1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn học viện tài chính) bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty cổ phần bảo hiểm petrolimex

62 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex-Thực trạng và giải pháp
Tác giả Mạnh Thị Linh
Người hướng dẫn Ths Võ Thị Pha
Trường học Học viện Tài chính
Chuyên ngành Bảo hiểm
Thể loại chuyên đề cuối khóa
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 428,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua thời gian học tập và thực tếhoạt động kinh doanh bảo hiểm tại văn phòng khu vực I Hội sở PJICO HàNội, nhận thức được vai trò to lớn của bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới đối

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây, nước ta đang có bước phát triển vượt bậc về kinh

tế, cùng với đó là sự gia tăng nhanh chóng về nhu cầu tham gia giao thôngdẫn đến việc các phương tiện giao thông được đưa vào lưu thông ngày càngnhiều, đặc biệt là phương tiện giao thông đường bộ Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng

ở nước ta còn kém, tốc độ phát triển chậm hơn rất nhiều so với các phươngtiện cơ giới Do đó mà tình trạng tại nạn giao thông ở nước ta vẫn đang xảy ratừng ngày, tai nạn giao thông hiện vẫn đang là một trong những nguyên nhânchính gây nên tử vong ở nước ta Trước tình hình đó, bảo hiểm bắt buộc tráchnhiệm dân sự (TNDS) của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba đã được triểnkhai ở nước ta và mang lại những hiệu quả thiết thực Nghiệp vụ bảo hiểmnày góp phần rất lớn trong việc giải quyết những hậu quả sau tai nạn, giúp ổnđịnh kinh tế cho cả chủ xe cơ giới lẫn người thứ ba

Bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba được triểnkhai tại nhiều công ty bảo hiểm trong đó có công ty cổ phần bảo hiểmPetrolimex (PJICO) PJICO là công ty cổ phần đầu tiên hoạt động trên thịtrường bảo hiểm và đã sớm khẳng định được vị thế trên thị trường bảo hiểmphi nhân thọ Nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới đối vớingười thứ ba tại công ty PJICO đã và đang không ngừng phát triển, nó đónggóp không nhỏ vào tổng doanh thu hằng năm của công ty đồng thời nâng cao

uy tín của công ty trên thị trường bảo hiểm Qua thời gian học tập và thực tếhoạt động kinh doanh bảo hiểm tại văn phòng khu vực I (Hội sở PJICO HàNội), nhận thức được vai trò to lớn của bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe

cơ giới đối với người thứ ba, em đã chọn đề tài: “Bảo hiểm bắt buộc trách

nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex-Thực trạng và giải pháp” làm chuyên đề thực tập.

Trang 2

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM BẮT BUỘC TRÁCH NHIỆM DÂN

SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA 1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA BẢO HIỂM BẮT BUỘC TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA

1.1.1 Tình hình tai nạn giao thông đường bộ và hậu quả

Trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, giao thông đường bộ có vai trò vô cùngquan trọng cho sự phát triển Các phương tiện cơ giới đem lại cho con ngườimột hình thức vận chuyển thuận tiện, nhanh chóng, kịp thời, giá rẻ và phù hợpvới đại đa số cư dân Việt Nam hiện nay Việc đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạtầng, đưa các phương tiện cơ giới vào tham gia giao thông tạo điều kiện choquá trình vận chuyển nguyên nhiên vật liệu phục vụ cho xây dựng, sản xuấtcũng như vận chuyển hàng hóa trong nước được lưu thông thuận tiện là mộttrong những nhân tố chính quyết định đến sự phát triển kinh tế xã hội

a Tình hình phát triển phương tiện cơ giới

Bảng 1: Số lượng xe cơ giới tham gia giao thông từ năm 2006-2010

Năm Mô tô (chiếc) Ô tô (chiếc) Tổng số xe cơ

(Nguồn: Tạp chí Giao Thông Vận Tải tháng 12/2010)

Những năm gần đây, giao thông đường bộ ở nước ta có những bước phát triểnmạnh, đặc biệt là các phương tiện cơ giới Theo số liệu thống kê trong 5 năm

Trang 3

qua, số lượng xe cơ giới tham gia giao thông năm 2006 là 20.855.738 chiếc,đến năm 2010 là 35.471.595 chiếc (gấp 1,7 lần), tăng 14.615.857 chiếc Trong

đó mô tô tăng từ 19.832.263 chiếc đến 33.624.381 chiếc (gấp 1,7 lần), tăng13.792.118 chiếc Ô tô tăng từ 1.023.475 chiếc đến 1.847.214 chiếc (gấp 1,8lần), tăng 832.739 chiếc

Với ưu điểm vượt trội của xe cơ giới là tính linh hoạt và cơ động cao, có thể

di chuyển trên những địa hình phức tạp, tốc độ cao với chi phí tương đối thấpphù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội nước ta hiện nay Dự báo trongnhững năm tới, xe cơ giới vẫn là phương tiện giao thông chính của đa sốngười dân, đồng nghĩa với nó là số lượng xe cơ giới vẫn tiếp tục tăng mạnhtrong những năm tiếp theo

b Thực trạng tai nạn giao thông và nguyên nhân

Xe cơ giới được biết đến là một nguồn nguy hiểm cao độ không chỉ cho riêngngười điều khiển xe cơ giới mà còn có thể gây ra những thiệt hại về người vàtài sản cho người thứ ba Song song với lượng xe cơ giới tăng lên rất nhanh làtình trạng tai nạn giao thông ngày một nghiêm trọng, đặc biệt là tai nạn giaothông đường bộ Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới (WHO), mỗi nămtrên thế giới có 1,2 triệu người chết vì tại nạn giao thông, ngoài ra còn có 50triệu người khác bị thương Hiện nay tai nạn giao thông đường bộ đang xếpthứ 9 trong số các nguyên nhân gây ra tử vong và tàn phế và có khả năngvươn lên đứng thứ 3 vào năm 2020 Tai nạn giao thông đã trở thành một vấn

đề mang tính xã hội, các nước trên thế giới đang phải đối mặt với tình trạngtai nạn giao thông và hậu quả của nó như đối mặt với các vấn đề xã hội khác

Theo số liệu mới nhất của Ủy ban An toàn giao thông quốc gia, tại Việt Nam,tai nạn giao thông đường bộ thuộc vào tốp những nước có tai nạn giao thôngcao nhất thế giới Từ năm 2006 đến 2010, nhìn chung số vụ tai nạn vẫn đangtăng lên (từ mức 14.700 vụ trong năm 2006 lên 15.000 vụ năm 2010, tăng 300

Trang 4

vụ) Tuy số người chết và bị thương giảm xuống (năm 2006 số người chết là12.800 người, năm 2010 chỉ còn 11.000 người, giảm 1.800 người; số người bịthương năm 2006 là 11.300 tới 2010 chỉ là 10.500 người, giảm 800 người), tathấy mức giảm là không đáng kể Mức độ nghiêm trọng của các vụ tai nạngiảm đi không nhiều bởi số người chết và bị thương do tai nạn vẫn ngangngửa nhau qua các năm, thậm chí còn tăng lên qua một số năm Trong năm

2010, cả nước xảy ra 15.000 vụ tai nạn giao thông, làm chết 11.000 người, bịthương 10.500 người So với năm 2009 tăng 2.500 vụ, giảm 500 người chết

và tăng 2.600 người bị thương Tính trung bình mỗi ngày có khoảng trên 31người chết vì tai nạn giao thông Số vụ tai nạn giao thông do xe máy gây rachiếm trên 75%, ôtô chiếm 17%, xe đạp 4%, các tai nạn nghiêm trọng chiếmkhoảng 70% tổng số vụ tai nạn giao thông, tỷ lệ các vụ tai nạn nghiêm trọngđang có xu hướng gia tăng

Bảng 2: Tình hình tai nạn giao thông đường bộ ở Việt Nam

(Nguồn: Tạp chí Giao Thông Vận Tải tháng 12/2010)

Ở nước ta, hiện nay, có những nguyên nhân chủ yếu gây nên tai nạn giaothông như:

Trang 5

- Ý thức của người điều khiển phượng tiện tham gia giao thông còn kém,nhiều người dân tham gia giao thông trong tình trạng say rượu không thểkiểm soát tốc độ, phóng nhanh, vượt ẩu, không chấp hành luật lệ giao thông.

