Kết luận: Tổn thương TMH là một biến chứng thường gặp ở BN ngộ độc cấp được đặt NKQ 82,1%, mặc dù thời gian đặt NKQ ngắn.. Tổn thương TMH có liên quan chặt chẽ với thời gian đặt ống NKQ
Trang 1Biến chứng của đặt nội khí quản ở bệnh nhân
ngộ độc cấp
Bế Hồng Thu
Khoa Chống độc - Bệnh viện Bạch Mai
FFI tại Pháp
112 bệnh nhân ngộ độc cấp phải đặt NKQ từ 12/2000-8/2001 được đánh giá các biến chứng của nội khí quản (NKQ), trong đó 67 bệnh nhân (BN) được soi thanh quản trong vòng 24 giờ sau khi rút NKQ Lí
do đặt NKQ là hôn mê (93%), rối loạn huyết động (38%), suy hô hấp (31%) Thời gian đặt NKQ trung bình (TB) = 64±112 giờ, thời gian nằm viện TB=4±10 ngày Nguyên nhân ngộ độc chủ yếu là benzodiazepin, rượu, thuốc an thần kinh 67% ngộ độc nhiều loại thuốc Sau khi rút NKQ, 4 BN phải đặt lại ống NKQ, 7 BN có khó thở, 51 BN nuốt khó, 73 BN nói khó Trong số 67 BN được soi thanh quản, chỉ
có 12 BN (18%) có kết quả khám TMH bình thường; 47 (82%) BN có tổn thương thanh môn, chủ yếu là phù nề, loét, u hạt; 17 BN (24%) có tổn thương dưới thanh môn; 9 BN (13%) có tổn thương nắp thanh môn Có sự khác nhau có ý nghĩa giữa thời gian đặt NKQ, thời gian nằm viện giữa 2 nhóm có tổn thương tai mũi hang (TMH) và không tổn thương TMH Riêng nuốt khó có giá trị tiên lượng xuất hiện các tổn thương TMH Kết luận: Tổn thương TMH là một biến chứng thường gặp ở BN ngộ độc cấp được đặt NKQ (82,1%), mặc dù thời gian đặt NKQ ngắn Tổn thương TMH có liên quan chặt chẽ với thời gian đặt ống NKQ và thời gian nằm viện (P=0,01), nhưng không thấy liên quan với nguyên nhân ngộ độc
I Đặt vấn đề
Ngộ độc cấp (NĐC) là một trong những
nguyên nhân chính làm bệnh nhân (BN) phải
vào viện tại các khoa Hồi sức cấp cứu (HSCC) -
chống độc và tỉ lệ NĐC ngày một gia tăng
Điều trị bệnh nhân NĐC bao gồm: điều trị
triệu chứng, điều trị đặc hiệu, các biện pháp hạn
chế hấp thu và tăng cường thải trừ Trên thực tế
có rất ít thuốc giải độc đặc hiệu Do vậy điều trị
ngộ độc chủ yếu là điều trị triệu chứng Đặt nội
khí quản (NKQ) là một trong các biện pháp
điều trị hàng đầu đối với những BN ngộ độc bị
suy hô hấp (SHH), hôn mê, rối loạn huyết động
Tỉ lệ tử vong của những BN ngộ độc các
thuốc điều trị tâm thần đặc biệt là thuốc ức chế
trầm cảm loại 3 vòng giảm từ 30% xuống còn
2% nhờ đặt NKQ, thở máy Vai trò của đặt
NKQ, thở máy trong ngộ độc nặng các thuốc
tim mạch có rối loạn huyết động ở những BN
còn tỉnh cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu
và nhất là ngộ độc các thuốc và các hoá chất
gây SHH Cơ chế gây SHH trong ngộ độc bao
gồm nhiều yếu tố: ức chế thần kinh trung ương,
ứ đọng đờm dãi, phù phổi cấp tổn thương, phù phổi cấp do tim và viêm phổi do sặc
Đặt NKQ đã cứu sống nhiều BN nhưng đặt NKQ cũng gây ra nhiều biến chứng (BC) Có thể gây ra các BC ngay lập tức như co thắt phế quản, chảy máu ; các BC sớm và các BC xa Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài này nhằm mục tiêu:
Đánh giá các tổn thương tai mũi họng (TMH) sau khi rút NKQ
So sánh các biến chứng TMH theo nguyên nhân ngộ độc
II Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1 Đối tượng:
Tiêu chuẩn chọn BN: Tất cả BN ngộ độc cấp phải đặt NKQ và thở máy vào khoa HSCC bệnh viện Lariboisière từ tháng 12/2000 - 8/2001 NKQ sẽ được đặt bởi các bác sỹ tiếp nhận BN
đầu tiên
Tiêu chuẩn loại trừ BN: BN tử vong hoặc mở khí quản trước khi rút NKQ
Trang 22 Phương pháp:
áp dụng phương pháp nghiên cứu tiến cứu
BN vào được khám lâm sàng và làm xét
nghiệm cần thiết
Chỉ định rút NKQ do bác sỹ chỉ định hoặc
do BN tự rút ống
Sau khi rút ống NKQ trong vòng 2 giờ chúng
tôi theo dõi mạch, huyết áp, tần số thở, nhiệt độ,
Glasgow Ngày hôm sau chúng tôi theo dõi tần
số thở, SpO2 và các triệu chứng cơ năng sau rút
ống NKQ như: đau họng, nuốt khó, khó thở, nói
khó kéo dài trên 2 giờ
Trong vòng 24 giờ sau khi rút ống bệnh nhân
sẽ được nội soi tai mũi họng (TMH) bằng máy
nội soi để đánh giá tổn thương TMH (do bác sỹ
TMH thực hiện) Nội soi TMH sẽ đánh giá
những tổn thương ở các vị trí sau: thanh môn,
dưới thanh môn, dây thanh âm, băng thanh thất
BN sẽ đặt lại ống NKQ khi: khó thở thanh
quản, ứ đọng nhiều đờm dãi, ý thức xấu đi
III Kết quả và bàn luận
Từ tháng 12/2000 - 8/2001, có 112 BN bị
NĐC được đặt NKQ và thở máy, trong đó 67
BN đã được nội soi tai mũi họng
1 Đặc điểm chung:
112 BN gồm 44 nam, 68 nữ Tuổi trung bình
43 ± 17 (16-86) Trong đó 25 BN (22%) có tiền
sử tâm thần, 26 BN (23%) không có tiền sử đặc biệt, 17 BN (15%) đã được đặt NKQ ít nhất 1 lần IGS II trung bình (TB) lúc vào viện là 43 ±
14 (17 - 80)
Thời gian đặt NKQ TB: 64±112 giờ (5 - 792) Thời gian nằm viện TB: 4 ± 10 ngày (2 - 57)
Chẩn đoán của BN ngộ độc được trình bày trong bảng 1 Trong đó 75 BN (67%) bị ngộ độc nhiều loại thuốc và 8 BN (7%) bị ngộ độc không do thuốc 30 BN ngộ độc rượu êthylic
2 Bệnh cảnh lâm sàng lúc vào viện
BN được đặt NKQ trước khi vào viện do các bác sỹ của trung tâm vận chuyển cấp cứu SMUR: 83 BN, 26 BN được đặt NKQ tại khoa
ĐTTC, 2 BN được đặt tại khoa cấp cứu, 1 BN
được đặt NKQ tại khoa khác trong bệnh viện 1
BN được rửa dạ dày sau khi đặt NKQ, 22 BN
được dùng than hoạt 50 gam/ngày
Bảng 1 Chẩn đoán khi vào viện
Loại ngộ độc Tổng số BN (n= 112) % BN được nội soi TMH (n= 67) %
Thuốc ức chế recepteur
serotonine
Trang 3* Paracetamol, digoxine, chloroquine, flecaine, thuốc trừ sâu, cyanure, ethylene glycol, chloral, amphetamine, ecstasy
Bảng 2: Khám lâm sàng lúc vào viện
Nhiệt độ (oC) 36,0 ± 1,8 (27,0-40,0) 36,4 ± 2,1 (27,0-40)
Bảng 3: Xét nghiệm lúc vào viện
XN lúc vào viện Tổng số BN (n=112) BN được soi TMH (n=67)
PaO2/FiO2 (mmHg) 317 ± 135 (60-753) 319 ± 121 (60-523)
Creatinine (mmol/l) 79 ± 39 (38-271) 82 ± 38 (46-271)
BC/mm3
9937 ± 4722 (1300-24700) 10282 ± 5033 (1300-24700) Hemoglobine (g/dl) 12,7 ± 1,8 (6,6-17,6) 12,7 ± 1,8 (8,3-17,6) TC/mm3
225 ± 95 (41-950) 238 ± 112 (41-950)
