KHÓA LUẬN CHÙA BÀ ĐANHKHÓA LUẬN CHÙA BÀ ĐANHKHÓA LUẬN CHÙA BÀ ĐANHKHÓA LUẬN CHÙA BÀ ĐANHKHÓA LUẬN CHÙA BÀ ĐANHKHÓA LUẬN CHÙA BÀ ĐANHKHÓA LUẬN CHÙA BÀ ĐANHKHÓA LUẬN CHÙA BÀ ĐANHKHÓA LUẬN CHÙA BÀ ĐANHKHÓA LUẬN CHÙA BÀ ĐANHKHÓA LUẬN CHÙA BÀ ĐANHKHÓA LUẬN CHÙA BÀ ĐANHKHÓA LUẬN CHÙA BÀ ĐANHKHÓA LUẬN CHÙA BÀ ĐANHKHÓA LUẬN CHÙA BÀ ĐANHKHÓA LUẬN CHÙA BÀ ĐANH
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ xưa đến nay lễ hội truyền thống là một món ăn tinh thần không thểthiếu đối với mỗi người dân Việt Lễ hội cũng là nơi thể hiện truyền thốngquý báu của dân tộc, đó là truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, là nơi màmọi người dân cùng tham gia các sinh hoạt văn hóa, giao lưu cộng cảm trongkhông khí thiêng liêng nhưng cũng không kém phần nhộn nhịp Lễ hội được
tổ chức nhằm tưởng nhớ và tôn vinh những hiện tượng tự nhiên được địnhdanh là các vị thần (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện ), các vị anhhùng có thật trong lịch sử dân tộc, các vị tổ nghề
Đến với bất kì vùng miền nào trên đất nước Việt Nam vào bất kì mộtkhoảng thời gian nào trong năm đều thấy sự xuất hiện và tồn tại của các lễhội Lễ hội là nơi lưu giữ các giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc về nhiều mặtcủa đời sống (chính trị, văn hóa xã hội, tôn giáo tín ngưỡng ) của cư dânvùng lúa nước Đa phần các lễ hội đều diễn ra trong khoảng thời gian vàomùa xuân Đó là mùa chuyển giao thời vụ, cũng là thời điểm giao mùa hếtđông sang xuân, khi tiết trời đẹp, ngày tháng nông nhàn, cư dân có điều kiện
về thời gian cũng như về tinh thần để tổ chức lễ hội Bởi thế mà dân gian cócâu “Tháng giêng là tháng ăn chơi” Lễ hội ngoài mục đích tưởng nhớ công
ơn, tri ân các vị thần để cầu cho một năm mới may mắn, một vụ mùa bội thu, một cuộc sống sung túc, còn là nơi để người dân giải trí, nghỉ ngơi sau một vụmùa, một năm lao động vất vả
Đối với hoạt động du lịch, lễ hội truyền thống là một loại hình du lịchvăn hóa đặc sắc, có sức hấp dẫn với số đông người đi du lịch Bởi khi thamgia vào các lễ hội người đi du lịch được chứng kiến và tham gia vào các hoạtđộng tập thể, được hòa mình vào bức tranh văn hóa tổng hợp, đa sắc màu,
Trang 2được thưởng thức các sản phẩm du lịch mà quê hương mình không có Lễ hội
là sự tổng hợp, đan xen giữa các yếu tố lễ và hội, giữa truyền thống và hiệnđại, giữa cái cũ và cái mới Ở mỗi lễ hội khác nhau có hình thức tổ chức khácnhau, đối tượng được hướng đến khác nhau Những điều đó tạo nét đặc trưngcao và thu hút đông đảo khách du lịch trong nước cũng như du khách quốc tế.Theo thống kê, hiện nay trên cả nước có trên 500 lễ hội truyền thống lớnnhỏ khác nhau,các hoạt động dịch vụ, thương mại trong các lễ hội đóng gópnguồn thu lớn cho nghành du lịch, thúc đẩy các dịch vụ khác đi kèm, giúp giảiquyết việc làm, tăng ngân sách địa phương, giúp giới thiệu và quảng bá hìnhảnh, nét đẹp của các địa phương, vùng miền, quốc gia đến với du khách trong
và ngoài nước Hoạt động du lịch nói chung được xem là “Ngành công nghiệpkhông khói” là “Con gà đẻ trứng vàng” Bởi vậy trong những năm gần đây,nhà nước và các địa phương đẩy mạnh việc tuyên truyền và quảng bá các hoạtđộng, sản phẩm du lịch Đặc biệt là quan tâm tới việc trùng tu tôn tạo các ditích, bảo tồn và khôi phục các lễ hội truyền thống Trong đó phải kể đến một
số lễ hội lớn, mang ý nghĩa quốc gia như lễ hội Chùa Hương (Hà Nội) lễ hộiĐền Hùng (Phú Thọ), lễ hội Chọi Trâu (Hải Phòng)
Ở mỗi lễ hội khác nhau, vùng miền khác nhau thì sự đặc trưng của mỗi
lễ hội lại khác nhau Cư dân miền Trung có lễ hội Cầu Ngư, miền Nam có lễhội Cúng Trăng, miền Bắc có lễ hội Tịch Điền, lễ hội Đền Hùng Đến vớimảnh đất Hà Nam trong khoảng thời gian từ ngày 21 đến ngày 22 (Âm lịch)hàng năm du khách sẽ được tham gia vào một lễ hội tiêu biểu, đặc trưng của
cư dân nông nghiệp lúa nước đó là lễ hội Chùa Bà Đanh Lễ hội được tổ chứctại thôn Đanh Xá, xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Lễ hội chùa
Bà Đanh mang đậm tín ngưỡng sùng bái tự nhiên của cư dân nông nghiệp lúanước Đó là việc thờ các vị thần bảo hộ trong nông nghiệp (Pháp Vân, Pháp
Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện ), là nơi nhân dân đến để cầu cho mùa màng tươi
Trang 3tốt, đời sống ấm no, hạnh phúc Tham gia vào lễ hội du khách sẽ được hòamình vào không gian thiêng liêng trong phần lễ, được tham gia các trò chơi,được thưởng thức các làn điệu chèo, dân ca trữ tình Là một sinh viên củangành Việt Nam học còn khá mới mẻ, việc nghiên cứu lễ hội Chùa Bà Đanhgiúp cho người viết làm quen với các thao tác trong việc nghiên cứu khoahọc, góp phần bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn đồng thờigóp công sức nhỏ bé vào việc quảng bá hình ảnh của lễ hội đến với bạn bètrong và ngoài nước.