- Hệ thống giao thông đường bộ ở Việt Nam còn rất kém, không đảm bảo antoàn cho người tham gia giao thông

- Chất lượng của nhiều phương tiện tham gia giao thông còn kém và khôngđược kiểm định thường xuyên, do đó rất dễ xảy ra những sự cố bất ngờ khitham gia giao thông

Số lượng xe cơ giới ở nước ta tăng lên rất nhanh nhưng về mức độ cơ giới hóathì vẫn còn thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực Số lượng xe cũ nát

có điều kiện an toàn thấp vẫn chiếm tỷ lệ cao Tổng số xe được kiểm địnhthấp hơn rất nhiều so với số xe tổng số xe hiện đang lưu hành Theo đánh giácủa các chuyên gia thì lượng xe cơ giới ở nước ta sẽ còn tiếp tục tăng mạnhtrong những năm tiếp theo, đặc biệt là xe ô tô Tuy nhiên, tốc độ phát triển cơ

sở hạ tầng giao thông vẫn còn chậm hơn rất nhiều so với tốc độ phát triển của

xe cơ giới, đây là một trong những nguyên nhân chính gây nên tai nạn giaothông ở nước ta

1.1.2 Sự cần thiết triển khai nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba

Sự phát triển của giao thông vận tải đã đem lại sự phồn vinh cho toàn xã hộinhưng nó lại cũng chính là nguyên nhân gây ra tai nạn, làm thiệt hại đến tínhmạng, sức khỏe, tinh thần và tài sản của cá nhân và xã hội, hậu quả khó khăn

về kinh tế, tổn thương tình cảm cho người bị nạn

Tại nạn giao thông để lại hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho cả chủ xe cơ giới

và người bị tai nạn do mình gây ra Thường thì khi tai nạn xảy ra, chính cảchủ xe cơ giới cũng phải nhập viện hoặc có thể tử vong Mà chủ xe cơ giớithường lại là trụ cột trong gia đình, khi phải nhập viện hoặc tử vong, không

Trang 6

thể tiếp tục làm ăn để lo cho gia đình thì thực tế là cả gia đình lâm vào hoàncảnh vô cùng khó khăn Trong khi đó gia đình chủ xe cơ giới còn phải bồithường tiền cho người bị tai nạn, khắc phục hậu qủa sau tai nạn Có nhữngtrường hợp, chủ xe cơ giới không có điều kiện để bồi thường cho người bị nạn

do mình gây ra thì người bị nạn lại phải tự bỏ tiền túi ra để sửa chửa phươngtiện của mình và chữa trị chấn thương do tai nạn

Như vậy, tai nạn giao thông là mối đe dọa từng ngày từng giờ đối với các chủphương tiện và xã hội Mặc dù Nhà nước đã có nhiều biện pháp ngăn ngừa,hạn chế tai nạn một cách tích cực nhưng vẫn không thể tránh khỏi và khi tainạn xảy ra thì việc giải quyết hậu qủa thường phức tạp, kéo dài Phần lớn các

vụ tai nạn xảy ra đều bồi thường theo thỏa thuận giữa chủ phương tiện vàngười bị hại nên dẫn đến nhiều khúc mắc trong việc bồi thường (bồi thườngkhông đúng thiệt hại thực tế) Có những vụ tai nạn chủ xe không có điều kiện

để giải quyết bồi thường, nhiều trường hợp chủ xe bị chết trong vụ tai nạn đónên việc giải quyết tai nạn trở nên khó khăn hơn

Tất cả những nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông đều không thể khắc phụctrong một thời gian ngắn và tai nạn giao thông còn do những yếu tố kháchquan mang lại Do đó, chúng ta cần phải có những biện pháp khắc phục hậuquả cho người bị nạn, làm giảm gánh nặng chi phí cho chủ phương tiện Phầnlớn trong các vụ tai nạn nghiêm trọng chủ xe không đủ khả năng tài chính đểbồi thường, nhiều trường hợp chủ xe, lái xe bị chết khi tai nạn xảy ra hoặc bỏtrốn nên việc giải quyết hậu quả gặp nhiều khó khăn Vấn đề đặt ra là phải cómột nguồn tài chính sẵn sàng cho việc giải quyết hậu quả của các vụ tai nạngiao thông, đảm bảo lợi ích, ổn định cuộc sống cho người bị hại và giảm bớtghánh nặng cho chủ xe Đáp ứng yêu cầu đó, bảo hiểm TNDS của chủ xe cơgiới đối với người thứ ba ra đời là một tất yếu khách quan và được phát triển

từ loại hình bảo hiểm tự nguyện sang bắt buộc

Trang 7

Như vậy, bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba

đã đáp ứng nhu cầu của toàn xã hội và cũng là điều mong muốn thiết tha củacác chủ phương tiện

1.1.3 Sự ra đời và phát triển nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba

Kinh tế phát triển kéo theo sự bùng nổ các phương tiện giao thông và tai nạngiao thông do các phương tiện này gây ra Hậu quả của những vụ tai nạn này

có ảnh hưởng rất xấu tới chủ phương tiện, người bị nạn nói riêng và đối vớitoàn xã hội nói chung Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ

ba ra đời đã cho chúng ta thấy đây là biện pháp khắc phục hết sức hiệu quả

Trên thế giới, nghiệp vụ bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ

ba ra đời vào thế kỉ XVIII, phát triển mạnh vào thế kỉ XIX Hiện nay hầu hếtcác nước đều quy định bắt buộc các chủ xe phải tham gia

Ở Việt Nam nghiệp vụ bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ

ba được đưa vào thực hiện dưới hình thức bắt buộc theo Nghị định 30/HĐBTban hành ngày 10/3/1988 Đây là một chủ trương đúng đắn và được duy trìcho đến nay nhằm đảm bảo lợi ích cho người bị nạn khi xảy ra tai nạn, nângcao trách nhiệm đối với chủ phương tiện, giúp cơ quan chức năng quản lí sốlượng xe lưu hành và thống kê đầy đủ số vụ tai nạn để có biện pháp quản lý

xã hội Bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới đối vớí người thứ ba đã

có nhiều điều chỉnh về quy tắc, biểu phí và mức trách nhiệm thông qua Quyếtđịnh 23/2003/QĐ-BTC ban hành ngày 25/2/2003, Quyết định 23/2007/QĐ-BTC ban hành ngày 9/4/2007 và gần đây nhất là Thông tư số 126/2008/TT-BTC ngày 22/12/2008 của Bộ Tài Chính

Đến nay, những quy định về bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới đốivới người thứ ba đã qua nhiều lần sửa đổi bổ sung Nghị định 103/2008NĐ-

CP ra đời ngày 16/09/2008 với nhiều điểm mới thay thế Nghị định số

Trang 8

115/1997 NĐ-CP ngày 17/12/1997 của Chính phủ về chế độ bảo hiểm bắtbuộc TNDS của chủ xe cơ giới Sau hơn 20 năm thực hiện, nghiệp vụ bảohiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba đã có bước pháttriển mạnh và đã trở thành nghiệp vụ quan trọng của tất cả các doanh nghiệpbảo hiểm (DNBH) trên thị trường bảo hiểm Việt Nam.

