KHÁI LƯỢC VỀ HỒI GIÁO TẠI VIỆT NAM ( PHẦN 1) Đoàn Vũ Thanh Hoàng I Khái lược về Hồi Giáo thế giới Hồi giáo (tôn giáo của tộc người Hồi Hột – Một tộc người thiểu số ở Trung Quốc) là cách gọi của người.
Trang 1KHÁI LƯỢC VỀ HỒI GIÁO TẠI VIỆT NAM ( PHẦN 1)
Đoàn Vũ Thanh Hoàng
I Khái lược về Hồi Giáo thế giới:
Hồi giáo (tôn giáo của tộc người Hồi Hột – Một tộc người thiểu số ở Trung Quốc)
là cách gọi của người Trung Quốc gọi đạo Islam (theo tiếng Ảrập nghĩa là phục tùng theo
ý chân chủ) xuất hiện ở bán đảo Ảrập vào khoảng thế kỷ thứ VII Ảrập Xêut là quê hương của Hồi giáo Hồi giáo ra đời do hàng loạt nguyên nhân kinh tế, xã hội, tư tưởng gắn liền với sự chuyển biến từ chế độ công xã nguyên thủy sang xã hội có giai cấp của các tộc người vùng Trung cận Đông và yêu cầu thống nhất các bộ lạc trong bán đảo Ảrập thành một nhà nước phong kiến thần quyền do đó cần một tôn giáo độc thần để thay thế những tôn giáo đa thần tồn tại ở đó từ trước
Sự ra đời của Hồi giáo gắn liền với tên tuổi một người nổi tiếng là giáo chủ Mohammed (Mahomet) Mâohammed (570 – 632) là một người thuộc gia tộc Casimu ở Mecca
Tục truyền rằng khi Mohammed được 40 tuổi (năm 610) ông một mình vào trong một hang nhỏ ớ núi Xira, ngoại thành Mecca để tu luyện và trầm ngâm suy tưởng Trong một đêm thánh Allah (Ala – Chân chủ) đã cử thiên sứ Gabrien đến truyền đạt Thần dụ và lần đầu tiên “khải thị” cho ông chân lý của Kinh Coran khiến ông trở thành “Thánh thụ mệnh” và ông tự xưng là đã tiếp thụ sứ mệnh của chân chủ trao cho và bắt đầu truyền đạo Đầu tiên ông bí mật truyền giáo trong số những bạn bè thân thiết và họ trở thành những tín đồ đầu tiên, về sau sự truyền đạo trở nên công khai, đối tượng mở rọâng tới quần chúng ở Mecca nhưng bị giới quý tộc đả kích và bức hại Môhamet đã trốn được đến Yathrib (sau đổi thành Madinah – Thành phố tiên tri) Ơû đây ông phát động và tổ chức quần chúng đấu tranh và cuộc cách mạng của ông giành được thắng lợi Sau đó ông
tổ chức vũ trang cho các tín đồ (Muslim) và dùng khẩu hiệu “Chiến đấu vì Allah” và đè bẹp được giới quý tộc ở Mecca
Trang 2Cùng với việc mở rộng phạm vi truyền đạo Mohamet còn liên minh với các bộ tộc
và dùng sức mạnh buộc các thế lực còn lại phải quy thuận theo Hồi giáo Có thể nói cuộc cách mạng do Mohammed lãnh đạo là một cuộc cách mạng tôn giáo và cải cách xã hội kết hợp với nhau Sự ra đời của Hồi giáo đã mở ra một thời kỳ lịch sử mới thống nhất trên bán đảo Ảrập
Hiện nay trên thế giới có khoảng 900 triệu tín đồ Hồi giáo có mặt ở hơn 50 quốc gia trên khắp các châu lục nhưng tập trung chủ yếu ở các nước Ảrập (trừ Li băng và Ixraen) và chiếm đại đa số ở các nước như Iran, Irắc, Pakistan, Apganistan, Thổ Nhĩ Kỳ… và một số nước vùng Trung Á và cả ở Đông nam Á (chủ yếu ở Inđonesia) Một số quốc gia tự coi mình là quốc gia Hồi giáo Tuy nhiên Hồi giáo ở các quốc gia khác nhau nên đã phân chia thành các hệ phái khác nhau nhưng về cơ bản không đối lập nhau
Giáo lý của Hồi giáo
Đặc điểm giáo lý của Hồi giáo là rất đơn giản nhưng luật lệ và lễ nghi rất phức tạp