2 Lịch sử nghiên cứu
Lê Hữu Bách Truyện Dân Gian Kim Bảng, (Sưu tầm và biên soạn), Nhà
xuất bản Văn hóa dân tộc Trong cuốn sách tác giả có đề cập đến lịch sử hìnhthành chùa Bà Đanh và việc thờ đức thánh bà Pháp Vũ Tác giả cũng đề cậptới lễ hội chùa Bà qua lời kể của các cụ cao niên trong làng, tác giả đã viết:
“Lễ hội chùa Bà Đanh là nét sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng đặc thù của cư dânnông nghiệp, là nơi để mọi người dân cùng tham gia vào các hoạt động lễ hộivới tinh thần đoàn kết cộng đồng cao” [1;9]
Ban quản lí di tích thộc Sở Văn hóa-Thể thao-Du lịch tỉnh Hà Nam cũng
đã tiến hành nghiên cứu, đánh giá và lập hồ sơ di tích chùa Bà Đanh-NúiNgọc Trong đó, các tác giả cũng tập trung vào nghiên cứu về vị trí di tích,lịch sử và niên đại xây dựng, các sinh hoạt văn hóa dân gian diễn ra ở khu ditích, trong đó sinh hoạt lễ hội chứa đựng nhiều yếu tố đặc sắc, là một sân chơilớn cho toàn thể nhân dân và du khách thập phương
Kết quả nghiên cứu của những người đi trước là cơ sở để tác giả khóaluận tiếp tục thực hiện đề tài nghiên cứu của mình Tuy nhiên, việc nghiêncứu một cách toàn diện, sâu sắc về khu di tích lịch sử chùa Bà Đanh-NúiNgọc, lễ hội chùa Bà Đanh và đề ra được những giải pháp cụ thể để phát triển
Trang 4lễ hội chùa Bà Đanh phục vụ cho hoạt động du lịch vẫn chưa được nghiêncứu Do vậy đề tài khóa luận của tôi đã góp phần giải quyết vấn đề đó
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lí luận của lễ hội truyền thống nói chung
Nhận thức được tiềm năng phát triển du lịch thông qua lễ hội chùa BàĐanh
Đánh giá thực trạng lễ hội chùa Bà Đanh qua đó đề ra một số giải pháp,định hướng phát triển du lịch văn hoá ở đây
Góp phần khai thác các tiềm năng du lịch của lễ hội chùa Bà Đanh vàcủa huyện Kim Bảng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu di tích lịch sử chùa Bà Đanh-Núi Ngọc và lễ hội chùa Bà Đanh
Tìm hiểu các nét sinh hoạt văn hóa đặc thù của lễ hội chùa Bà Đanh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Lễ hội chùa Bà Đanh và tiềm năng phát triển du lịch
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Do khuôn khổ còn hạn chế, đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu lễ hộichùa Bà Đanh, các giá trị văn hóa, du lịch cũng như tiềm năng phát triển dulịch văn hóa của lễ hội chùa Bà Đanh trên địa bàn huyện Kim Bảng
Trang 55 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp khảo sát thực địa
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả khóa luận đã nhiều lần trực tiếp
có mặt tại khu di tích lịch sử chùa Bà Đanh-Núi Ngọc cũng như tham gia trựctiếp vào lễ hội chùa Bà Đanh để quan sát, xác thực những thông tin trên cácdạng tài liệu và đã có được cho mình những thông tin đầy đủ, chính xác nhất
về khu di tích và lễ hội chùa Bà Đanh
5.2 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Tác giả khóa luận cũng tiến hành nghiên cứu tài liệu của những tác phẩmnghiên cứu có liên quan đến khu di tích, lễ hội, kế thừa và tổng hợp nhữngkiến thức để đưa ra những đánh giá của riêng mình
5.3 Phương pháp phỏng vấn
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả cũng tiến hành phỏng vấn trực tiếptrụ trì chùa là sư bà Thích Đàm Đam, trưởng phòng văn hóa thông tin huyệnKim Bảng là ông Lê Văn Đoàn và một số cụ cao niên và đông đảo du kháchthập phương nhằm có được thông tin giúp ích cho việc triển khai nội dungkhóa luận và đánh giá, chỉ ra thực trạng và đề ra những giải pháp tối ưu nhấtcho việc phát triển lễ hội chùa Bà Đanh trở thành điểm đến hấp dẫn với đôngđảo người dân và du khách thập phương
5.4 Phương pháp truy vấn internet
Đây là phương pháp sử dụng mạng internet để tìm kiếm thông tin, thuthập những tài liệu có liên quan đến di tích lịch sử chùa Bà Đanh-Núi Ngọc.Đây là phương pháp có hiệu quả, giúp ích cho tác giả hoàn thành đề tài khóaluận tốt nghiệp
6 Đóng góp của khóa luận tốt nghiệp
Đánh giá các tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch của lễ hội chùa
Bà Đanh
Trang 6Đề xuất một số giải pháp để phát triển du lịch của lễ hội chùa Bà Đanhnói chung và của huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam nói riêng.
Quảng bá hình ảnh của lễ hội chùa Bà Đanh đến với bạn bè trong vàngoài nước
7 Bố cục của khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận gồm có 3chương:
Chuơng 1: DU LỊCH VÀ DU LỊCH VĂN HÓA
Chuơng 2: LỄ HỘI CHÙA BÀ ĐANH VỚI TIỀM NĂNG PHÁTTRIỂN DU LỊCH
Chuơng 3: GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN LỄ HỘI CHÙA
BÀ ĐANH
Trang 7NỘI DUNG Chương 1
Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam đang tăng cường xu thế mở cửa vàhội nhập quốc tế trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị, du lịch… trong
đó du lịch đóng vai trò quan trọng trên cả phương diện kinh tế và văn hóa
Điều này được khẳng định trong “Pháp lệnh Du lịch”: Nhà nước Việt Nam
xác định du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dungvăn hóa sâu sắc, có tính liên ngành liên vùng và tính xã hội hóa cao; phát triển
du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân
và khách quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế
xã hội của đất nước
Như vậy, Pháp lệnh Du lịch đã đưa ra nội dung cơ bản, bản chất của dulịch Việt Nam là du lịch văn hóa Du lịch Việt Nam muốn phát triển tất yếuphải khai thác, phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc
Khái niệm du lịch được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy theo góc độxem xét
Theo chiết tự “Du lịch”:
“Du” là di chuyển, thay đổi vị trí, không gian (du canh, du cư, du mục, du học), “Du” còn có nghĩa là chơi, đi chơi (chu du, ngao du, viễn du, du xuân).
Trang 8“Lịch” là sự trải qua, kinh qua (lịch duyệt-từng trải, hiểu biết nhiều), lịch
lãm-đã kinh qua nhiều nơi, có nhiều vốn sống và kinh nghiệm sống
Theo các nhà nghiên cứu du lịch học, thuật ngữ “du lịch” (tourism) lần đầutiên xuất hiện trong tiếng Anh vào khoảng năm 1800 Tuy nhiên theo các chuyêngia về Tổ chức du lịch thế giới (WTO), sự bùng nổ của hoạt động du lịch chỉmới bắt đầu từ thế kỷ XX, khi các tổ chức du lịch lần lượt được ra đời và các sốliệu về du lịch được ghi nhận chủ yếu từ những năm 50 của thế kỷ này
Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới: “Du lịch được hiểu là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến không phải là nơi làm việc của họ” [12;7].
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, du lịch được hiểu trên haikhía cạnh:
Thứ nhất: du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của
con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lamthắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật Theo nghĩa này dulịch được xem xét ở góc độ cầu (góc độ của người đi du lịch)
Thứ hai: du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về
nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóadân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nướcngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vựckinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn, có thể coi là hình thức xuất khẩu hànghóa và dịch vụ tại chỗ Theo nghĩa này, du lịch được xem xét ở góc độ mộtngành kinh tế [12;7]
Theo Luật Du lịch Việt Nam: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm
Trang 9đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [12;8].
Như vậy, du lịch là đi, đi chơi, để được trải nghiệm, mở rộng hiểu biết và
có thêm vốn sống khác nhau
Qua một số khái niệm như trên, chúng ta có thể thấy rằng các khái niệmthống nhất nhau ở một số quan điểm: Du lịch là một hoạt động chuyển từ nơinày sang nơi khác, xa với nơi cư trú và làm việc thường xuyên để hưởng thụthiên nhiên, vì lợi ích sức khỏe, hiểu biết học hỏi về văn hóa, xã hội con người
ở những địa phương khác nhau để tích lũy vốn sống và vui chơi giải trí
1.1.2 Khái niệm du lịch văn hóa
1.1.2.1 Khái niệm văn hóa
Trong công cuộc đổi mới và hội nhập toàn diện mọi mặt đời sống xãhội Văn hóa phải được coi là yếu tố đồng hành của phát triển, là tiêu chí chấtlượng sống của con người trong các quan hệ của con người với quá khứ, hiệntại và tương lai, không đứng ngoài mà là nhân tố nội sinh của sự phát triển.Theo thống kê, hiện nay có tới hơn 400 định nghĩa khác nhau về vănhóa, từ đó có thể thấy rằng việc xác định khái niệm văn hóa không hề đơngiản bởi mỗi học giả khác nhau đều xuất phát từ những góc độ riêng, cứ liệuriêng, mục đích riêng phù hợp với vấn đề nghiên cứu của mình
Theo định nghĩa văn hóa của UNESCO được thông qua trong bản Tuyên
bố về những chính sách văn hóa tại Hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì từ
ngày 26 tháng 7 đến ngày 6 tháng 8 năm 1982 tại Mêhicô: “Văn hóa là tổngthể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết địnhtính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa baogồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của conngười, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng Văn hóa đemlại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa đã làm cho
Trang 10chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán
và dấn thân một cách có đạo lí Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện,
tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt
ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ýnghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới mẻ, những công trìnhvượt trội bản thân” [14;7]
Theo PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hoá là một hệ thống
hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động và thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [16;10].