1.1.4 Quy định pháp lý về bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba

Bộ luật Dân sự quy định, người điều khiển xe cơ giới phải bồi thường thiệthại do xe của mình gây ra Nhưng trên thực tế nhiều nạn nhân, nhiều gia đìnhnạn nhân không được bồi thường thiệt hại do chủ xe không đủ khả năng tàichính hoặc người gây tai nạn bị chết trong tai nạn Để đảm bảo mọi người dân

bị thiệt hại do xe cơ giới gây ra đều được bồi thường thỏa đáng, Nhà nướcquy định triển khai bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ badưới hình thức bắt buộc và nhằm các mục đích:

Thứ nhất: Đó là nhằm bảo vệ những quyền lợi hợp pháp của những người bị

thiệt hại do lỗi của các chủ phương tiện gây ra, đồng thời cũng bảo vệ lợi íchcủa toàn xã hội

Thứ hai: Việc quy định bắt buộc còn nâng cao trách nhiệm trong quá trình

điều khiển xe, giúp các cơ quan quản lý số lượng đầu xe đang lưu hành vàthống kê đầy đủ các vụ tai nạn cũng như những nguyên nhân của nó để có cácbiện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất một cách có hiệu qủa

Thứ ba: Tính bắt buộc còn xuất phát từ việc thi hành nghiêm túc những quy

định của pháp luật, thực hiện tốt nghĩa vụ dân sự chủ yếu là nghĩa vụ bồithường đã được quy định trong bộ luật dân sự, thể hiện sự công minh và côngbằng của pháp luật

Bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới trước hết nhằm mục đích nhân

Trang 9

thường thiệt hại Bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới cũng có lợi chochủ xe: nếu không may gây tai nạn, DNBH sẽ thay thế họ bồi thường chongười bị nạn khi được chủ xe yêu cầu, hoặc nếu họ đã bồi thường cho người

bị nạn thì DNBH sẽ hoàn trả cho họ số tiền hợp lý mà họ đã bồi thường

Nghị định mới nhất số 103/2008/NÐ-CP về bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ

xe cơ giới Nghị định này quy định về bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe

cơ giới; quyền và nghĩa vụ của chủ xe cơ giới, DNBH; trách nhiệm của các

Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương trong việc thực hiện bảo hiểm bắt buộc TNDS củachủ xe cơ giới Được áp dụng với chủ xe cơ giới tham gia giao thông trên lãnhthổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, DNBH được phép triển khaibảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới theo quy định của pháp luật

Theo đó, chủ xe cơ giới phải tham gia bảo hiểm bắt buộc TNDS theo quy tắc,điều khoản, biểu phí bảo hiểm do Bộ Tài chính quy định Khi tai nạn xảy ra,trong phạm vi mức trách nhiệm bảo hiểm, DNBH phải bồi thường cho chủ xe

cơ giới số tiền mà chủ xe cơ giới đã bồi thường hoặc sẽ bồi thường cho người

bị thiệt hại Nghị định cũng quy định rõ các hành vi vi phạm, hình thức vàmức xử phạt

Theo quy định, Quỹ bảo hiểm xe cơ giới do các DNBH đóng để sử dụng chocác mục đích: Để đề phòng hạn chế tổn thất, tai nạn giao thông đường bộ; tổchức tuyên truyền, giáo dục về an toàn giao thông đường bộ và chế độ bảohiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới; hỗ trợ nhân đạo cho những thiệt hạixảy ra đối với người thứ ba và hành khách chuyên chở trên xe do xe cơ giớigây ra trong những trường hợp không xác định được xe gây tai nạn hoặc xekhông tham gia bảo hiểm; hỗ trợ các mục đích khác để phối hợp, chỉ đạo thựchiện bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới…DNBH có trách nhiệm

Trang 10

trích tối thiểu 2% doanh thu phí bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giớihàng năm để đóng vào Quỹ bảo hiểm xe cơ giới.

1.2 NỘI DUNG NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM BẮT BUỘC TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA

Bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba ở nước tađang được thực hiện thống nhất theo Nghị định số 103/2008/NĐ-CP ngày16/09/2008 của Chính phủ và Thông tư hướng dẫn 126/2008/TT-BTC ngày22/12/2008 của Bộ Tài Chính Để mở rộng phương thức bảo hiểm cho cácchủ xe, bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với người thứ ba được triển khai theo

2 phần: phần bắt buộc các chủ xe phải tham gia và mức trách nhiệm tựnguyện được thể hiện trên cùng một giấy chứng nhận bảo hiểm Mức tráchnhiệm tự nguyện được thiết kế phục vụ nhu cầu đa dạng của các chủ xe cơgiới

Dưới đây chúng ta chỉ xem xét nghiệp vụ bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giớiđối với người thứ ba theo phương thức bắt buộc với các nội dung cơ bản sau

1.2.1 Đối tượng bảo hiểm và phạm vi bảo hiểm

a Đối tượng bảo hiểm

Đối tượng của bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới với người thứ bachính là phần TNDS ngoài hợp đồng của mỗi chủ xe (kể cả chủ xe trong nướclẫn chủ xe nước ngoài có giấy phép hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam), đó làphần trách nhiệm hay nghĩa vụ bồi thường của chủ xe cơ giới cho nguời thứ

ba do việc lưu hành xe gây ra tai nạn Bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơgiới đối với người thứ ba không chịu trách nhiệm về mặt hình sự của chủ xecũng như thiệt hại vật chất của chính chiếc xe đó Việc bồi thường của ngườibảo hiểm dựa trên cơ sở mức độ lỗi của người điều khiển xe, thiệt hại của bên

Trang 11

thứ ba và hạn mức trách nhiệm trong hợp đồng bảo hiểm Theo đó, đối tượngbảo hiểm sẽ không bao gồm những trường hợp:

- Thiệt hại xảy ra cho bản thân phương tiện được bảo hiểm

- Thiệt hại về tính mạng sức khỏe xảy ra cho người được bảo hiểm, ngườiđiều khiển xe hoặc bất kì người nào khác đi trên chiếc xe được bảo hiểm

- Thiệt hại mà phương tiện gây ra cho những người mà chủ phương tiện cónghĩa vụ nuôi dưỡng

- Thiệt hại về tài sản, hàng hóa đang được chuyên chở trên xe được bảo hiểm

- Thiệt hại gây ra cho hai xe cùng chủ bị đâm va vào nhau

- Trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự của lái xe

- Các khoản tiền phạt mà chủ xe, lái xe phải chịu

Trong một số trường hợp kể trên, bản thân chủ xe cũng có thể phải chịu tráchnhiệm bồi thường nhưng đó không phải là trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng

Người thứ ba ở đây thực chất là phía nạn nhân trong vụ tai nạn, có thể là mộtngười hoặc nhiều người, có thể là tài sản, đường xá cầu cống, hoa màu, tưtrang, hành lí,…Tuy nhiên có một số trường hợp sau không được coi là ngườithứ ba:

- Lái xe, phụ xe, người làm công cho chủ xe trên chính chiếc xe đó

- Người trên xe và hành khách trên chính chiếc xe đó

- Chủ sở hữu xe trừ trường hợp chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếmhữu, sử dụng chiếc xe đó

- Tài sản, tư trang hành lý của những người nói trên

Chỉ khi việc lưu hành xe gây tai nạn trên lãnh thổ Việt Nam thì đối tượng mớiđược xác định Đồng thời với TNDS của chủ xe là trách nhiệm bồi thườngcủa bảo hiểm, song trách nhiệm này chỉ phát sinh khi có các điều kiện:

- Có thiệt hại thực tế của bên thứ ba

Trang 12

- Hành vi trái pháp luật của chủ xe (lái xe).

- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại thực tế

b Phạm vi bảo hiểm, loại trừ bảo hiểm

1 Phạm vi bảo hiểm

Trong nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới đối với ngườithứ ba, công ty bảo hiểm chỉ nhận bảo hiểm các rủi ro bất ngờ không lườngtrước được gây tai nạn làm phát sinh TNDS của chủ xe Bảo hiểm bắt buộcTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba có mục đích bảo hiểm chonhững rủi ro thuộc về TNDS của chủ xe cơ giới Trong các vụ tai nạn giaothông đường bộ, nhìn chung, khi trách nhiệm bồi thường của chủ xe được bảohiểm phát sinh thì trách nhiệm bồi thường của nhà bảo hiểm cũng phát sinhtheo Việc bồi thường của nhà bảo hiểm liên quan đến thiệt hại của bên thứ

ba Những thiệt hại của bên thứ ba được xem xét bồi thường là những thiệthại vật chất về người và những thiệt hại về tài sản được tính toán theo nhữngcách nhất định Tuy nhiên, tùy thuộc vào luật pháp của từng nước hoặc tùytừng thời kì nhất định mà những thiệt hại phi vật chất về người (thiệt hại tinhthần) cũng có thể được xem xét bồi thường thích đáng

Ngoài những thiệt hại được bồi thường kể trên, nhà bảo hiểm còn thanh toáncho chủ xe những chi phí mà họ đã bỏ ra để phòng ngừa và hạn chế thiệt hại

Đương nhiên, những chi phí này chỉ được bồi thường khi nó phát sinh sau khitai nạn xảy ra và được coi là những chi phí cần thiết hợp lý

Trách nhiệm bồi thường của nhà bảo hiểm được giới hạn trong phạm vi hạnmức trách nhiệm đã thỏa thuận trong hợp đồng hoặc đã ghi trong giấy chứngnhận bảo hiểm Như vậy bản thân chủ xe phải tự bảo hiểm phần trách nhiệmvượt qúa hạn mức này

Trong bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba cácthiệt hại nằm trong phạm vi bảo hiểm gồm có:

Trang 13

- Tai nạn gây thiệt hại đường xá, cầu cống, tài sản…

- Tai nạn gây thiệt hại về tính mạng, tình trạng sức khỏe của bên thứ ba

- Tai nạn gây thiệt hại làm ảnh hưởng quá trình sản xuất kinh doanh, làm nạnnhân bị mất hoặc giảm thu nhập

- Các chi phí thực hiện biện pháp đề xuất của cơ quan bảo hiểm

- Các chi phí cần thiết và hợp lý để thực hiện các biện pháp đề phòng, hạn chếtổn thất

- Những thiệt hại về tính mạng, tài sản, sức khỏe của người tham gia cứuchữa, ngăn ngừa tai nạn

- Những chi phí cần thiết cho cấp cứu và chăm sóc nạn nhân

2 Loại trừ bảo hiểm

Bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba có đốitượng bảo hiểm là phần TNDS của người được bảo hiểm đối với người thứ

ba Đây thuộc loại trách nhiệm ngoài hợp đồng, vì vậy sẽ không thuộc phạm

vi bảo hiểm những trường hợp phát sinh trách nhiệm bồi thường theo hợpđồng của chủ xe

Phạm vi của bảo hiểm là rất rộng, tuy nhiên không phải tất cả các thiệt hại dotai nạn đều được bảo hiểm Có những tai nạn mà DNBH không phải bồithường thiệt hại, mặc dù có phát sinh TNDS của chủ xe cơ giới Đó là nhữngtại nạn xảy ra do các nguyên nhân sau:

- Hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe, lái xe hoặc của người bị thiệt hại

- Lái xe gây tai nạn cố ý bỏ chạy không thực hiện trách nhiệm dân sự của chủ

xe, lái xe cơ giới

- Lái xe không có Giấy phép lái xe hợp lệ hoặc Giấy phép lái xe không phùhợp đối với loại xe cơ giới bắt buộc phải có Giấy phép lái xe

- Thiệt hại gây ra hậu quả gián tiếp như: giảm giá trị thương mại, thiệt hại gắnliền với việc sử dụng và khai thác tài sản bị thiệt hại

Trang 14

- Thiệt hại đối với tài sản bị mất cắp hoặc bị cướp trong tai nạn.

1.2.2 Số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm

a Số tiền bảo hiểm

Số tiền bảo hiểm là khoản tiền được xác định trong hợp đồng bảo hiểm thểhiện giới hạn trách nhiệm của DNBH Trong bất cứ trường hợp nào thì số tiềnbồi thường chi trả cao nhất của DNBH cũng chỉ bằng số tiền bảo hiểm

Loại hình bảo hiểm này có tính đặc trưng là đối tượng của nó rất trừu tượng,không thể xác định rõ được mức độ thiệt hại của người thứ ba Vì vậy, trongbảo hiểm TNDS, một hợp đồng thường xác định số tiền bảo hiểm dựa trênthỏa thuận Bộ tài chính quy định hạn mức trách nhiệm tối thiểu bắt buộc chochủ xe

Bảng 3: Mức Bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba và

hành khách trên xe

Xe mô tô hai-ba bánh, xích lô máy,

xe lam, xe lô Xe ô tô

Về người: 50 triệu đồng/người/vụ Về người: 50triệu đồng/người/vụ

Về tài sản: 30 triệu đồng/vụ Về tài sản: 50 triệu đồng/vụ

(Nguồn: Ban hành kèm theo Thông tư số 126 /2008/TT-BTC ngày 22/12/2008

của Bộ Tài chính)

Trang 15

Trên cơ sở đó, DNBH và chủ xe có thể thỏa thuận để đưa ra hạn mức tráchnhiệm cao hơn, gọi là mức trách nhiệm tự nguyện.

b Phí bảo hiểm

Mỗi chủ xe tham gia bảo hiểm phải đóng cho DNBH một số tiền nhất địnhgọi là phí bảo hiểm Phí bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới đối vớingười thứ ba được thu theo mỗi đầu phương tiện hoạt động Các phương tiệnkhác nhau về chủng loại, độ lớn nên có xác suất gây tai nạn và để lại hậu quả

ở các mức độ khác nhau Do đó phí bảo hiểm cũng tính riêng cho từng loạiphương tiện Mức phí bảo hiểm phải đảm bảo được nguyên tắc số đông bù số

ít và đảm bảo được cân đối thu chi trong hoạt động kinh doanh của cácDNBH Mức phí bảo hiểm của từng loại xe cơ giới được quy định tại Phụ lục

5 về biểu phí bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới ban hành kèm theo Thông tư

số 126 /2008/TT-BTC ngày 22/12/2008 của Bộ Tài chính

Đối với các xe cơ giới được phép mua bảo hiểm có thời hạn dưới 01 năm,mức phí bảo hiểm sẽ được tính dựa trên mức phí bảo hiểm quy định tại Phụlục 5 Thông tư 126/2008/TT-BTC và tương ứng với thời hạn được bảo hiểmghi trên Giấy chứng nhận bảo hiểm Cách tính cụ thể như sau:

Phí bảo hiểm năm theo loại

xe cơ giớiPhí bảo hiểm phải nộp = - x Thời hạn được bảo hiểm

365 ( ngày) (ngày)Trường hợp thời hạn bảo hiểm dưới 30 ngày thì mức phí tính như sau:

Phí bảo hiểm năm theo loại

xe cơ giớiPhí bảo hiểm phải nộp = -

12 tháng

Trang 16

Trong trường hợp chuyển quyền sở hữu xe và có chuyển quyền bảo hiểm thìmọi quyền lợi bảo hiểm liên quan đến TNDS của chủ xe cơ giới cũ vẫn cònhiệu lực đối với chủ xe cơ giới mới.

Nội dung chủ yếu của một hợp đồng bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới đốivới người thứ ba bao gồm: Đối tượng bảo hiểm, phí bảo hiểm, thời hạn bảohiểm, rủi ro được bảo hiểm, rủi ro loại trừ, hạn mức trách nhiệm, thời hạn,phương thức trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường

1.2.4 Xác định thiệt hại và giải quyết bồi thường

a Giám định tổn thất

Sau khi nhận được hồ sơ khiếu nại bồi thường, DNBH sẽ tiến hành công tácgiám định Công tác giám định tổn thất nhằm xác định mức độ thiệt hại củabên thứ ba và mức độ lỗi của chủ xe cơ giới đồng thời xác định nguyên nhânxảy ra tai nạn và xem xét nguyên nhân đó có thuộc phạm vi bảo hiểm haykhông

Trang 17

Mọi tổn thất về tài sản thuộc trách nhiệm bảo hiểm sẽ do DNBH tiến hànhgiám định (trừ khi có thoả thuận khác) với sự chứng kiến của chủ xe cơ giới,người thứ ba hoặc người đại diện hợp pháp của các bên có liên quan để xácđịnh nguyên nhân và mức độ thiệt hại do tai nạn gây ra.