3 Lý do đặt ống NKQ
104 BN (93%) do hôn mê, 42 (38%) do trụy
mạch, 35 BN (31%) do suy hô hấp Một số BN
do hai yếu tố phối hợp như:
SHH + Hôn mê: 32 BN (9%)
SHH + truỵ mạch: 15 BN (13%)
Hôn mê + truỵ mạch: 37 BN (33%)
SHH + hôn mê + truỵ mạch: 14 BN (13%)
Trong đó 111 BN được đặt NKQ theo đường
miệng, duy nhất 1 BN được đặt NKQ theo
đường mũi
Đa số BN được đặt NKQ để bảo vệ đường hô hấp, tiếp theo là tổn thương huyết động và sau cùng là suy hô hấp
4 Rút NKQ
NKQ được bác sỹ chỉ định rút là 85 BN (76%), 27 BN (24%) tự rút NKQ Sau rút ống 6
BN bị khó thở nặng phải khí dung adrenaline, soludecadron cùng với tiêm solumedrol TM và kháng sinh dự phòng bằng amoxicilline Trong
đó 4 BN phải đặt lại ống (3 BN do phù nề thanh quản, 1 BN do ứ đọng)
Trang 4Bảng 4: Dấu hiệu lâm sàng và xét nghiệm sau khi rút ống NKQ 2 giờ
Nhiệt độ (0C) 37,5 ± 0,7 (36,0-39,7) 37,5 ± 0,7 (36,0-39,7)
PaO2/FiO2 (%) 361 ± 147 (72-744) 360 ± 142 (133-725)
5 Tổn thương tai mũi họng
Bảng 5: Tổn thương TMH
Dây thanh âm Sụn nhẫn Thanh
môn
Băng
Dưới thanh môn
Trong 67 BN được soi TMH: 12 BN (17,9%)
không có tổn thương TMH, 55 BN (82,1%) có
tổn thương TMH Tổn thương chủ yếu là phù
nề, loét dây thanh âm và sụn nhẫn; 8 BN có liệt
nhẹ dây thanh âm; 9 BN (13%) có tổn thương
trên thanh môn, 47 BN (70%) có tổn thương tại
thanh môn và 17 BN (25%) có tổn thương dưới
thanh môn Trong đó chỉ có 3 BN phải khám lại
TMH sau khi ra viện Kết quả của chúng tôi phù
hợp với kết quả nghiên cứu (NC) của Kastanos
và Coll Theo 2 tác giả trên loét dây thanh âm
và u hạt gặp ở 63% BN đặt NKQ, với thời gian
đặt ống TB là 6,2 ngày, nhưng tỉ lệ u hạt 42% cao hơn trong NC của chúng tôi Có lẽ do thời gian nội soi của chúng tôi ngắn hơn của các tác giả trên là 4 tuần sau rút ống
6 So sánh 2 nhóm có tổn thương TMH
và không có tổn thương TMH theo nguyên nhân ngộ độc
Trang 5Bảng 6: So sánh 2 nhóm có và không có tổn thương TMH theo nguyên nhân ngộ độc
Chúng tôi thấy không có sự khác nhau có ý nghĩa theo nguyên nhân ngộ độc (P>0,05)
7 So sánh các dấu hiệu cận lâm sàng, lâm sàng giữa 2 nhóm có tổn thương TMH và
không tổn thương TMH (bảng 8)
Bảng 8: So sánh các dấu hiệu lâm sàng, cận lâm sàng theo tổn thương TMH
PaO2/FiO2 (%) 299±113 (129-450) 319±123 (60-523) 0,5
Thời gian đặt ống (giờ) 20±18 (3-64) 65±112 (5-792) 0,01
Chúng tôi thấy có sự khác nhau có ý nghĩa
giữa thời gian đặt ống NKQ (P=0,01) và thời
gian nằm viện (P=0,01) với các tổn thương
TMH Riêng đau họng sau rút ống 24 giờ có giá
trị tiên lượng xuất hiện các biến chứng sau rút ống (P=0,05) Các BN không có tổn thương
Trang 6TMH có thời gian đặt NKQ ngắn hơn những
BN có tổn thương TMH 20 ± 18giờ (3-64)
ngược với 65 ± 112 giờ (5-792) Điều này cũng
giống với thời gian nằm viện có liên quan với
các biến chứng TMH 4 ± 2 (1-9) ngày so với 8
± 10 ngày (2-57) Kết quả này phù hợp với NC
của Santos và Coll
IV Kết luận
1 Tổn thương TMH là một biến chứng