và nghiêm khắc thậm chí đến mức khắt khe và nhiều khi nó vượt ra khỏi phạm vi tôn giáo và trở thành một chuẩn mực pháp lý của xã hội Trong Hồi giáo khó thấy ranh giới giữa cái thiêng và cái tục
Giáo lý cơ bản của Hồi giáo là Kinh Coran (Coran theo nguyên nghĩa tiếng Ảrập là “tụng đọc”) vì đó là những lời nói của Môhamet được ghi lại và những lời này do thánh Allah thông qua thiên sứ Gabrien “khải thị” cho Mohammed Kinh Coran tổng cộng có 30 quyển, 114 chương hơn 6200 tiết (là những đoạn thơ) Nội dung Kinh Coran vô cùng phong phú đại thể bao gồm những tín ngưỡng cơ bản và chế độ tôn giáo của đạo Hồi và những ghi chép về tình hình xã hội trên bán đảo Ảrập đương thời cùng với những chính sách về chủ trương xã hội, quy phạm luân lý đạo đức… Giáo lý Hồi giáo gồm các điểm
cơ bản sau:
+ Allah là đấng tối cao sinh ra trời đất
+ Allah là đấng tối cao sinh ra muôn loài trong đó có con người
+ Con người là bình đẳng trước Allah nhưng số phận và tài năng tạo nên sự khác nhau giữa những con người
+ Số phận con người có tính định mệnh và do Allah sắp đặt
+ Tín đồ Hồi giáo phải luôn có thái độ đúng: trong cộng đồng (Hồi giáo) thì phải kiên nhẫn chịu đựng, phục tùng Allah, đối với người ngoài thì phải kiên quyết bảo vệ mọi lợi ích của Hồi giáo và phải có tinh thần thánh chiến
+ Về y lý: khuyên bảo con người phải giữ gìn sức khỏe
+ Những lời khuyên về đạo lý:
Tôn thờ thần cao nhất là Allah
Sống nhân từ độ lượng
Thưởng phạt công minh, trừng phạt chủ yếu đối với kẻ thù
Thánh chiến là thiêng liêng và bắt buộc
Kiên định và nhẫn nại trong mọi thử thách
Tin vào định mệnh và sự công minh của Allah
Trang 3 Cấm một số thức ăn: thịt heo, rượu bia và các chất có men (Heo là con vật gắn với khởi nguyên: phát triển là nhờ chăn nuôi)
Trung thực
Không tham của trộm cắp
Làm lễ và tuân thủ các nghi lễ Hồi giáo
Tín ngưỡng Hồi giáo
Xét về niềm tin, tín đồ Hồi giáo tin vào Alah, sứ giả Mohammed, thiên sứ, thiên kinh, hậu thế
- Tin vào Alah: Đây là một nội dung quan trọng của tín điều cơ bản Theo Hồi giáo, Alah
là vị thần duy nhất trong vũ trụ, tự sinh ra và bất tử Alah sáng tạo thế giới, và là chúa tể Hồi giáo không thờ ảnh tượng của Alah vì họ quan niệm Alah toả khắp nơi, không một hình tượng nào đủ để thể hiện Alah
- Tin vào sứ giả Mohammed: Giáo lý Hồi giáo cho rằng Allah từng cử nhiều sứ giả đến các dân tộc khác nhau trong những thời kỳ nhất định để truyền đạt ngôn luận của Allah cho con người Có đến 5 sứ giả Trong đó Mohammed là sứ giả cuối cùng mà Allah chọn lựa Đây cũng là sứ giả xuất sắc nhất Chỉ có Mohammed là được nhận những ngôn luận của Allah một cách đầy đủ nhất
- Tin Thiên kinh: Allah từng trao thiên kinh cho các sứ giả trước Mohammed, mỗi người một bộ Nhưng những bộ ấy không đầy đủ, bị thất lạc hoặc bị người đời sau giải thích sai lệch Chỉ có bộ thiên kinh mà Allah truyền cho Mohammed là bộ kinh điển cuối cùng nhưng đầy đủ nhất Đó là kinh Coran Vì vậy, kinh Coran dưới mắt người Hồi giáo là bộ kinh điển thần thánh duy nhất
- Tin vào Thiên sứ: Thiên sứ do Allah tạo ra, là một loại linh hồn, vô hình trước con người, không có tính thần Mỗi thiên sứ có một nhiệm vụ Trong Thiên sứ cũng có sự phân chia cao thấp Cao nhất là thiên sứ Gabrien Con người không phải phủ phục trước thiên sứ