Trường hợp chủ xe cơ giới hoặc người thứ ba không thống nhất về nguyênnhân và mức độ thiệt hại do DNBH xác định, hai bên sẽ thoả thuận chọn giámđịnh viên kỹ thuật chuyên nghiệp thực hiện việc giám định Kết luận của giámđịnh viên kỹ thuật chuyên nghiệp là kết luận cuối cùng

Trường hợp kết luận của giám định viên kỹ thuật chuyên nghiệp có sự saikhác lớn với kết luận của giám định viên bảo hiểm thì DNBH phải chịu chiphí giám định, ngược lại thì chủ xe cơ giới hoặc người thứ ba phải chịu

Trong trường hợp đặc biệt, nếu DNBH không thể thực hiện được việc lậpbiên bản giám định thì có thể căn cứ vào các biên bản, kết luận của các cơquan chức năng có thẩm quyền và các hiện vật thu được (ảnh chụp, lời khaicủa các bên có liên quan) để xác định nguyên nhân và mức độ thiệt hại

b Xác định trách nhiệm bồi thường

Bất cứ một vụ tai nạn giao thông nào phát sinh bồi thường mức TNDS thuộcphạm vi bảo hiểm đều được cơ quan bảo hiểm bồi thường Số tiền bồi thườngnày căn cứ vào:

- Thiệt hại thực tế của bên thứ ba

- Mức độ lỗi của bên thứ ba

- Mức trách nhiệm của chủ xe tham gia bảo hiểm đóng phí

Thiệt hại thực tế của bên thứ ba=Thiệt hại về tài sản+Thiệt hại về con người

Trách nhiệm bồi thường của bảo hiểm

- Khi tai nạn xảy ra, trong phạm vi mức trách nhiệm bảo hiểm, doanh nghiệpbảo hiểm phải bồi thường cho chủ xe cơ giới số tiền mà chủ xe cơ giới đã bồithường hoặc sẽ phải bồi thường cho người bị thiệt hại

Trang 18

- Trường hợp chủ xe cơ giới chết hoặc bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn, doanhnghiệp bảo hiểm bồi thường trực tiếp cho người bị thiệt hại.

- Trường hợp cần thiết, doanh nghiệp bảo hiểm phải tạm ứng ngay những chiphí cần thiết và hợp lý trong phạm vi trách nhiệm bảo hiểm nhằm khắc phụchậu quả tai nạn

- Mức bồi thường bảo hiểm:

+ Mức bồi thường cụ thể cho từng loại thương tật, thiệt hại về người được xácđịnh theo Bảng quy định trả tiền bồi thường thiệt hại về người theo quy địnhtại Phụ lục 6 ban hành kèm theo Thông tư 126 /2008/TT-BTC Trường hợp cóquyết định của toà án thì căn cứ vào quyết định của toà án nhưng không vượtquá mức trách nhiệm bảo hiểm Trường hợp nhiều xe cơ giới gây tai nạn dẫnđến các thiệt hại về người, mức bồi thường được xác định theo mức độ lỗi củachủ xe cơ giới nhưng tổng mức bồi thường không vượt quá mức trách nhiệmbảo hiểm

+ Mức bồi thường cụ thể đối với thiệt hại về tài sản/1 vụ tai nạn được xácđịnh theo thiệt hại thực tế và theo mức độ lỗi của chủ xe cơ giới nhưng khôngvượt quá mức trách nhiệm bảo hiểm

- Doanh nghiệp bảo hiểm không có trách nhiệm bồi thường phần vượt quámức trách nhiệm bảo hiểm theo quy định tại mục 4 Phần II và Phụ lục 6 banhành kèm theo Thông tư126 /2008/TT-BTC

- Trường hợp chủ xe cơ giới đồng thời tham gia nhiều hợp đồng bảo hiểm bắtbuộc trách nhiệm dân sự cho cùng một xe cơ giới thì số tiền bồi thường chỉđược tính theo hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực bảo hiểm trước

Số tiền bồi thường của bảo hiểm được tính theo công thức:

STBT = lỗi của chủ xe × thiệt hại của bên thứ ba

Trong trường hợp có cả lỗi của người khác gây thiệt hại cho bên thứ ba thì:

STBT = (Lỗi của chủ xe + lỗi khác) × Thiệt hại của bên thứ ba

Trang 19

Sau đó nhà bảo hiểm được quyền đòi lại số tiền thiệt hại do người đó gây ra.

c.Thời hạn yêu cầu, thanh toán và khiếu nại bồi thường

Thời hạn yêu cầu bồi thường của chủ xe cơ giới là một năm kể từ ngày xảy ratai nạn, trừ trường hợp chậm trễ do nguyên nhân khách quan và bất khả khángtheo quy định của pháp luật

Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày xảy ra tai nạn (trừ trường hợp bất khảkháng), chủ xe cơ giới phải gửi thông báo bằng văn bản theo mẫu quy định tạiPhụ lục 4 kèm theo các tài liệu quy định trong hồ sơ yêu cầu bồi thường thuộctrách nhiệm của chủ xe cơ giới ban hành kèm theo Thông tư số 126 /2008/TT-BTC ngày 22/12/2008 của Bộ Tài chính cho DNBH

Thời hạn thanh toán bồi thường của DNBH là 15 ngày kể từ khi nhận được hồ

sơ bồi thường thuộc trách nhiệm của chủ xe cơ giới và không quá 30 ngàytrong trường hợp phải tiến hành xác minh hồ sơ

Trường hợp từ chối bồi thường, DNBH phải thông báo bằng văn bản cho chủ

xe cơ giới biết lý do từ chối bồi thường trong thời hạn 30 ngày kể từ ngàynhận được hồ sơ yêu cầu bồi thường bảo hiểm

Thời hiệu khởi kiện về việc bồi thường bảo hiểm là ba năm kể từ ngày DNBHthanh toán bồi thường hoặc từ chối bồi thường Quá thời hạn trên mọi khiếunại không còn giá trị

d Giải quyết tranh chấp

Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm, nếu không giải quyết đượcbằng thương lượng giữa các bên liên quan sẽ được đưa ra Tòa án tại ViệtNam giải quyết

1.3 VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM BẮT BUỘC TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ

XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA

Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới nói chung và bảo hiểm bắt buộc TNDScủa chủ xe cơ giới đối với người thứ ba nói riêng là biện pháp kinh tế huy

Trang 20

động sự đóng góp của các chủ xe, hình thành nên một quỹ tài chính tập trung

sử dụng để bồi thường khi xảy ra tai nạn trong phạm vi bảo hiểm

Mọi tài sản, con người đều có thể gặp rủi ro trong cuộc sống thường ngày, đặcbiệt là xe cơ giới Mọi người mỗi ngày đều phải tham gia giao thông và phải

sử dụng phương tiện xe cơ giới, do đó khả năng xảy ra rủi ro là rất cao Tainạn do xe cơ giới gây ra có ảnh hưởng trực tiếp đến chủ xe và các đối tượngkhác Khi xảy ra tai nạn, việc giải quyết hậu quả của nó luôn là vấn đề phứctạp nhất, thường phát sinh những tranh chấp kéo dài Do đó sẽ làm ảnh hưởngđến quá trình sản xuất, gây ra nhiều cản trở cho cuộc sống thường ngày Mộtvấn đề đặt ra là phải làm thế nào để hạn chế rủi ro và khi rủi ro đã xảy ra thìlàm thế nào để khắc phục nó một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất Có sự thamgia của bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới thì vấn đề được giảiquyết một cách rõ ràng, nhanh chóng Chủ xe chỉ phải đóng một khoản tiềnnhỏ so với giá trị tài sản và chi phí khi tự mình khắc phục hậu quả khi rủi roxảy ra