Định nghĩa văn hoá của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1942:
“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn
ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ các sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”
Khái niệm văn hoá, theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ
và văn hoá Việt Nam - (Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên,
Nxb Văn hoá-Thông tin, xuất bản năm 1998) thì: “Văn hoá là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử”.
Theo F Mayor, Tổng giám đốc UNESCO định nghĩa: “Văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống con người đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại Qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình” [14;8].
Tựu chung lại thì văn hoá là sản phẩm của loài người Văn hoá được tạo
ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song chính
Trang 11văn hoá lại tham gia vào việc tạo nên con người, duy trì sự bền vững và trật tự
xã hội Văn hoá được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quátrình xã hội hoá Văn hoá là trình độ phát triển của con người và của xã hội,được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động củacon người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra
1.1.2.2 Khái niệm Du lịch văn hoá
Du lịch văn hóa là một trong những loại hình du lịch phong phú và đặc
sắc nhất hiện nay Xét cho cùng thì du lịch bao giờ cũng là một hoạt độngmang đậm tính văn hóa
Hiểu một cách đơn giản nhất thì du lịch văn hóa là loại hình du lịch màđiểm đến là các địa chỉ văn hóa (Văn miếu quốc tử giám, Thánh địa Mỹ Sơn,Đền Hùng…)
Tại điều 4, chương 1, Luật du lịch của Quốc hội Nước Cộng hoà xã hộichủ nghĩa Việt Nam (7/2006) ghi rõ: Du lịch văn hoá là hình thức du lịch dựavào bản sắc văn hoá của dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn
và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống
Như vậy, khi thực hiện chuyến du lịch văn hóa, du khách đến một di tíchhay tham gia một sinh hoạt văn hóa, nhằm thỏa mãn sự hiểu biết, tính tò mò
và sự ham thích của mình, được hưởng thụ, trải nghiệm và đắm mình trongcác sinh hoạt văn hóa nơi họ đến Từ đó, họ sẽ có những hiểu biết sâu sắc về
di tích hay sinh hoạt văn hóa đó, đồng thời có được sự thỏa mãn về tâm linh,tinh thần và cả vật chất nữa Giá trị của di tích hay một sinh hoạt văn hóađược phát huy khi nó đóng một vai trò nhất định, tác động đến tâm lí, tìnhcảm và tri thức của người đi du lịch
1.2 Khái niệm lễ hội
Các hình thức lễ hội là những hoạt động văn hóa tinh thần của loài
người từ bao đời nay Từ xa xưa khi con người lao động kiếm sống, họ đã có
Trang 12nhu cầu diễn tả niềm vui trước những thành quả đạt được của mình Sau khisăn bắt, hái lượm trở về, họ lại quay quần bên đống lửa-trung tâm của thịtộc-vừa ăn uống vừa nhảy múa, để biểu thị sức mạnh, niềm vui và mongmuốn thần linh phù hộ cho mình đạt được thành quả trong công việc Đó lànhững hình thức lễ hội sớm nhất của loài nguời, lôi cuốn lòng người mộtcách say mê.
Trên thế giới, dân tộc nào cũng có lễ hội Nó như là một loại hình sinhhoạt văn hóa tinh thần đặc biệt mang tính tập thể nhằm thỏa mãn nhu cầu tâmlinh, củng cố ý thức cộng đồng Lễ hội chứa đựng và phản ánh nhiều mặt củađời sống kinh tế-văn hóa-xã hội-tâm lí, tính cách và tín ngưỡng, tôn giáo củacác tộc người trên khắp hành tinh của chúng ta
Tuy nhiên, lễ hội phát huy giá trị và phát triển mạnh mẽ nhất ở nhữngvùng cư dân quần tụ trong tinh thần cộng đồng làng xã, như cư dân nôngnghiệp ruộng nước, nông nghiệp nương rẫy và cả cư dân ở những vùng venbiển, đầm phá… Đối với cư dân nương rẫy, do sống trong môi trường khắcnghiệt của vùng rừng núi, họ phải cố kết với nhau để chống lại sự hiểm trở,hùng vĩ của tự nhiên; đối với cư dân nông nghiệp ruộng nước, do nhu cầu thời
vụ và trị thủy họ phải sống quần tụ thành những làng xã ổn định; đối với cưdân vùng đầm phá ven biển, do nhu cầu nghề nghiệp họ cũng phải cố kết vớinhau trong quan hệ cộng đồng bền chặt… Và chính tinh thần cộng đồng đó làcái nôi nuôi dưỡng các hình thức lễ hội; nơi đó dân cư của làng có dịp vuichơi, giao lưu tình cảm xóm làng, quê hương và gửi gắm cho nhau những ướcvọng về một cuộc sống ấm no hạnh phúc…
Lễ hội (hay hội lễ) là một sinh hoạt văn hóa dân gian nguyên hợp mang
tính cộng đồng cao của nông dân hay thị dân, diễn ra trong một chu kì khônggian và thời gian nhất định để làm những nghi thức về nhân vật được sùng bái,
để tỏ rõ những ước vọng, để vui chơi trong tinh thần cộng mệnh và cộng cảm
Trang 13Theo Giáo sư Đinh Gia Khánh: “lễ hội cổ truyền như là thời điểm mạnh của cuộc sống; là cái cột mốc của một chu trình kết thúc và tái sinh; là cuộc đời thứ hai bên cạnh cuộc đời thực; là trạng thái thăng hoa từ đời sống thực tế; là hình thức tổng hòa văn hóa nghệ thuật; là một hiện tượng văn hóa mang tính trội”… [14;217].