thường gặp ở BN ngộ độc cấp được đặt NKQ
(82,1%), mặc dù thời gian đặt NKQ ngắn Tổn
thương chủ yếu là phù nề, loét dây thanh âm và
loét sụn nhẫn Ngoài ra còn gặp tổn thương ở
trên thanh môn, dưới thanh môn và băng thanh
thất
Tổn thương TMH có liên quan chặt chẽ với
thời gian đặt ống NKQ và thời gian nằm viện
(P = 0,01)
2 Không có sự liên quan giữa các nguyên
nhân ngộ độc với các biến chứng TMH
Tài liệu tham khảo
1 Baud F (1995), Mécanisme de l'insuffisance respiratoire aigue des comas toxiques, Réanimation des intoxication aigue: Maison, Paris, pp 26-35
2 Kastanos N et al (1983), Laryngotracheal injury due to endotracheal intubation: Incidence, evolution, and predisposing factors, Crit Care Med; 11: 362-367
3 Santos et al (1994), Risk factors asociated with prolonged intubation and laryngeal injury, Otolaryngo Head Neck Surg; 111: 453-459
4 Thomas R et al (1995), Post intubation laryngeal sequelae in an intensive care, J Laryngol Otol; 109: 313-316
5 Vassal T et al (1995), Fréquence, causes
et conséquences des dyspnées laryngées après extubation, Réan Urg; 4: 261-266
Résumé
Complications de endotrachéale chez les patients intoxiqués Tous les patients admis dans le service de RMT, intubé pour une intoxication aigue ont été recueillis prospectivement Un examen ORL avec nasofibroscopie a été réalisé dans les 24 heures suivant l'extubation Il s'agissait de 44 hommes et 66 femmes, âgés de 43±17 ans (16-86) Le score
de Glasgow à l'admission était de 5±3 (3-15) et le score IGS II de 43±14 (17-80) Les patients ont été intubé pour une défaillance neurologique (93%), hémodynamique (38%) et /ou respiratoire (31%) La durée moyenne d'intubationếtait de 64±112 heures (5-792) et celle du séjour en réanimation de 4±10 jours (2-57) Les principaux toxiques en causes étaient: les BZD, l'éthanol, les neuroleptiques, les carbamates et les antidépresseurs 67% avait une intoxication polymédicamenteuse 4 patients ont été réintubé Dans les 24 heures suivant l'extubation, 7 (6%) patients présentait une dyspnée, 51 (46%) une dysphagie, 73 (65%) une dysphonie 67 patients (60%) ont eu un examen ORL Seuls 12 patients (18%) avaient un examen ORL normal 47 (82%) avaient une lesion de la glotte, principalement un oedème, des ulcé rations et/ou granulomes, 17 (24%) une lésion de la sous glotte, 9 (13%) une lésion de l'épiglotte Il existe une différence significative en term de durée d'intubation et de séjour en réanimation entre les groups de patients avec ou sans lésions ORL Seule la présente d'une dysphagie le lendemaine de l'extubation est prédictive du risque de survenue de tells lésions La nature du toxique ne modifie pas le risque d'apparison de ces lésions Conclusion: le risque de survenue de lésion ORL précoque dans les
Trang 7suites d'une intubation pour intoxication aigue est important, indÐpendant du toxique ingÐrÐ et est liÐ µ la durÐe de l'intubation