Như vậy, bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba

có tác dụng rất lớn đối với chủ xe, người thứ ba và cả xã hội

a Đối với chủ xe

- Có tác dụng thiết thực giúp chủ xe trong việc bồi thường cho người thứ bakhi tổn thất xảy ra, bồi thường chủ động kịp thời cho các chủ xe khi phát sinhTNDS, từ đó giúp chủ xe phục hồi lại tinh thần và ổn định sản xuất, phát huyquyền chủ động về tài chính, tránh thiệt hại kinh tế bất ngờ cho các chủ xe

- Tạo tâm lý thoải mái, yên tâm cho chủ xe, điều nay sẽ làm giảm khả năngxảy ra tai nạn cho chủ xe khi tham gia giao thông

- Giúp chủ xe nâng cao ý thức trong việc đề ra các biện pháp hạn chế, ngănngừa, đề phòng tổn thất bằng cách tham gia bảo hiểm

Trang 21

- Góp phần xoa dịu, giảm bớt căng thẳng giữa chủ xe và người bị nạn (đặcbiệt là trong trường hợp người thứ ba bị chết) Đây là mục đích cao cả củanghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba.

b Đối với người thứ ba

- Đảm bảo quyền lợi được bồi thường khi xảy ra thiệt hại sau tai nạn trongmọi trường hợp Bởi vì trong nhiều vụ tai nạn chủ xe, lái xe bị chết hoặc chủ

xe không đủ khả năng tài chính để bồi thường Nhà bảo hiểm sẽ bồi thườngnhững thiệt hại cho nạn nhân một cách nhanh chóng kịp thời, không phụthuộc vào tình trạng tài chính của chủ xe

- Giúp người thứ ba nhanh chóng ổn định tài chính và tinh thần

c Đối với xã hội

- Từ công tác giám định và bồi thường sau mỗi vụ tai nạn, công ty bảo hiểm

sẽ thống kê được các rủi ro và nguyên nhân gây ra các rủi ro để từ đó đưa racác biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất một cách hiệu qủa nhất, giảm bớtđáng kể những hậu quả do tai nạn giao thông gây ra cho mỗi người, giảm bớtthiệt hại cho toàn xã hội

- Các công ty bảo hiểm mỗi năm đều họp để đưa ra các biện pháp đề phòngtổn thất từ những tai nạn thực tế đã xảy ra, thêm vào đó các công ty bảo hiểmcòn phối hợp, hỗ trợ với cơ quan có chức năng tu sửa hệ thống giao thông vậntải, do đó an toàn giao thông ở nước ta ngày được nâng cao

- Có nhiều trường hợp chủ xe cơ giới gây ra tai nạn nhưng không có đủ khảnăng tài chính để bồi thường cho người thứ ba Khi đó gia đình, bạn bè, các tổchức xã hội lại phải cùng hỗ trợ Vì vậy, tham gia bảo hiểm bắt buộc TNDSgóp phần làm giảm gánh nặng cho xã hội

- Bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba còn làmgiảm ghánh nặng cho ngân sách Nhà nước, đồng thời tăng thu cho ngân sách

Việc đóng phí sẽ là nguồn chủ yếu để chi trả bồi thường cho người thứ ba

Trang 22

Chương 2 THỰC TẾ TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM BẮT BUỘC TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX

(GIAI ĐOẠN 2008-2010) 2.1 VÀI NÉT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX 2.1.1 Qúa trình hình thành và phát triển của công ty

Công ty cổ phần bảo hiểm petrolimex gọi tắt là PJICO (Petrolimex JointStock) đã ra đời và tham gia vào thị trường bảo hiểm dưới hình thức một công

ty cổ phần với tổng số vốn góp ban đầu là 55 tỷ đồng gồm 7 cổ đông sáng lập

và một cổ đông góp vốn Giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn và điều kiện KDBHcấp ngày 27/05/1995, giấy phép thành lập cấp ngày 08/06/1995 do ủy bannhân dân thành phố Hà Nội cấp Công ty chính thức đi vào hoạt động ngày15/06/1995 với thời gian hoạt động là 25 năm kể từ ngày cấp giấy phép, hếtthời hạn được phép xin gia hạn Công ty cổ phần bảo hiểm petrolimex(PJICO) đã trở thành hình mẫu trong việc thực hiện chủ trương cổ phần hóacác doanh nghiệp Nhà nước, là công ty bảo hiểm cổ phần đầu tiên được thànhlập tại Việt Nam với 7 cổ đông sáng lập và mức vốn góp ban đầu :

STT Đơn vị

Tỷtrọng(%)

Vốn góp(triệuđồng)

Số cổphiếu

1 Tổng công ty xăng dầu Việt Nam 51 28.050 14.025

2 Ngân hàng ngoại thương Việt Nam 10 5.500 2.700

3 Công ty tái bảo hiểm quốc gia 8 4.400 2.200

4 Tổng công ty thép Việt Nam 6 3.300 1.600

Trang 23

5 Công ty vật tư và thiết bị toàn bộ 3 1.650 852

6 Công ty điện tử Hà Nội 2 1.100 550

7 Công ty TNHH thiết bị an toàn 0,5 275 138

4 trên thị trường bảo hiểm Viêt Nam về lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ Mặc

dù là công ty cổ phần đầu tiên hoạt động kinh doanh trong lĩnh bảo hiểm phinhân thọ, PJICO đã trải qua không ít những khó khăn của những ngày đầuhoạt động, đặc biệt khi các điều kiện về cơ chế pháp luật còn chưa đầy đủ,khách hàng còn chưa đăt trọn niềm tin, nhưng với sự chỉ đạo của hội đồngquản trị công ty và các ban nghành liên quan, với một chính sách về phí bảohiểm, sự phục vụ hiệu quả, tận tình chu đáo, cùng với sự ủng hộ hợp tác giúp

đỡ nhiệt tình của các cổ đông sáng lập, khách hàng, và đặc biệt là sự nỗ lựcphấn đấu của toàn thể cán bộ công nhân viên, công ty đã từng bước phát triển,tạo dựng được niềm tin và chỗ đứng trên thị trường bảo hiểm Việt Nam

2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex

Ngay từ khi mới bắt đầu thành lập, công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex(PJICO) đã nhanh chóng triển khai bộ máy tổ chức, mạng lưới kinh doanhbảo hiểm tại khu vực Hà Nội và trên phạm vi cả nước Với cơ cấu tổ chức bộmáy chặt chẽ, gọn nhẹ, linh hoạt và làm việc có hiệu quả cao Trong quá trìnhhoạt động kinh doanh bảo hiểm, PJICO ngày càng mở rộng mạng lưới và thịphần

Trang 24

Cơ cấu tổ chức công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex

Trang 25

2.1.3 Các nghiệp vụ bảo hiểm PJICO triển khai

Hiện nay, PJICO đã triển khai hơn 80 sản phẩm bảo hiểm và chiếm lĩnh thịtrường trong nhiều lĩnh vực như: giao thông vận tải, xây dựng và lắp đặt côngtrình, xăng dầu, hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm conngười và bảo hiểm tàu thủy

Các nghiệp vụ bảo hiểm chính bao gồm:

1 Bảo hiểm xe cơ giới

- Bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới (bao gồm bảo hiểm TNDS củachủ xe cơ giới đối với người thứ ba và đối với hành khách ngồi trên xe)

- Bảo hiểm TNDS tự nguyện của chủ xe cơ giới (bao gồm bảo hiểm TNDScủa chủ xe cơ giới đối với người thứ ba và đối với hành khách ngồi trên xe)

- Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với hàng hóa trên xe

- Bảo hiểm tai nạn người ngồi trên xe và lái, phụ xe

2 Bảo hiểm con người

3 Bảo hiểm hàng hóa: Bảo hiểm hàng xuất, bảo hiểm hàng nhập, bảo hiểmhàng vận chuyển trong nước

4 Bảo hiểm tàu thủy: Bảo hiểm thân vỏ tàu, Bảo hiểm TNDS chủ tàu

5 Bảo hiểm tài sản và trách nhiệm: Bảo hiểm mọi rủi ro tài sản, Hỏa hoạn vàcác rủi ro đặc biệt, Gián đoạn kinh doanh, Trách nhiệm công cộng, tráchnhiệm sản phẩm, Trách nhiệm nghề nghiệp

6 Bảo hiểm kĩ thuật: Bảo hiểm kĩ thuật, Bảo hiểm xây dựng

Trang 26

- Hợp tác trong lĩnh vực đầu tư, tín dụng, liên doanh liên kết với các bạn hàngtrong và ngoài nước.