- Tin vào hậu thế: Sẽ có ngày tận thế Trong ngày ấy, mọi sinh linh sẽ kết thúc để rồi tất
cả sống lại nhận sự phán xét của Allah Dựa vào hành vi của mỗi người mà Allah quyết định: thiên đường dành cho người thiện, địa ngục là nơi của kẻ ác
Nghĩa vụ Hồi giáo
Hệ thống nghĩa vụ của tín đồ Hồi giáo rất rộng và chi tiết, dựa trên cơ sở kinh Coran và sách Thánh huấn
Các tín đồ có 5 nghĩa vụ chủ yếu Đó là niệm, lễ, trai, khoá, triều Đây là 5 trụ cột của Hồi giáo, tạo nên sườn cốt cho đời sống của người Hồi giáo
- Niệm: tín đồ phải thường xuyên tụng niệm thành tiếng tín điều cơ bản (Vạn vật không phải là Chúa, chỉ có Chân chúa; Mohammed là sứ giả của Chúa)
- Lễ: tức là lễ bái Các tín đồ mỗi ngày hành lễ 5 lần (sáng, trưa, chiều, tối, đêm) Thứ 6 hàng tuần thì làm lễ tại thánh đường 1 lần vào buổi trưa Trước khi làm lễ, tín đồ phải rửa mặt, tay chân, quỳ xuống, hướng về đền Kabah để cầu nguyện
Trang 4- Trai: tức là trai giới Tháng 9 theo lịch Hồi là tháng trai giới của Hồi giáo Trong tháng này mọi tín đồ không ăn uống, quan hệ tính dục từ khi mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn, trừ một số trường hợp đặc biệt Kết thúc tháng này là lễ Phá bỏ sự nhịn đói, các tín đồ sẽ cùng nhau cầu nguyện, sau đó tặng quà cho nhau, và bố thí
- Khoá: các tín đồ có nghĩa vụ đóng góp cho các hoạt động từ thiện Sự đóng góp đó có thể là tự nguyện, nhưng cũng có khi là bắt buộc dựa vào tài sản của tín đồ (khoảng 1/40 tài sản)
- Triều: Các tín đồ có nghĩa vụ hành hương về Mecca ít nhất 1 lần trong cuộc đời, để triều bái Kabah trong tháng 12 theo lịch Hồi (hành hương Haji) Cuộc lễ triều bái kéo dài trong
10 ngày Ngày cuối cùng tín đồ sẽ hiến lễ là một con cừu hoặc lạc đà, hoặc một con vật
có sừng Triều bái Mecca trong dịp này là chính triều Còn phó triều thì diễn ra trong thời gian bất kỳ của năm và ít nghi lễ hơn
Ngoài ra, Hồi giáo còn có nhiều quy định cụ thể về hành vi của tín đồ trong các mối quan
hệ xã hội
Tổ chức Hồi giáo
- Thánh đường Hồi giáo là nơi sinh hoạt tập thể và có tính thiêng với các tín đồ Thánh đường gồm có Đại Thánh đường và Tiểu Thánh đường Trong Thánh đường có bài trí đơn giản, không bàn ghế, không có đồ thờ quý hay nhạc cụ, chỉ có chiếc gậy mà theo truyền thuyết là của giáo chủ Môhammet đã dùng nó để đi truyền đạo
- Hệ thống chức sắc gồm có Giáo chủ (Mufty), phó giáo chủ (Naib Mufty), Giáo cả (Ha Kim), phó giáo cả (Naib Ha Kim), Imân, Khatib, Tuan, Bilat, Slak, HaDji
Các tông phái Hồi Giáo:
Hiện tại có Hai tông phái chính của Hồi Giáo là Suni và Si-ai chia làm rất nhiều dòng Hồi Giáo khác nhau với cốt lối giáo lý vẫn giống nhau về kinh Cô-ran nhưng khác nhau về quan điểm thực hành Trông đó 90% tổng số tín đồ Hồi Giáo đều thuộc Tông Suni và 10% còn lại thuộc về Tông Si-ai với những dòng Hồi riêng biệt Hai Tông phái này thường xuyên xảy ra các hiềm khích dẫn đến cực đoan, về con đường vận động cực đoan của Hồi Giáo sẽ bàn ở quy luật vận động
Trang 5Kinh Cô-ran của Hồi Giáo Chính Thống