1.2.1 Khái niệm lễ
Theo Từ điển Việt Nam thì “Lễ” là hình thức được tiến hành nhằm đánh
dấu hay kỉ niệm một sự việc có ý nghĩa lịch sử Trong thực tế “Lễ” có nhiều ý
nghĩa và một lịch sử hình thành khá phức tạp
Theo “Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam” thì “Lễ” là khái niệm đạo
đức Khổng học có ý nghĩa là hình thức cúng tế, cầu thần ban phát, nghĩa rộng
là những qui tắc của cuộc sống chung trong cộng đồng xã hội Lễ ở Việt Namchú ý tập trung trong các liên quan đến cầu mùa, người an vật thịnh Có thể nói
“Lễ” là phần đạo, phần tâm linh của cộng đồng nhằm đáp ứng cho nhu cầu tín
ngưỡng và đảm bảo nền nếp xã hội được hoàn thiện hơn [9;13]
Chữ “Lễ” được hình thành từ thời nhà Chu (thế kỉ XII) Lúc đầu “Lễ”
được hiểu là lễ vật của các gia đình quý tộc nhà Chu cúng tế thần, tổ tông gọi
là lễ Dần dần chữ “Lễ” được mở rộng nghĩa là hình thức, phép tắc để phân
biệt trên, dưới, sang, hèn hay thứ bậc lớn nhỏ, thân sơ trong xã hộ phân hóa
thành đẳng cấp Cuối cùng khi xã hội phát triển thì ý nghĩa “Lễ”càng được
mở rộng như lễ Gia tiên, lễ Thành Hoàng làng…
Phần lễ có ý nghĩa quan trọng và thiêng liêng, chứa đựng những giá trịvăn hóa truyền thống, giá trị thẩm mĩ và triết học sâu sắc của cộng đồng.Không những thế, nó mang trọn ý nghĩa hấp dẫn, thú vị đối với du khách Đâyđược xem là phần hạt nhân của lễ hội
1.2.2 Khái niệm hội
“Hội” là phần sinh hoạt văn hóa dân gian của cộng đồng làng xã hay lớn
hơn là liên làng, liên xã và cộng đồng của toàn vùng hay cả nước
Trang 14Hội được cấu thành bởi: những hình thức sinh hoạt vui chơi, khônggian-thời gian, cảnh quan môi trường, tâm lí hội và hành động hội (người tổchức và người tham dự), di tích lịch sử, văn hóa, danh thắng…
Tóm lại lễ và hội là hai yếu tố chính tạo nên lễ hội làng Sự đậm nhạtgiữa chúng là tùy thuộc vào từng đặc điểm ở từng nơi và tính chất của từngloại lễ hội Lễ và hội là một thể thống nhất, tồn tại song song với nhautrong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của con người Nếu nói phẫn lễ làphần đạo thì hội chính là phần đời, đạo đức là tâm linh mà đời chính làcuộc sống hiện thực
1.2.3 Mối quan hệ giữa lễ và hội
Xét về cấu trúc, lễ hội là một hiện tượng xã hội tổng thể Nếu như phần
lễ được coi là gốc rễ, chủ đạo thì phần hội với vô số các trò chơi, là “phái sinh”, tích hợp để hoàn chỉnh phần lễ, làm cho những giá trị của cuộc lễ đi
vào tâm thức và đời sống của người dân Đối với các lễ hội cổ truyền, nhữngtrò chơi dân gian có vai trò rất quan trọng Chúng là một thành tố cấu thành lễ
hội cổ truyền Nói khác đi, chúng là hiện tượng sinh hoạt văn hóa “phái sinh”
từ tín ngưỡng đã được lấy làm cốt lõi, làm nghi lễ chủ đạo ở phần lễ, để tạonên một tổng thể lễ hội Nhờ có chúng mà những giá trị của cuộc lễ mới cóthể đi vào tâm thức để trở thành định hướng ứng xử cho các thành viên củacộng đồng nơi lễ hội
Sự thật là trong thực hành tổ chức lễ hội thì sự tách rời hai yếu tố lễ vàhội là điều không thể Bởi lẽ, sẽ chẳng thành lễ nếu không có hội và ngượclại Ở các lễ hội cổ truyền lễ và hội bao giờ cũng hòa quyện với nhau, bổ xungcho nhau, để cùng nhau biểu thị một giá trị nào đó của cộng đồng Trong lễluôn có hội và trong hội luôn có lễ Sự thật nếu chỉ có những nghi thức lễthuần túy, thì sự biểu thị giá trị của cuộc lễ đối với các thành viên tham dự sẽchỉ dừng ở ý tưởng, không hiện thực Cái linh thiêng, hạt nhân trong lễ hội cổ
Trang 15truyền sẽ mãi chỉ là những ý niệm, nếu không có sự dâng cúng những lễ vậtvật chất đời thường Ngược lại hội cũng sẽ chỉ là một cuộc chơi tẻ nhạt nếuchúng đơn thuần chỉ có mục đích giải trí mà không hướng về mục đích nhấtđịnh, gắn với sự kiện kỉ niệm một vị thần, một vị anh hùng, một nhân vật (cóthật hoặc huyền thoại), có công tích về một phương diện kinh tế, văn hóa,chính trị đối với cộng đồng đó Nói cách khác đi, nếu các trò chơi ở hội không
mang ý nghĩa là “bước trần tục hóa cuộc lễ”, không làm rõ những giá trị mà
cộng đồng muốn phô trương ở cuộc lễ, thì chắc chắn người ta chẳng cớ gì đểtìm đến chúng
1.2.4 Giá trị của lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại
Lễ hội cổ truyền, bản thân nó, đã là một giá trị văn hóa lớn trong đờisống truyền thống và hiện đại Tuy nhiên, phân tích sâu chút nữa người ta đãtìm ra những giá trị văn hóa tiêu biểu của lễ hội, một hiện tượng văn hóamang tính trội
Giá trị văn hóa tiêu biểu nhất của lễ hội là tính cộng đồng và sự cố kếtcộng đồng Mọi lễ hội, dù được phân chia ra sao, dù mang nội dung tôn giáo,nghề nghiệp, vòng đời hay gì nữa thì bao giờ cũng là sinh hoạt của một cộngđồng người để biểu dương những vốn liếng văn hóa và sức mạnh, tạo nên sựcộng mệnh, cộng cảm và tính cố kết cộng đồng (cộng đồng làng, cộng đồngnghề nghiệp, cộng đồng gia tộc, cộng đồng địa phương hay quốc gia, cộngđồng tôn giáo…) Trong xã hội hiện đại giá trị này càng có vị thế quan trọng
1.2.4.1 Giá trị cộng đồng
Lễ hội trước hết là hoạt động tín ngưỡng tôn giáo, sau đó là những hoạtđộng vui chơi, hội hè, giải trí mang tính tập thể cao bởi lễ hội có sức hấp dẫnvới mọi người và sự tham gia của mọi thành viên trong làng Trên bình diện
cả làng, lễ hội được duy trì trên nền của tín ngưỡng, tôn giáo của làng Do đó,
về nhu cầu tâm linh, lễ hội đã tập hợp tất cả mọi thành viên trong làng tham
Trang 16gia Trong quá trình thực hiện lễ hội, các dòng họ, các gia đình có trách nhiệmđóng góp lễ vật để dâng cho thần linh, tham gia chuẩn bị cơ sở vật chất vàcùng nhau tiến hành các trò diễn xướng trong quá trình lễ hội Và cuối cùngđược hưởng thụ những lễ vật thơm ngon, tinh khiết (lấy may) Lễ hội làng cònbiểu hiện sức mạnh cộng đồng, mối quan hệ ứng xử, giao tiếp tốt đẹp giữa cácthành viên với nhau, giữa cá nhân với cộng đồng… Tất cả điều đó đã tạo nêngiá trị cộng đồng của lễ hội làng.