2.1.4 Một số kết quả PJICO đạt được

Ngay sau khi ra đời, PJICO đã nhanh chóng triển khai kinh doanh các sảnphẩm bảo hiểm trên diện rộng và phát triển chiều sâu Các sản phẩm bảo hiểmngày càng tăng lên và đa dạng hóa theo từng nghiệp vụ, tới nay công ty đãkinh doanh trên 80 sản phẩm bảo hiểm trải đều tất cả các nghiệp vụ Ra đờinăm 1995, đến nay đã trải qua 15 năm hoạt động - khoảng thời gian khôngquá dài nhưng cũng đủ để PJICO khẳng định vị thế trên thị trường là một

“thương hiệu được khẳng định”

Năm 2009, PJICO đứng hàng thứ 4 trên thị trường Việt Nam về bảo hiểm phinhân thọ với 11,7% thị phần, đạt được doanh thu 1.605 tỷ đồng, lợi nhuậntrước thuế là 57,6 tỷ đồng với trên 4.500 đại lý và 51 chi nhánh Tiếp nốithành tựu đạt được, năm 2010, PJICO hoàn thành mục tiêu tổng doanh thu là1.814 tỷ đồng trong đó phí bảo hiểm gốc là 1.485 tỷ đồng và lợi nhuận trướcthuế là 87 tỷ đồng PJICO đã trở thành một trong 4 công ty bảo hiểm lớn nhấtViệt Nam và cũng là một trong những công ty bảo hiểm hoạt động có hiệuquả nhất trên thị trường Thương hiệu PJICO luôn được xếp vào nhóm cáccông ty có thương hiệu mạnh trên toàn quốc Uy tín và thương hiệu PJICOngày càng được nâng cao

Trong giai đoạn 2008-2010 công ty PJICO đã đạt được những thành tựu đáng

kể xét trên tất cả mọi mặt Tổng kết hoạt động kinh doanh đến cuối năm 2010,tổng doanh thu là 1.928 tỷ đồng đạt 106% kế hoạch tăng trưởng 22% so vớinăm 2009 Trong đó, doanh thu phí bảo hiểm gốc 1.570 tỷ đồng đạt 106% kếhoạch tăng trưởng 21% so với năm 2009 Tỷ lệ bồi thường 42% Lợi nhuậntrước thuế 83 tỷ đồng tăng trưởng 44% so với năm 2009 Cơ cấu doanh thucác nhóm nghiệp vụ bảo hiểm gốc năm 2010 nhìn chung không có sự thay đổi

Trang 27

lớn so với năm 2009 Trong đó bảo hiểm xe cơ giới có tỷ trọng lớn nhất(50%) tiếp theo là bảo hiểm tài sản kỹ thuật (19%), tàu thủy (12%), hàng hóa(11%) và con người (8%).

Bảng 5: Kết quả hoạt động kinh doanh của PJICO từ năm 2008-2010

Đơn vị: Triệu đồng

Doanh thu thuần hoạt động KDBH 861.649 1.033.057 1.570.000Chi bồi thường, trả tiền BH 396.429 517.537 659.400Lợi nhuận gộp hoạt động KDBH 285.177 355.536 486.800Tổng lợi nhuận kế toán 55.000 57.619 83.971Thuế thu nhập doanh nghiệp 12.411 12.526 18.255Lợi nhuận sau thuế 42.590 45.091 65.716

(Nguồn: Báo cáo tổng hợp của Công ty PJICO)

Dễ dàng nhận thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ của PJICO trong thời gian quavới sự tăng lên liên tiếp các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động kinh doanhcủa công ty Ta thấy trong 3 năm từ 2008 đến 2010, tổng doanh thu nghiệp vụ

và bồi thường bảo hiểm đều không ngừng tăng lên, lợi nhuận trước thuế tăngmạnh Doanh thu thuần hoạt động KDBH gốc năm 2010 đạt 1.570 tỷ đổng, tăngxấp xỉ 83% so với năm 2008, bồi thường tăng trên 62% Kết thúc kế hoạch 3 năm

2008 – 2010 với lợi nhuận sau thuế tăng lên gấp 1,5 lần thời điểm ban đầu

Công tác đầu tư tài chính, tái bảo hiểm cũng đạt được kết quả khá tốt Năm

2010, doanh thu hoạt động đầu tư tài chính đạt 91,3 tỷ đồng đạt 105% kếhoạch, lợi nhuận hoạt động đầu tư đạt 79 tỷ đồng Về hoạt động tái bảo hiểm,năm 2010 doanh thu nhận tái bảo hiểm đạt 80 tỷ đồng tăng trưởng 13% so vớinăm 2009, nhượng tái bảo hiểm 381 tỷ đồng PJICO đã thực hiện tái tục thànhcông chương trình tái bảo hiểm năm 2010 cho 4 nhóm nghiệp vụ chính: hànghải, hỏa hoạn, kỹ thuật và hỗn hợp Thu xếp mới thành công chương trình tái

Trang 28

bảo hiểm vượt mức bồi thường năm 2010 cho nghiệp vụ xe cơ giới Củng cố,phát triển quan hệ chặt chẽ và lâu dài với các công ty bảo hiểm lớn trên thếgiới như CCR, Munich Re, Korean Re, ACR, Best Re, Malaysian Re…

2.2 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA PJICO TRONG QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM BẮT BUỘC TNDS CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA

Công ty bảo hiểm PJICO là một công ty được thành lập trong hoàn cảnh nềnkinh tế nước ta có những chuyển biến mạnh mẽ, phức tạp Trong giai đoạn thịtrường bảo hiểm của Việt Nam đang hình thành và phát triển tạo ra nhiều cơhội cũng như thách thức cho các công ty trong quá trình hoạt động Bảo hiểmbắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba được PJICO triểnkhai ngay từ khi thành lập, đồng hành cùng quá trình phát triển của công tyvới nhiều thuận lợi cũng như khó khăn

2.2.1 Thuận lợi

PJICO ra đời khi thị trường bảo hiểm đã có những bước phát triển nhất định,

ra đời sau nên đã nhanh chóng thích ứng với công nghệ và thông tin cập nhật,tiếp cận thị trường nhanh Đội ngũ cán bộ trẻ, năng động, nhiệt huyết có trình

độ chuyên môn nghiệp vụ giúp công ty đi tắt đón đầu nhiều cơ hội mới trongquá trình phát triển

Là một nước đang phát triển, thu nhập đầu người của Việt Nam đang tăngnhanh và số lượng xe cơ giới tham gia lưu thông ngày càng lớn Đó là thếmạnh cho hoạt động nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới nói chung và bảo hiểmTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba nói riêng ngày càng có tiềmnăng phát triển

Trải qua 15 năm thành lập và phát triển, PJICO đã có một vị thế vững chắctrên thị trường, là một thương hiệu mạnh trong nghành bảo hiểm Việt Nam

