và phương pháp của khoa học
tự nhiên hiện đại dẫn đến những môn khoa học
mới của sinh học như lý-sinh, hoá-sinh, điều
khiển học sinh học, sinh học phân tử… Việc
xác định nội dung và phương pháp của các
khoa học đó một cách đúng đắn chỉ có thể tìm
thấy trong phương pháp luận của phép biện
chứng duy vật
4 Phép biện chứng duy vật là khoa học
duy nhất đúng đắn về tư duy lý luận về nghệ
thuật vận dụng các khái niệm của người
thầy thuốc
Thực nghiệm y học có vai trò hết sức quan
trọng trong sự hình thành lý thuyết y học
Nhưng từ thực nghiệm không thể rút ra đầy đủ
toàn bộ lý thuyết khoa học Các tài liệu thực
nghiệm chỉ mới là những dữ liệu ban đầu
Muốn từ những dữ liệu ấy phát hiện ra các quy
luật của đối tượng, thâm nhập vào bản chất sâu
xa của đối tượng thì cần phải có một quá trình
khái quát hoá, trừu tượng hoá, một quá trình đi
từ những sự kiện riêng lẻ đến những khái niệm
chung có tầm bao quát hẹp đến những khái
niệm có tầm bao quát rộng hơn - quá trình ấy là quá trình tư duy lý luận
Để đi đến các kết quả mới, khoa học bao giờ cũng phải đi bằng con đường suy rộng khoa học mà công cụ của nó là các khái niệm, các phạm trù - những "tế bào" của tư duy lý luận Vì vậy, các kết quả nghiên cứu Y học phụ thuộc rất nhiều vào nghệ thuật vận dụng khái niệm, phạm trù, nghệ thuật vận dụng các hình thức trừu tượng Muốn nắm được nghệ thuật vận dụng các khái niệm, cần nắm được phương pháp tư duy lý luận đúng đắn nhất, phù hợp nhất với sự phát triển của đối tượng nghiên cứu
Y học hiện đại yêu cầu người thầy thuốc tiếp cận con người bình thường hoặc bệnh lý là một phức hợp, là một thực thể sinh vật - xã hội phức tạp, luôn vận động, luôn biến đổi Muốn phản
ánh chúng một cách đúng đắn, thì những khái niệm về nó phải "phải được mềm dẻo, năng
động, liên hệ với nhau, thống nhất trong những
đối lập"[3, 155] Yêu cầu đó chỉ có thể đạt
được nhờ tư duy biện chứng, nhờ nghệ thuật vận dụng các khái niệm một cách biện chứng
- Khoa học tự nhiên đã thâm nhập vào y học ngày càng nhiều góp phần đi sâu vào đối tượng của y học và đã làm đảo lộn nhiều khái niệm đòi hỏi các nhà y học phải biết vận dụng không chỉ các khái niệm có sẵn, các phạm trù
cố định bất biến như lôgíc hình thức đang làm,
mà còn phải biết vận dụng các khái niệm, phạm trù thường xuyên biến đổi, chuyển hoá lẫn nhau nữa Phép biện chứng duy vật góp phần
đáp ứng được yêu cầu đó của người thầy thuốc
5 Phép biện chứng duy vật là cơ sở lý luận đúng đắn giúp người thầy thuốc đấu tranh chống lại tư tưởng chính trị phản động thông qua khoa học tự nhiên
Ví dụ: Lợi dụng những thành tựu của di truyền học hiện đại, các nhà tư tưởng tư sản tuyên truyền cái gọi là lý thuyết ưu sinh Họ cho rằng do di truyền có thể tạo ra những con người vĩ đại nên trong tương lai loài người sẽ phân chia thành những phái ưu tư, một thiểu số
Trang 7người có trí óc phát triển rất cao, có ý chí mạnh
mẽ và có khả năng, cảm thụ những giá trị tinh
thần, còn số đông khác thì trí tuệ thông minh
phát triển thấp và là những kẻ đầu sai Đó là cơ
sở của thuyết phân biệt chủng tộc, của ý đồ
"sinh học hóa" những hiện tượng xã hội
Thuyết ưu sinh đã gây nên làn sóng công phẫn
trong các nhà triết học, xã hội học và các nhà
khoa học tiến bộ trên thế giới…
V Kết luận
1 Mỗi bộ môn của y học đều có một hệ
thống phương pháp và phương pháp luận riêng
của mình Trong hoạt động nhận thức và thực
tiễn y học, người nghiên cứu đều phải chịu sự
chi phối bởi phương pháp và phương pháp luận
phổ biến của triết học Phương pháp và phương
pháp luận phổ biến đáp ứng được các yêu cầu
của hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn
y học là phương pháp và phương pháp luận của
phép biện chứng duy vật
2 Phép biện chứng duy vật là môn khoa
học về mối liên hệ phổ biến, về những quy luật
vận động và phát triển chung nhất của tự nhiên,
xã hội và tư duy Vai trò phương pháp luận của
PBCDV đối với hoạt động nhận thức và thực
tiễn y học ở các khía cạnh sau: là công cụ nhận
thức của người thầy thuốc; là cơ sở lý luận
khoa học để xây dựng lý thuyết và lý giải các thành tựu của hoạt động nhận thức và thực tiễn
y học; là khoa học đúng đắn về tư duy lý luận
và vận dụng khái niệm của người thầy thuốc; là cơ sở lý luận giúp người thầy thuốc đấu tranh chống lại các tư tưởng không đúng thông qua khoa học tự nhiên
Tài liệu tham khảo
1 Ph Ăngghen Chống Duyrinh Nxb Sự thật, Hà nội, 1984
2 Ph Ăngghen Biện chứng của tự nhiên NXB Sự thật, Hà nội, 1971
3 V.I Lênin Toàn tập NXb Tiến bộ, Matxcơva, 1981, T 29, tr 155
4 Chủ nghĩa duy vật biện chứng: Lý luận
và vận dụng Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin,
Hà nội, 1985
5 Nguyễn Trọng Chuẩn, Tô Huy Hợp, Lê Hữu Tầng, Nguyễn Duy Thông Vai trò phương pháp luận của triết học Mác - Lênin đối với sự phát triển của khoa học tự nhiên Nxb Khoa học xã hội, Hà nội, 1977
6 A.S Georgiepxki Phương pháp học và phương pháp công tác nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y học Nxb Y học và Mir Matxcơva, 1982
Dialectical materialism, a general methodolody for understanding and the practice of medicine The dialectical materialism is a science that deals with the universal relationship and the law of nature, society and thought Through analysis and synthesis, through inductive and deductive
methods and many discussions with post-graduates from Hanoi Faculty of Medicine we know that dialectical materialism plays an important role as a methodology for understanding and the practice
of medicine
It is an implement of the physician's understanding
It forms a basis of building up a theory and interpreting the achievements of scientific studies
It forms a basis of the solution to philosophic problems being raised in the process of medical studies
It is a right science for the theoretical reasoning and the bringing into play of the physician's concepts
It froms a theoretical basis of the physician's struggle against various reactionary ideas through natural sciences