II Hồi Giáo du nhập vào Việt Nam
Từ TK XI đến TK XVII, quá trình bang giao của người Việt với Champa dẫn đến việc mở rộng lãnh thổ của Người Việt dần dần tiến vào miền Nam và chính thức sáp nhập vào Việt Nam dưới triều vua Minh Mang vào năm 1802 Trong khoảng thời gian đó, người Chăm luôn gặp phải sự mặc cảm hoặc đối kháng tộc người, dẫn đến quá trình thiên
di đến những vùng đất lân cận, hoặc những đất nước lân cận Một bộ phận bỏ đồng bằng duyên hải đi ngược về phía Tây đã biến đổi tộc người, một bộ phận di cư về Campuchia, sau đó lại quay về Việt Nam mang theo Hồi Giáo Thế giới
Tuy nhiên, Hồi Giáo có mặt tại Việt Nam sớm nhất là dưới vương triều Pandurangar, khoảng trong giai đoạn TK X đã có sự xuất hiện của Hồi Giáo trên lãnh thổ Champa Đây là quá trình tiếp nhận tự nguyện và tại chổ từ việc các thương gia Champa
đi thuyền sang các nước Đông Nam Á hải đảo và Nam Á để buôn bán, họ đã tiếp nhận Hồi Giao và lưu truyền vào lãnh thổ Champa và giới Hoàng Triều là tầng lớp đầu tiên tiếp nhận Hồi Giáo, đồng thời cũng có các thương gia Islam vùng Trung – Cận Đông đến Champa để trao đổi hàng hóa và dẫn đến quá trình truyền đạo Tuy nhiên, vì Champa là một quốc gia đa tộc người, có nguồn gốc việc sáp nhập các dân tộc thuộc ngữ hệ Mãi Lai
Đa Đảo, lại bị ảnh hưởng bởi một nền văn hóa cổ xưa của Vệ Đà Giáo và sau này là ảnh hưởng bởi Balamon Giáo, cho nên Hồi Giáo không thể tồn tại nguyên mẫu mà phải Chăm hoa để biến đổi thành đạo Bani (trong tiếng Ả Rập có nghĩa là Con Trai của Đấng
Trang 6Tiên Tri, nhưng trong tiếng Chăm cổ có nghĩa là Người đi buôn – mang hàm nghĩa miệt thị) và cộng đồng Chăm theo Bani này được gọi là Chăm Awal ( nghĩa là Chăm sau) Chăm Awal và Bani chính là hóa thạch lịch sử từ quá trình du nhập đạo Hồi từ các nước Nam Á và Đông Nam Á Hải Đảo về Việt Nam
Vì lý do Chăm hóa Hồi Giáo để trở thành Bani, cho nên Bà ni chỉ còn giống với Hồi Giáo một vài điểm căn bản của Hồi Giáo chứ không còn giữ được những đặc trưng của Hồi Giáo, Bà ni đã biến thành Hồi Giáo của người Chăm Awal và mang màu sắc Chăm Awal
Một số nhà nghiên cứu không xếp Bà Ni là Đạo Hồi vì lý do: Người theo đạo Bani (Chăm Awal) không giữ 5 trụ cột giáo lý của Hồi Giáo ( các học giả tiêu biểu là: Phan Quốc Anh, Ngô Văn Doanh, Trần Quốc Vượng, Trần Ngọc Thêm, Lê Văn Chưởng…đều xếp Bani là nhóm riêng) Tuy nhiên, một số học giả lại xếp Bani vào nhóm Hồi Giáo, như Huỳnh Ngọc Thu, Trương Văn Món, Phú Trạm, Nguyễn Văn Nguyện, bản thân chúng tôi cũng đồng quan điểm với việc xét Bani là Hồi Giáo, vì lý do Bani được hình thành từ nguồn gốc Hồi Giáo, đến thời điểm hiện tại, niềm tin vào Ala của người Bani vẫn còn, dù
có phần nhạt nhòa so với Islam, nhưng vẫn còn giữ, và biểu tượng Hồi Giáo (vành trăng khuyết và ngôi sao) vẫn còn giữ lại, dù tập tục có bị biến đổi nhiều nhưng hóa thạch tôn giáo của Hồi Giáo trong Bani vẫn còn nguyên, nên chúng tôi không cho phép mình được quyên nguồn cội của Bani
So sánh với một số tôn giáo lớn trên thế giới, điển hình như Phật Giáo, Phật Giáo