1.2.4.2 Giá trị giáo dục
Lễ hội là những hoạt động văn hóa tinh thần thể hiện tình cảm của conngười với thần thánh, tổ tiên để cầu mong mọi lực lượng siêu nhiên phù hộcho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, nghề nghiệp phát đạt, con ngườikhỏe mạnh, bình an Bằng nội dung của mình, lễ hội bao giờ cũng chứa đựngtrách nhiệm nhắc nhở mọi thành viên của cộng đồng những bài học về đạo lícủa ông cha, về lịch sử của làng, về tinh thần lạc quan, yêu lao động… Và cứthế, lễ hội giúp cho các thành viên của làng nhớ đến bổn phận và trách nhiệmcủa mình với tổ tiên và sống sao cho xứng đáng với ông bà, dòng tộc Bởivậy, lễ hội có tác dụng rất to lớn trong việc giáo dục đạo đức, truyền thốngcho mọi thành viên của làng nhất là tầng lớp thanh thiếu niên
1.2.4.3 Giá trị phản ánh hiện thực cuộc sống và bảo tàng văn hoá truyền thống
Lễ hội là một hình thức tái hiện lại cuộc sống quá khứ và hiện tại bằngcác hình thức tế lễ và trò diễn Đó là cuộc sống lao động sáng tạo và chống lạithiên tai, địch hoạ được thể hiện dưới dạng những hoạt động văn hoá tinh thần
vô cùng sinh động như các hình thức tế lễ, trang phục truyền thống, cờ phướn,những bài văn tế, những món ăn cổ truyền, những điệu múa, hát, nhạc cụ, tròchơi dân gian Và nhờ những hoạt động tâm linh, tôn giáo và văn nghệ dângian đó mà các kiến trúc đình, chùa, đền, miếu cuả dòng họ, cuả làng cũng trở
Trang 17nên có hồn hơn Vì thế các thành viên cuả làng càng có ý thức xắp xếp, trùng
tu, tôn tạo các công trình kiến trúc đặc sắc của làng Cũng thông qua lễ hội,các kinh nghiệm lao động sản xuất, kinh nghiệm sống của ông cha được táihiện để con cháu học tập, noi theo Như vậy, lễ hội càng phát triển, dân làngcàng có điều kiện tái hiện cuộc sống của mình bằng các hình thức nghệ thuậtdiễn xướng và càng có điều kiện bảo tồn các di sản văn hoá truyền thống nhưtrang phục, ẩm thực, ca múa nhạc, các trò chơi dân gian
1.2.4.4 Giá trị văn hoá tâm linh
Lễ hội đã đáp ứng nhu cầu tâm linh và đời sống văn hoá tinh thần củacộng đồng dân cư làng Bởi vì trong quá trình lao động sáng tạo, để đáp ứngnhu cầu cuộc sống của mình, cộng đồng làng không chỉ có biến đổi cái tựnhiên để tạo ra sản phẩm văn hoá mà còn hoà vào với thế giới hữu hình và vôhình trong tự nhiên Và không ít trường hợp con người bất lực trước sức mạnhcuả tự nhiên, họ phải nhờ đến sự phù hộ, che chở cuả tổ tiên, dòng tộc, thànhhoàng và các vị thần linh khác trong cuộc sống, trong lao động sản xuất Họcầu mong thần linh phù hộ cho cuộc sống bình an, cây trồng bội thu, có thànhquả cao trong nghề nghiệp và cảm tạ thần linh đã phù hộ cho với lòng ngưỡng
mộ chân thành Chỉ có với lễ hội, các cộng đồng cư dân mới được thoả mãnđời sống tâm linh, được nghỉ ngơi và vui chơi hưởng thụ giá trị văn hoá
Như vậy, lễ hội với những hình thức cúng tế, dâng lễ vật, cầu nguyệnthần linh… đã làm nó ẩn chứa trong mình giá trị văn hóa tâm linh
1.2.4.5 Giá trị kinh tế
Gía trị kinh tế của lễ hội thể hiện ở hai mặt: làm cho con người vui tươi,lạc quan, hăng say hơn trong quá trình lao động sáng tạo và tạo nên môitrường du lịch văn hóa hết sức hấp dẫn Ở mặt thứ nhất, lễ hội như một nhân
tố tạo nên sự thư giãn tinh thần, là sự biểu hiện cách ứng xử văn hóa với thiênnhiên, với thần thánh và với cộng đồng xã hội Mỗi con người khi tham gia
Trang 18vào các hoạt động lễ hội đều tìm thấy cho mình sự hồn nhiên, hưng phấn,những cảm xúc tràn ngập và sự vui tươi, lạc quan Nhờ không khí linh thiêng
mà vui tươi, nghiêm trang mà rộn ràng của ngày lễ hội mà mỗi cá nhân, mỗicộng đồng đều thấy được tháo bỏ những quẫn bách, những bực dọc, mệt mỏicủa cuộc sống cộng đồng làng xã ngưng đọng Trên tinh thần đó, lễ hội có tácdụng thúc đẩy quá trình lao động, sáng tạo, làm cho con người hăng say hơn,vui tươi hơn, làm ra của cải vật chất nhiều hơn
Ở mặt khác, lễ hội dân gian là một bảo tàng văn hóa, nơi lưu giữ nhữngtín ngưỡng, tôn giáo, những hình thức sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật đặc sắc,nơi phản ánh tâm thức của con người một cách trung thực nhất Với ngành dulịch, lễ hội dân gian là một sản phẩm văn hóa đặc biệt, nhằm giới thiệu cho dukhách đất nước và con người Việt Nam hôm qua, hôm nay và các giá trị vănhóa đặc sắc ẩn sâu trong tầng sâu các trò diễn, các câu ca, điệu múa, các lễ vậtcúng tế Vả lại, từ trong thẳm sâu tâm linh, con người vẫn có nhu cầu đi lễ hội
để thực thi những tín ngưỡng tôn giáo, để cầu mong một cuộc sống bình ancho chính bản thân, cho gia đình và cộng đồng Người ta đến với lễ hội để tìmhiểu những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, để tham quan cảnh sắcđẹp đẽ, kì thú của các làng quê… Tất cả điều đó như những lời mời gọi thiếttha du khách đến với lễ hội và như một lẽ thường tình, ngành du lịch khôngthể không sử dụng lễ hội dân gian với tư cách là một sản phẩm văn hóa đểgiới thiệu đất nước và con người Việt Nam Lễ hội vì thế đã mang trong mìnhgiá trị kinh tế đặc biệt
Tóm lại, lễ hội truyền thống là hình thức phản ánh khát vọng của conngười muốn vươn đến cuộc sống vui tươi, ấm no, hạnh phúc, đồng thời nócũng phản ánh tình cảm thiêng liêng, chân thành của các tầng lớp dân cư làng
xã dối với những người có công với dân, với nước, với những lực lượng vôhình phù hộ họ trong nghề nghiệp
Trang 19Chương 2
LỄ HỘI CHÙA BÀ ĐANH VỚI TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
2.1 Khái quát chung về di tích lịch sử chùa Bà Đanh-Núi Ngọc.
Chùa Bà Đanh và Núi Ngọc nằm về phía Đông Nam xã Ngọc Sơn Bamặt khu di tích này có dòng sông Đáy bao quanh
Trước cách mạng tháng tám năm 1945 khu vực chùa Bà Đanh nằm tách
ra xa khu dân cư Tại đây cây cối um tùm nên vắng người qua lại Mỗi khidân làng có việc phải lên chùa vào buổi tối lại phải đốt đuốc và gõ chiêng gõtrống để xua đuổi thú dữ Chính vì vậy dân gian truyền tụng câu: “Vắngnhư chùa Bà Đanh”
Xã Ngọc Sơn được thành lập tháng 3 năm 1976, gồm bốn thôn là MãNão, Phương Khê, Đanh Xá và Thụy Xuyên Trước cách mạng tháng 8/1945mỗi thôn này là một đơn vị hành chính xã thuộc tổng Thụy Lôi huyện KimBảng tỉnh Hà Nam Sau cải cách ruộng đất năm 1956 đã nhập thêm xóm QuếLâm (thuộc thôn Văn Lâm xã Văn Xá) thành xóm 15
Tháng 4 năm 1986 thị trấn Quế được thành lập Một số xóm của xãNgọc Sơn cắt về thị trấn Hiện nay xã Ngọc Sơn nằm ở trung tâm của huyện
lị Xã nằm trên trục đường giao thông 22 nối đường 1A từ Ba Đa lên chợ Dầungược Hà Tây (cũ) Đây là đầu mối giao thông của huyện đi các nơi Phíanam của xã nằm giáp sông Đáy Từ đây ta có thể vào Ninh Bình, Thanh Hóahay ngược lên Hòa Bình hết sức thuận lợi
Có thể đi bằng các đường sau để đến với di tích:
- Từ thành phố Nam Định lên thành phố Phủ Lý, qua cầu Hồng Phú đitheo đường 22 khoảng 10km là đến với di tích
- Từ Thành Phố Phủ Lý đi đò ngược sông Đáy khoảng 7km là đến bếntrước cửa chùa Bà Đanh
Trang 20ba gian và được làm thành hai tầng Tầng trên có hai lớp mái lợp bằng ngóinam, xung quanh sàn gỗ hàng lan can là những trấn song con tiện Tầng này
sử dụng làm gác chuông, ba gian dưới có hệ thống cánh cửa bằng gỗ lim.Phía ngoài của hai tường bên là hai cột đồng trụ được xây nhô hẳn ra.Trên nóc tam quan đắp một đôi rồng chầu vào giữa Đối diện với cổng, ởchính giữa về phải hai bên cách một đoạn tường ngắn là hai cổng nhỏ có támmái, cửa phía trên lượn cong hình bán nguyệt Hàng ngày, khách ra vào chủyếu đi bằng hai cửa bên này, chỉ khi nào nhà chùa có đại lễ thì cổng chínhgiữa mới được mở
Qua cổng tam quan là vào khu vườn hoa Bóng mấy cây cau khẳng khiuvươn cao trên nền trời xanh và mấy gốc đại già thân mốc sằn sùi đứng ẩntrong một gốc vườn chỉ trồng những cây hao quen thuộc như mộc, nhài, mẫuđơn cành làm tăng tính chất cổ kính cho ngôi chùa
Trước nhà bái đường là một sân lát gạch Hai dãy hành lang nằm về haibên, mỗi dãy có ba gian, khung gỗ lim lợp ngói lam, tường xây bao quanhđằng sau và hai đầu hồi Nhà bái đường có năm gian, hai đầu bít đốc, lợp ngóinam, trên bờ nóc có đôi rồng chầu mặt nguyệt
Trên tất cả các vì kèo đều chạm khắc ở hai mặt Các đề tài chạm khắctrên các vì kèo tính từ đông sang tây như sau:
Vì kèo 1:
- (Một mặt áp vào tường đốc): mặt hổ phù, thông hóa long, trúc hóa long.Trên xà ngang có chạm: quả đào, mai, trúc, nho và lựu, đào và mai, quạt và quả
Trang 21- Mặt sau: chạm ngũ long tranh châu, hoa hồng, hoa lan, mai đá
Vì kèo 6: (một mặt áp vào tường đốc)
Chạm các đề tài: mặt hổ phù, trúc hóa, hoa hồng, quả đào, quả lựu
Tất cả các hình chạm ở đây không thấy hình bóng con người mà chủ yếu
là động thực vật được kết hợp với nhau thành các đề tài, hình mẫu khá hoànchỉnh Ngoài con rồng được sáng tạo trên cơ sở từ một con vật tưởng tượng,còn các động thực vật thể hiện ở đây đều lấy từ cuộc sống thực tế để đưa vàotrong nghệ thuật
Với sự phối hợp tài tình, từ những vật như cây trúc, cây mai, các nghệnhân đã tạo ra các con giống rất sinh động Như vậy, trong một cái đơn thể đãhình thành những cái đa thể và trong cái chung lại có cái riêng Đấy chính là
sự hòa nhập của đất trời, của thiên nhiên và cuộc sống để tạo nên sự hòa hợptrong một sự thống nhất
Trang 22Bản thân mỗi khóm cây, mỗi cành hoa, mỗi con vật ít khi đứng riêng lẻ
mà thường kết hợp với nhau để tạo nên một đề tài chung Ở từng loài, nếu làđộng vật thì có các đề tài tứ linh (long, ly, quy, phượng), ngũ phúc (năm condơi), lưỡng long chầu nguyệt (hai con rồng chầu mặt trời), còn ở thực vật thì
có các đề tài tứ quý (tùng, mai, trúc, cúc), bát quả (đào, lựu, nho, phật thủ,na ) Động thực vật được kết hợp với nhau thì có các đề tài mai điểu (chim
và hoa mai), tùng mã (cây tùng và con ngựa) Ngoài ra trong các đề tài trangtrí ở đây càn nhiều nhạc cụ cổ truyền như đàn tranh, đàn nhụy, phách, sáo haycác đồ vật như quạt, quả vải, tháp bút, ống tiêu, cái khánh, quả bầu đựngrượu để tạo nên tám vật quí được gọi là bát bảo
Trên sáu hệ thống vì kèo nhà bái đường, ngoài hai vì kèo đầu hồi, mặtphía trong đặt sát vào bờ tường đốc nhà nên chỉ chạm có một bên, còn bốn vìkèo phía trong được chạm cả hai mặt Các mảng chạm ở đây đã được cácnghệ nhân dân gian kết hợp cả hai phương pháp là nhấn chìm và chạm nổi,các đường nét chạm thoáng, uyển chuyển, bố cục cân đối và hợp lí, kỹ thuậtvững vàng của các nghệ nhân đã làm cho các mảng chạm trở nên linh hoạt, cóhồn và rất sinh động Tất cả các mảng chạm trên hệ thống vì kèo ở đây đã làmtăng giá trị cho khu nhà bái đường
Nhà trung đường nối liền với nhà bái đường cũng gồm năm gian, hai đầubít đốc, lợp ngói nam Đằng trước là hệ thống cửa bức màn, chấn song contiện được làm dày dặn, chắc chắn Toàn bộ hệ thống vì kèo ở đây đều là dạngbiến thể của dạng vì kèo giả chiên chồng rường con nhị Tất cả các trụ, conrường đều được chế tác đơn giản, chủ yếu vuông thành sắc cạnh nhưng được
bố trí, sắp xếp một cách hợp lí để tạo nên một bộ khung chắc khỏe
Nhà thượng điện có ba gian, đằng sau và hai bên xây tường bao, cònphía đằng trước là hệ thống cửa gỗ lim Lòng nhà ở đây so với các khu nhàbái đường và trung đường thì hẹp hơn nhưng được xây cao vượt hẳn lên
Trang 23Từ các dãy hành lang đằng trước chùa, qua nhà bái đường đến khuthượng điện, về phía hai bên là các dãy nhà cầu khung bằng gỗ lim, lợp ngóinam Nhà cầu để nối các công trình lại với nhau và kéo dài cho đến nhà tổ tớicác công trình phụ khác Nhờ vậy, khi mưa gió khách hành hương cũng nhưngười trong chùa đi lại rất thuận lợi, ít ảnh hưởng tới các sinh hoạt.
Nằm về phía Tây chùa là khu nhà ngang gồm năm gian: ba gian giữa lànơi thờ các vị tổ đã trụ trì ở đây, còn hai gian đầu hồi được xây ngăn thành haigian buồng để làm nơi ở cho người tu hành Nối tiếp dãy nhà này gồm cáccông trình phụ như: bếp, chỗ chăn nuôi Đằng trước nhà tổ là một sân gạch vàphía ngoài là khu vườn để trồng hoa với cây lưu niên Phía Đông khu chùa làphủ thờ mẫu nằm giáp với dãy nhà trung đường, mặt quay về hướng Tây, toàn
bộ khu vực chùa có tường bao quanh
Trong nhà thượng đường của chùa Bà Đanh, có nhiều tượng thờ nhưtượng Tam thế, tượng Ngọc Hoàng và thái thượng Lão Quân, tượng Bà ChúaĐanh Có thể coi pho tượng Bà Đanh là một trung tâm của chùa Tượng đượctạc theo tư thế toạ thiền trên chiếc ngai đen bóng (chứ không phải là toà sen),với khuôn mặt đẹp, hiền từ, đầy nữ tính, gần gũi và thân thiết, chứ không códáng vẻ siêu thoát, thần bí như các tượng Phật khác Sự hài hoà giữa pho tượng
và chiếc ngai tạo nên vẻ hấp dẫn của nghệ thuật điêu khắc chùa Bà Đanh
Chùa Bà Đanh là một tổng thể bao gồm nhiều công trình với gần bốnmươi gian (chưa kể hệ thống nhà cầu) đan xen, bổ trợ cho nhau Theo nhândân địa phương cho biết thì ngôi chùa này được xây dựng từ lâu đời và đãđược tu sửa nhiều lần Các công trình hiện nay đều được xây dựng từ thế kỉ
19 trở lại đây
Các kiến trúc từ tam quan, hành lang, nhà bái đường đến thượng điệnđều được xây đăng đối theo một trục chính ở giữa và độ cao được nâng dầnlên từ ngoài vào trong, điểm chốt cuối cùng là nhà thượng điện Toàn bộ ngôi
Trang 24chùa từ bố cục đến kiến trúc, chạm khắc đều mang đậm phong cách xây dựng
cổ truyền của dân tộc
Nối giữa chùa Bà Đanh và núi Ngọc là một bãi rộng trồng cây lưu niên,chủ yếu là vải thiều, nhãn, tùy thời vụ có xen cả ngô lúa Nằm hoàn toàn biệtlập với khu dân cư, trên núi, dưới sông, gần đền, gần chùa, núi Ngọc quả làmột thắng cảnh của đất Kim Bảng, một địa điểm du lịch đầy hấp dẫn