Trang 29

Tiếp nối những thành quả đã đạt được mở ra cho công ty rất nhiều cơ hội pháttriển Các cơ chế chính sách, luật pháp về KDBH ngày càng được đồng bộ,các hành lang pháp lý ngày càng đầy đủ hơn tạo điều kiện thuận lợi cho kinhdoanh bảo hiểm phát triển một cách lành mạnh và hiệu quả Nghị định103/2008/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc TNDS chủ xe cơ giới, cùng vớiThông tư hướng dẫn thực hiện số 126/2008/TT-BTC do Bộ Tài chính banhành ngày 22/12/2008 đã mở ra cho thị trường bảo hiểm Việt Nam nói chung

và PJICO nói riêng một thị phần lớn trong nghiệp vụ bảo hiểm TNDS của chủ

xe cơ giới đối với người thứ ba

2.2.2 Khó khăn

Khi mới thành lập năm 1995, PJICO là công ty bảo hiểm đầu tiên được thànhlập dưới hình thức công ty bảo hiểm cổ phần trong điều kiện các cơ chế chínhsách đối với công ty cổ phần còn chưa đầy đủ nên hoạt động của công ty gặpnhiều vướng mắc khó khăn Là công ty cổ phần thành lập mới theo luật công

ty, PJICO chịu nhiều thiệt thòi so với các doanh nghiệp Nhà nước khác, công

ty không được hưởng bất kì ưu đãi nào của Nhà Nước (vốn, thuế) Trong khi

đó, nhận thức và thái độ của các cơ quan chức năng và công chúng đối vớicông ty cổ phần còn có nhiều phân biệt đối xử Mới thành lập nên bộ máy tổchức cán bộ của PJICO còn chưa đầy đủ và ổn định Số lượng cán bộ công táctại các phòng ban còn thiếu kinh nghiệm, đặc biệt là trong khâu khai thác vàgiám định Trước đó, hoạt động KDBH chủ yếu là do Bảo Việt tiến hành, BảoViệt là một công ty lớn được sự ưu đãi đặc biệt của Nhà nước với đội ngũ cán

bộ có trình độ và kinh nghiệm lâu năm trong nghề, có nhiều khách hàng quenthuộc tạo điều kiện thuận lợi trong khâu khai thác PJICO tham gia thị trườnggặp rất nhiều khó khăn trong việc tuyên truyền quảng bá các sản phẩm bảohiểm của mình

Trang 30

Đặc trưng của sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm dịch vụ vô hình, lợi ích củasản phẩm chưa nhìn thấy được ngay lúc tham gia bảo hiểm, để đánh giá đượcphải trải qua thời gian dài, do đó gây nhiều khó khăn trong công tác khai thác.

Bên cạnh đó là nhận thức của người dân về bảo hiềm còn chưa đầy đủ, họchưa thực sự gửi trọn niềm tin cho các DNBH Các chế tài xử lý chủ xe thamgia giao thông mà không có bảo hiểm bắt buộc TNDS đối với người thứ bavẫn chưa đủ sức răn đe, vì vậy các chủ xe vẫn coi thường pháp luật, coithường việc tham gia bảo hiểm

Hiện tại, trải qua thời gian hoạt động không ngừng nghỉ, PJICO đã đứng vữngtrên thị trường bảo hiểm Việt Nam Tuy vậy công ty cẫn phải đối mặt với rấtnhiều khó khăn và thách thức trong thời kì hội nhập Là thành viên của tổchức thương mại thế giới WTO, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã bắt đầu mởcửa cho các công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài, nhiều công ty bảo hiểmlớn trên thế giới đã có mặt ở thị trường Việt Nam Việc mở cửa thị trường vừatạo ra cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của ngành bảo hiểm ViệtNam nói chung và bản thân các công ty bảo hiểm trong nước nói riêng, trong

đó có PJICO Các công ty trong nước bị chia sẻ thị phần và cạnh tranh ngàycàng khốc liệt hơn

Mức phí bảo hiểm tại Việt Nam vẫn còn khá cao do đó các DNBH Việt Namphải cạnh tranh khá vất vả khi gặp những tập đoàn bảo hiểm tầm cỡ vớichương trình bảo hiểm toàn cầu có mức phí rất thấp Các công ty bảo hiểmphi nhân thọ trong nước đứng trước sức ép cạnh tranh lớn trong khi năng lực

về công nghệ, vốn còn yếu và nhỏ bé Cạnh tranh về nhân lực giữa các công

ty bảo hiểm sẽ diễn ra sôi động, khi các công ty bảo hiểm nước ngoài mớitham gia thị trường sẽ tìm mọi cách lôi kéo các nhân lực có kiến thức và kinhnghiệm của các DNBH trong nước Sức ép cạnh tranh và yêu cầu trình độquản trị của các doanh nghiệp trong nước ngày càng cao hơn

Trang 31

2.3 THỰC TẾ TRIỂN KHAI NGHIÊP VỤ BẢO HIỂM BẮT BUỘC TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA TẠI CÔNG

TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX (TỪ NĂM 2008-2010) 2.4.1 Hoạt động khai thác

Khai thác là khâu đầu tiên khi triển khai một nghiệp vụ bảo hiểm Đây là khâuquyết định đến sự thành bại của hoạt động KDBH nói chung và nghiệp vụ bảohiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba nói riêng

Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba không chỉ đơn thuần

là một nghiệp vụ bảo hiểm mà còn là một chính sách của Nhà nước bắt buộcmọi người phải thực hiện Đối tượng bảo hiểm của nghiệp vụ này mang tínhtrừu tượng, không xác định được một cách cụ thể nên đa số chủ phương tiệnchưa nhận thức được rõ ràng về loại hình bảo hiểm này Do vậy, hoạt độngkhai thác bảo hiểm thực chất chính là vận động cho người dân, các chủ xe cơgiới nhận thức được ý nghĩa và sự cần thiết bắt buộc của bảo hiểm cũng nhưtrách nhiệm của mình khi vận hành xe gây thiệt hại cho người khác

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác khai thác, PJICO đã đề ra hướng

đi đúng đắn với chữ tín làm trọng coi lợi ích khách hàng là trên hết, khôngngừng nâng cao trình độ chuyên môn và chất lượng phục vụ khách hàng

Ngay từ khi thành lập, công ty đã không ngừng mở rộng địa bàn khai thác, đặtnhiều văn phòng đại diện tại các tỉnh, thành phố lớn và hàng trăm các tổng đại

lý lớn trên phạm vi cả nước nhằm tạo điều kiện tốt nhất, thuận lợi nhất chokhách hàng tiếp cận sản phẩm của công ty và thực hiện khai thác hiệu quả

PJICO cũng thực hiện phối hợp với các cơ quan hành chính như Bộ TàiChính, Bộ giao thông vận tải, Bộ công an, Cảnh sát giao thông…cùng tiếnhành triển khai nghiêp vụ

Thực hiện tốt khâu khai thác chính là việc thực hiện tốt công tác tìm kiếmkhách hàng mới, giữ chân khách hàng cũ, thu hút khách hàng tiềm năng về

Ngày đăng: 11/10/2022, 10:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Tình hình tai nạn giao thông đường bộ ở Việt Nam - (Luận văn học viện tài chính) bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty cổ phần bảo hiểm petrolimex
Bảng 2 Tình hình tai nạn giao thông đường bộ ở Việt Nam (Trang 4)
Bảng 4 : vốn góp của các cổ đông  năm 1995 - (Luận văn học viện tài chính) bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty cổ phần bảo hiểm petrolimex
Bảng 4 vốn góp của các cổ đông năm 1995 (Trang 22)
Bảng 7: Tỷ trọng doanh thu phí của nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại PJICO (từ năm 2008-2010) - (Luận văn học viện tài chính) bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty cổ phần bảo hiểm petrolimex
Bảng 7 Tỷ trọng doanh thu phí của nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại PJICO (từ năm 2008-2010) (Trang 34)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w