ở Ấn Độ và Nepal ngày hôm nay khác rất nhiều so với cách đây 20 thế kỷ, Phật Giáo tại Việt Nam cũng khác với Phật giáo ở Phật Quốc, đồng thời các Tông Phái cũng khác nhau
về lễ nghi, giáo lý, niềm tin, quy định, luật lệ và phương pháp thực hành (điển hình là Mahayana và Theraveda tại Việt Nam) nhưng các tông phái này được xếp vào Phật Giáo
cả thảy, thì hiển nhiên chúng ta không có quyền loại Bani khỏi nguồn gốc Hồi Giáo, dù rằng bây giờ Bani đã khác xa Islam, tuy nhiên, bani là minh chứng rõ ràng cho sự kiện Hồi Giáo du nhập vào Việt Nam cách đây hàng nghìn năm nhưng không thể tồn tại đúng nguyên bản
Hồi giáo Chăm Bani là tôn giáo độc đáo chỉ có ở Việt Nam, gắn chặt với người Chăm, là một phần bản sắc văn hóa của người Chăm, mặt khác chính bản sắc văn hóa
người Chăm cũng đã làm mềm hóa tính cứng nhắc của Hồi giáo.
Về cơ cấu tổ chức, đạo Hồi Chăm Bani có một đội ngũ các tu sĩ, chức sắc, họ am hiểu và
có kinh nghiệm về các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, vừa có uy tín bên đạo và có uy tín bên đời Chức sắc Chăm Bani là đội ngũ theo chế độ cha truyền con nối, gồm có 4 cấp.
Trang 7 Sư cả: là cấp cao nhất, là người quyết định hầu hết mọi vấn để đời sống tôn giáo của tín đồ
Mum: là cấp thứ hai, là người điều khiển các buổi lễ tại các đền thờ, thông hiểu kinh Koran, có đạo đức tốt và có khả năng kinh tế
Khotip: còn gọi là Tip, là cấp thứ ba, đảm nhận một số nghi lễ tại các đền thờ hoặc
tư gia mà không đảm nhiệm việc giảng giáo lý
Chang: là cấp cuối cùng, là những người mới gia nhập tầng lớp tu sĩ
Các cơ sở thờ tự của đạo Bani gọi là chùa (thánh đường), đình trong đó chùa là nơi các tu
sĩ ở và tế lễ vào những ngày lễ, còn đình là nơi tín đồ thường xuyên đến tễ lễ Các chùa
và đình được xây dựng đơn giản, hình thức bên ngoài và cách bố trí bên trong có sắc thái riêng mang tính địa phương không giống như các thánh đường Hồi giáo khác trên thế giới Chùa thường được mở vào tháng Ranuwan (là tháng Ramadan của Hồi giáo nhưng đồng thời có thêm vào những tín ngưỡng địa phương của người Chăm), hiện nay toàn đạo Bani có 17 Thánh đường
Tổ chức của đạo Bani chủ yếu ở từng thánh đường, mỗi chùa ngoài Sư cả và các vị chức sắc chăm lo việc đạo, đều có thêm ban cai quản chùa, ban cai quản chùa có nhiệm vụ chăm lo đời sống tôn giáo cho tín đồ, Tổng sư cả là người được các sư cả suy tôn, có uy tín lớn trong đạo
Đạo hồi Chăm Bani hiện có khoảng 39.000 tín đồ người Chăm và có khoảng hơn 400 vị
tu sĩ, chức sắc tại Ninh Thuận và Bình Thuận
Như vậy, Bani là sự tiếp biến Hồi Giáo từ Thế kỷ XI đến Thế kỷ XVII tại Vùng đất Champa
Tuy nhiên, ngoài bộ phận đại đa số người Chăm ở lại Việt Nam, hoặc giữ nguyên tôn giáo tín ngưỡng Ahier, hoặc chuyển sang Bani (Bini Cam) – Awal, thì – như đã nói – một
bộ phận người Chăm di cư sang Campuchia lập nên Kongpongcham, và họ bắt đầu tiếp thu Hồi Giáo theo hướng nguyên bản Vì sao ở Việt Nam, người Chăm biến đổi Islam thành Bani, nhưng khi về Campuchia, người Chăm lại không Chăm hóa Islam theo quy luật? Nhiều học giả cũng đồng quan điểm khi cho rằng lẽ ra người Chăm tại Campuchia