2.2 Chùa Bà Đanh trong kháng chiến.
Năm 1930 Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời đã đánh dấu một bướcngoặt mới cho sự nghiệp các mạng ở nước ta Sự kiện này đã tác độngmạnh mẽ vào trong nhân dân, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của tổchức Đảng ở địa phương
Ngày 6/3/1930 chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên của huyện Kim Bảng đượcthành lập ngay ở phố huyện Chính vì vậy phong trào cách mạng ở xã Ngọc
Trang 25Sơn đã có một bước chuyển biến mới Dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng,quần chúng cách mạng ở nhiều nơi trong huyện tham gia dải truyền đơn giớthiệu sự ra đời của Đảng và kêu gọi quần chúng đấu tranh hưởng ứng ngàyquốc tế lao động.
Tại xã Ngọc Sơn ngày 7/11/1930 nhân dân đã treo cờ Đảng trên cây gạochùa Bà Đanh để kỉ niệm ngày cách mạng tháng 10 Nga Lá cờ do ông BùiVăn Siêu người thôn Đanh Xá trực tiếp treo lên Việc tổ chức treo cờ Đảngcách trung tâm huyện lị trên 1km là một đòn giáng mạnh vào cơ quan đầu nãocủa địch Sự việc trên không chỉ động viên, khích lệ phong trào cách mạng
mà nó còn thể hiện lòng tin của quần chúng đối với Đảng
Tháng 6/1931 nhân dân Đanh Xá đã cùng nhân dân Phương Khê, YênLạc, phố Quế kéo lên huyện đòi tri huyện Vũ Duy Cẩn thuốc thang đòi bồithường cho một nông dân bị chúng đánh đập tàn nhẫn
Năm 1935 tổ chức của Đảng dần được khôi phục, quần chúng cách mạng
ở Đanh Xá, Phương Khê, Thụy Xuyên tổ chức các hội từ thiện để thu hútquần chúng, tuyên truyền sách báo cách mạng, chống áp bức bóc lột Đầu năm 1943 đồng chí Mai Văn Thái cán bộ huyện đã đến núi Ngọc ởChùa Bà Đanh để đón đồng chí Lê Quang Tuấn ở TW cử về chỉ đạo phongtrào cơ sở Ngày 20/8/1945 cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Huyện KimBảng giành thắng lợi Khắp các thôn xóm ở Ngọc Sơn vui mừng chào đónUBND cách mạng ra đời Bên cạnh diệt giặc dốt, giặc đói, các địa phương đãchuẩn bị mọi mặt để chống giặc ngoại xâm Các thôn chú trọng xây dựng lựclượng vũ trang và luyện tập quân sự Thôn Đanh Xá đã quyên góp tiền muasúng trường để trang bị cho đội tự vệ Ở Chùa Bà Đanh cũng như các sânrộng trong thôn, dân quân du kích luyện tập suốt ngày đêm
Từ năm 1946 đến năm 1950 đóng trực tiếp tại chùa Bà Đanh là cơ quan
sở bưu điện của liên khu III Nhiều đồng chí lãnh đạo TW đã từng qua đâycông tác và dừng chân nghỉ tại địa điểm này
Trang 26Năm 1950 thực dân Pháp đánh chiếm và đóng sáu bốt trên đất Kim Bảngtrong đó có bốt Quế Cơ sở Bưu điện đặt tại chùa Bà Đanh đã phải di chuyển.
Ở xã Ngọc Sơn, xóm 1 thôn Thụy Xuyên được coi là chiến khu 1, tại nơi nàycác cơ quan như ủy ban kháng chiến, văn phòng, ban chỉ huy xã đội đều đóngtại đây để chỉ đạo phong trào Bên cạnh đó xã còn thành lập chiến khu 2 đặtngay cạnh Chùa Bà Đanh để bám sát cơ sở, hơn nữa là chỉ đạo cuộc chiếnđấu Từ năm 1953 trở đi, nơi này thành trung tâm, cơ quan đầu não của cuộckháng chiến của xã Để phục vụ cho chiến trường, đêm đêm hàng đoàn dâncông tập trung ở chùa Bà Đanh vận chuyển thóc công lương qua sông Đáyvào Chi Nê-Đầm Đa Lực lượng du kích và bộ đội chủ lực ở trên về thườngxuyên đóng tại chùa, phối hợp chiến đấu và giải phóng quê hương
Suốt chín năm kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp, đặc biệt làbốn năm chúng chiếm đóng Ngọc Sơn (1950-1954) nhân dân thôn Đanh Xá
đã huy động sức người, sức của cùng toàn dân tham gia đánh giặc giữ làng.Chùa Bà Đanh là một cơ sở tin cậy, một đầu mối giao thông quan trọng trongkháng chiến Vì vậy, cụ Thích Tâm Ngọ trụ trì chùa này đã được vinh dự đónnhận tấm Huân chương kháng chiến hạng nhất vì những đóng góp tích cựccủa mình cho cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ của dân tộc ta đi đến thắnglợi hoàn toàn
2.3 Tín ngưỡng thờ Tứ Pháp
2.3.1 Sự kiện nhân vật lịch sử liên quan đến di tích
Chùa Bà Đanh cũng như nhiều chùa khác ở miền Bắc Việt Nam trên điệnthờ rất phong phú gồm nhiều tượng Phật và tượng Bồ Tát Đây là nét tiêu biểuchung cho các chùa thờ Phật theo phái Đại Thừa Trong chùa không chỉ cótượng Phật mà còn có tượng của Đạo giáo như: Thái Thượng Lão Quân, NamTào, Bắc Đẩu và các tượng Tam Phủ, Tứ Phủ của tín ngưỡng dân gian
Trang 27Chùa còn thờ Tứ Pháp là một sản phẩm tôn giáo hoàn toàn mang tínhchất bản địa Căn cứ vào ngọc phả và truyền thuyết còn truyền tụng trongnhân dân thì lịch sử nhân vật được thờ như sau:
Vào thế kỉ thứ II ở Mãn Xá, huyện Siêu Loại, Thuận Thành (Bắc Ninh)
có gia đình ông Tu Định hay làm việc thiện nhưng khó về đường con cái, sau
vì thành kính cúng lễ ở chùa nên sinh đuợc một nguời con gái, đặt tên là ManNương Nàng là một phụ nữ tính rất ôn hòa, không thích lấy chồng chỉ thíchtuần nhật niệm phật cầu kinh
Đến năm 18 tuổi khi nghe tin có một vị cao tăng tên là Khâu Đà La tuhành tại chùa Linh Quang thuộc đất Tiên Du, nàng liền xin cha mẹ cho tớichùa để học đạo Khâu Đà La vốn tâm từ bi liền nhận Man Nương vào học,gặp khi tiết hạ, sứ các nơi tập trung về ăn chay học pháp, nàng lo việc cơmnước sớm chiều
Một hôm, đang đêm sư phụ khó ở, bèn gọi Man Nương đến thuốc thang Nàng làm việc mệt quá ngủ quên ngay trước cửa phòng mà không biết Dưới trăng sáng, Khâu Đà La vô tình bước qua người nàng Từ đó Man Nương có thai:
Vô tình mà hóa hữu tìnhTruyện xưa Vũ Mẫn giáng sinh dị kì
Chỉ e chút phận là niTránh sao cho khỏi thị phi miệng đời
Nàng xấu hổ bỏ về nhà Mười bốn tháng sau vào ngày mồng 8 tháng 4 Man Nương sinh ra một khối đá:
Hóa cơ cũng khéo xoay vầnSinh ra khối đá sự trần thấy đâuHào quang rực rỡ muôn màuKhí lành trùng khắp buồng sâu ngõ gần
Trang 28Man Nương đem khối đá đó đến chùa Linh Quang gửi nhà sư Sư phụkhông chút chối từ cầm lấy khối đá đó rồi cho nàng về chùa Phúc Nghiêm tuhành như cũ.
Một ngày kia Khâu Đà La mang khối đá đó đến một gốc cây đa lớn khấnrằng: “kẻ tu hành này vốn vô tâm sao phải chịu nỗi oan này” Khâu Đà La vừanói dứt, cây đa nứt ra một chỗ, nhà sư bỏ khối đá vào đó thì vật nứt biến mất.Hơn mười năm sau, tự nhiên có một trận gió lớn làm đổ cây đa rồi quẳng
ra sông Cây đa trôi về đất Cổ Châu thì dừng, thuyền bè qua lại vô ý chạmphải đều mang tai vạ, cao tăng, lực sĩ trong làng được phái đến để kéo câynhưng không nổi Man Nương đến tắm ở đoạn sông ấy, cây gỗ rập rình nhưcon nhìn thấy mẹ, nàng ném dải yếm ra thì cây trôi vào ngay Vì vậy ManNương đã được phong làm hậu thần của chùa ấy:
Nàng vừa tới đó một khiGiải lương kéo thử cây thì lên ngayTrên ban ra chiếu vân mâyBan cho tín nữ chùa đây hậu thầnMột buổi trưa, nhà sư tụng kinh xong đi nghỉ Còn đang mơ thì thấy cómột vị thiên thần và bốn người đến trước mặt lạy tạ mà nói rằng: Chúng tôi là
Tứ Pháp đã có tám chữ nét son ở trong cây gỗ, xin tạc thành tượng để thờ.Khâu Đà La từ khi thoát khỏi lụy trần, một hôm cho gọi Man Nương lạitruyền cho câu thần chú để cầu mưa rất hiệu nghiệm:
Bảy mươi công đức mãn kìGặp khi sư phụ hạc qui gần ngày
Sẵn xưa thần tích trong tayVới thần chú ấy trao ngay cùng nàng
Từ đó khi gặp trời khô hạn, Man Nương lễ phật niệm chú Nhờ vậy, mưathuận gió hòa, lúa má tươi tốt, mùa màng bội thu Man Nương thọ 80 tuổi,
Trang 29mất tại chùa Phúc Nghiêm Từ đó, cứ đến ngày mồng 8 tháng 4 nhân dân CổChâu cũng như các nơi lại tổ chức làm lễ bái tổ.
Việc thờ thần ở chùa Bà Đanh cũng gắn liền với một truyền thuyết ở địaphương như sau:
Trước đây ở vùng này luôn gặp mưa to gió lớn nên việc sản xuất rất khókhăn, mùa màng thất thu, thiếu đói kéo dài Vào một ngày kia cả làng xôn xaoviệc thánh nhân báo mộng cho một cụ già trong làng rằng có một người congái rất trẻ, xinh đẹp, đoan trang, khuôn mặt phúc hậu với vầng trán và đôi mắtthông minh truyền rằng: “Ta được thần cho về đây trông nom và chỉ bảo dânlàng làm ăn”
Vì vậy, dân làng họp bàn lập chùa thờ bà Các cố lão chọn khu rừng đầulàng làm nơi dựng chùa Nơi ấy bấy giờ là một vạt rừng rậm rạp có nhiều cây
cổ thụ, sát bờ sông là một hòn núi nhỏ nhô mình ra mặt nước, trong rừng rộn
rã tiếng chim, quang cảnh thật là thần tiên
Ngôi chùa ban đầu được xây dựng tranh tre nứa lá đơn sơ, đến năm VĩnhTrị, đời Lê Hy Tông (1676-1680), khu rừng mới được mở mang quang đãng
để xây chùa lại cho khang trang Khu vực này cấm người dân làm nhà ở nêncảnh chùa càng thêm trang nghiêm, vắng vẻ Ngôi chùa được xây dựng ít lâuthì có một cây mít cổ thụ ở quanh chùa bỗng dưng bị gió to quật đổ Dân làng
đã đẵn lấy gỗ để tìm thợ giỏi về tạc tượng thờ trong chùa
Bỗng nhiên có một khách thập phương tìm đến chùa nói rằng mình làmnghề tạc tượng và được báo mộng đến đây Người khách tả hình dáng và dungnhan người con gái đã báo mộng thì thấy giống hệt vị thần đã báo mộng cho cụgià trong làng Năm ấy gặp mùa mưa lũ, nước sông dâng cao, tạc tượng gầnxong thì dưới bến nước trước chùa có vật lạ, nửa nổi, nửa chìm, không trôi theodòng nước, đẩy ra mấy lần lại thấy trôi trở lại Thấy chuyện lạ, dân làng vớt lênxem thì hoá ra đó là một cái ngai bằng gỗ bèn rước ngay vào chùa
Trang 30Thật lạ lùng, pho tượng tạc xong thì đặt vừa khít vào ngai Từ đó trongvùng mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, tiếng đồn Thánh Bà Bảo Sơn linhứng lan truyền khắp nơi, khách thập phương về lễ rất đông Những người làmnghề sông nước xuôi ngược qua đoạn sông này gặp mùa lũ đều lên chùa thắphương cầu mong yên ổn.
Truyền thuyết này có đôi nét gần gũi với truyền thuyết Man Nương, ởnhững chi tiết như cây gỗ trôi sông (Truyện Man Nương) và ngai gỗ trôi sông(truyền thuyết về Bà Đanh) Ở bản chất của vị thần cả hai nơi thờ đều là nữthần nông nghiệp Ngoài ra, ở truyền thuyết về Bà Đanh ta còn thấy bóngdáng của tục thờ thần sông nước của nhân dân vùng ven sông Đáy Câuchuyện truyền thuyết này chỉ là để gắn bó vị thần được thờ với địa phương.Thực chất đây cũng chỉ là một vị thần nông nghiệp, làm nhiệm vụ điều hànhthiên nhiên, tạo ra thời tiết thuận lợi phục vụ cho nền sản xuất nông nghiệplúa nước, vị thần này nằm trong hệ thống Tứ Pháp được thờ khá phổ biến ởcác làng quê miền Bắc Việt Nam
Hệ thống Tứ Pháp rất phù hợp với tư tưởng cổ đại Việt Nam nên từ quêhương Thuận Thành-Bắc Ninh đã lan ra nhiều nơi Vì vậy danh tiếng Tứ Pháptruyền khắp nước Truyền thuyết dân gian về Tứ Pháp đầy huyền thoại nhưng
rõ ràng bên trong huyền thoại đó phản ánh ước mơ của cư dân nông nghiệpthờ các hiện tượng thiên nhiên, thần phật nhằm cầu mong sự phù trợ trong sảnxuất và trong đời sống
2.3.2 Hệ thống các chùa thờ Tứ Pháp
Tứ Pháp là danh từ để chỉ các nữ thần trong tín ngưỡng Việt Nam gồm:Mây-Mưa-Sấm-Chớp, đại diện cho các hiện tượng tự nhiên có vai trò quan trọngtrong xã hội nông nghiệp Sau này khi Phật giáo vào Việt Nam thì nhóm các nữthần này được biến thành Tứ Pháp với truyền thuyết về Phật Mẫu Man Nương.Liên quan đến tín ngưỡng thờ nữ thần còn có hệ thống các chùa gọi là TứPháp, hiện chỉ thấy trong vùng Đồng bằng Bắc Bộ Các vị nữ thần đó gồm :