sẽ không bao giờ theo Islam hay chuyển hóa Islam thành Bani mà họ phải giữ nguyên Ahier theo “lý thuyết Ngoại vi hóa thạch” như trường hợp tín ngưỡng Mười Hai Bà Mụ của Người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh, hay trường hợp Chiếc Áo Dài Việt Nam tại Hoa Kỳ Tuy nhiên, sau khi trao đổi với các nhà Dân tộc học, chúng tôi nhận thấy rằng: Việc giữ vững Hóa thạch văn hóa, hay ngoại vi Hóa thạch bị chi phối đồng thời bởi 4 thành tố là: lòng tự tôn dân tộc, ý thức tự giác tộc người, sức mạnh tộc người hóa thạch
về kinh tế, văn hóa, chính trị…; và cả mối liên kết với cựu quán Tuy nhiên, trong 4 thành
Trang 8tố này, người Chăm chỉ đáp ứng được 2 thành tố ban đầu, còn hai thành tố còn lại thì người Chăm tại Campuchia lại không đáp ứng được, do đó, sức mạnh nội tại của cộng đồng lưu dân Chăm tại Campuchia trong điều kiện thời gian hạn hữu chưa đủ để giữ được Ngoại vi hóa thạch hay Chăm hóa thành tố văn hóa mới được Và do đó, họ phải giữ nguyên bản truyền thống Islam, và mang nó quay về Việt Nam xuôi dòng Basac Hậu Giang
Vào giữa thế kỷ 19, với sự thống trị của người Pháp ở Đông Dương, nhiều tín đồ đạo Hồi người Chăm đã di cư ngược từ Campuchia vào vùng Đồng bằng sông Cửu Long thông qua dòng sông Hậu và định cư tại An Giang, phát triển cộng đồng Hồi giáo ởViệt Nam Những người Hồi giáo ở miền Nam Việt Nam là Hồi giáo Chăm Islam, theo Hồi giáo chính thống, thuộc hệ phái Safi'i dòng Suni, không bị pha trộn với phong tục, tập quán, tín ngưỡng cũ và thường xuyên liên hệ với thế giới Hồi giáo Campuchia và Malaysia Hồi giáo ở Mã Lai có ảnh hưởng lớn với cộng đồng người Chăm qua những
bài khutba soạn bằng tiếng Mã Lai Người Chăm cũng thường tìm sang Malaysia tu học
giáo lý và tiếp nhận tư tưởng đạo Hồi qua sự diễn dịch của người Hồi Mã Lai
Bắt đầu từ thời Pháp thuộc, tại Nam Kỳ đã có tổ chức Saykhon Islam đại diện cộng đồng Hồi giáo cho người Chăm và Mã Lai Năm 1960, dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, cộng đồng người Chăm Hồi giáo lập ra "Hiệp hội Chăm Hồi giáo Việt Nam" có văn phòng đặt tại Sài Gòn, Việt Nam Cộng hoà Năm 1966, có thêm tổ chức "Hội đồng giáo
cả các Thánh đường Hồi giáo Việt Nam" đặt văn phòng tại Châu Đốc Cả 2 tổ chức này cùng tồn tại cho đến tận năm 1975
Sau năm 1975, Tổ Chức Chăm Hồi Giáo Việt Nam được tiếp tục vận hành trong quyền bảo vệ của Pháp luật nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và ngày càng phát triển ngược ra Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ hiện nay tại Việt Nam có 41 thánh đường, 19 tiểu thánh đường Islam, tập trung nhiều nhất ở An Giang với khoảng 26.000 tín đồ và 288 chức sắc Islam
Trang 9Một Thánh đường Hồi Giáo Islam Một Thánh đường Hồi Giáo Bàni
Islam do người Chăm ở Việt Nam theo là Islam chính thống và tuân thủ hoàn toàn về mặt giáo lý, giáo luật, lễ nghĩa, chỉ khác một chút về tập quán cưới xin mà thôi Tuy nhiên, nếu so sánh hai cặp phạm trù Bani – Islam thế giới và cặp Islam của Chăm – Islam thế giới, qua quá trình chiết tách, chúng tôi vẫn thấy những đặt trưng nhất định:
- Tính truyền thống cấu kết cộng đồng tôn giáo:
Tính cấu kết cộng đồng tôn giáo không dành riêng để chỉ tôn giáo nào hay tộc người nào,
mà đây là tính quy luật trong nghiên cứu Dân tộc học – Tôn giáo nói chung Cộng đồng nào nếu cùng tộc người lại cùng tôn giáo thì cộng đồng đó sẽ có tính cố kết tộc người rất cao, và sẽ cao hơn cộng đồng chung tôn giáo hay cộng đồng chung tộc người mà không chung tôn giáo hoặc chung tôn giáo nhưng lại khác tộc người Chúng tôi có 3 thang đo:
A – Chung Tôn Giáo lại chung Tộc Người (tức cộng đồng 1 dân tộc – tộc người lại theo chung một tôn giáo, gọi nôm na là đạo)
B – Chung Tôn giáo những lại khác tộc người
C – Chung Tộc người nhưng khác Tôn Giáo
Trong 3 thang đo này, sau quá trình khảo sát chúng tôi đã nhận thấy tính cố kết tộc người của đối tượng được xếp thứ tự từ cao đến thấp như sau: A cao nhất và C thấp nhất
Theo đó, chúng tôi áp dụng với trường hợp Hồi Giáo tại Việt Nam để nghiên cứu thì rõ ràng rằng trường hợp Hồi Giáo gắng liền với người Chăm ở Việt Nam, và theo 2 trường hợp là A và C
Trang 10Theo trường hợp A, không xét Chăm Ahier thì chúng tôi thấy rõ ràng rằng Chăm Awal (Bini Cam) có 2 tính: đó là A và C, tức là cộng đồng Chăm Awal có mối dây ràng buộc,
cố kết tộc người cao nhất, sau đó là sự cố kết tộc người với cộng đồng ngươi Chăm ở các làng Chăm lân cận, dù rằng họ có khác tôn giáo đi chăng nữa Vì lý do đó, mà người Chăm Awal thường sống chung với cộng đồng người Chăm Ahier thành một vùng, tuy nhiên họ lại sống thành các làng, ví dụ, người Chăm nói chung, sống tại Phước Dân, trong đó làng Mỹ Nghiệp của Chăm Ahier và làng Văn Lâm của Chăm Awal (Bini Cam) lại gần kế bên nhau Điều này mang lại cho Awal tính giáo dục và giữ vững truyền thống giáo dục văn hóa tộc người, giữ vững được sự ổn định và phát triển của tôn giáo Đây cũng là một trong những nguyên nhân giúp một tôn giáo phát triển tín đồ theo chiều dài lịch sử (Chưa xét trường hợp đối kháng tộc người khác tôn giáo và đối kháng tôn giáo khác tộc người)
Trường hợp Chăm Islam cũng như vậy, người Chăm Islam sống thành các làng riêng biệt, tách biệt với các làng của người Việt, hay người Khmer, và mối quan hệ trong cuộc sống của tất cả các thành viên trong làng Chăm Islam đều vô cùng khắn khít với nhau.
Islam có Ramadam thì Awal có Ra-mư-wan
Islam có Ramadam thì Awal có Ra-mư-wan
- Tính “sa mạc hóa”:
Hồi Giáo tại Việt Nam mang tính Sa mạc hóa cao Thuật ngữ Sa mạc hóa này có nghĩa là:
Sự phát triển “da beo” (Thuật ngữ nguyên gốc của Hiệp Hội Tôn Giáo Thế Giới đã thống nhất từ năm 1981) có nghĩa là các vị trí hình thành cơ sở thờ tự của Hồi Giáo manh mún phát triển độc lập, sau đó lan tỏa ra các vùng phụ cần Sa mạc thường có xu hướng mở rộng theo thời gian, và Hồi Giáo ở Việt Nam cũng Sa Mạc hóa như vậy
Đồng thời, Hồi Giáo thường có xu hướng phát triển ở những vùng có sự chia cách nặng, như các sa mạc hay hải đảo, ở Đông Nam Á điển hình là Indonesia và Malaysia là vùng đất bị chia cách mạnh bởi đại dương, và Hồi Giáo ở Việt Nam đang theo tính sa mạc hóa như vậy Trường hợp này chỉ thể hiện rõ nhất đối với Chăm Hồi Giáo (Islam) còn đối với Awal thì chưa rõ nét