Viêm tụy cấp không do nguyên nhân cơ học – chỉ định và phương pháp phẫu thuật Nguyễn Thanh Long Bệnh viện Việt Đức Đối tượng nghiên cứu: 90 bệnh nhân Viêm tụy cấp VTC hoại trừ không d
Trang 1Viêm tụy cấp không do nguyên nhân cơ học – chỉ định
và phương pháp phẫu thuật
Nguyễn Thanh Long
Bệnh viện Việt Đức
Đối tượng nghiên cứu: 90 bệnh nhân Viêm tụy cấp (VTC) hoại trừ không do nguyên
nhân cơ học được điều trị phẫu thuật tại Bệnh nhân Việt Đức từ 1/1999 đến 10/2003
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả đánh giá kết quả điều trị một nhóm
bệnh nhân bị VTC hoại trừ
Kết quả nghiên cứu: 90 bệnh nhân nghiên cứu có 18,9% nghiện rượu, 27,8% béo
phì được chỉ định mổ viêm phúc mạc (33,3%), sốc (29,9%) biến chứng khác (32,2%) với các phương pháp cắt lọc và dẫn lưu (86 trường hợp) cắt tụy (2 trường hợp), dẫn lưu áp
xe (2 trường hợp), mổ thông hỗng tràng (67 trường hợp), dẫn lưu đường mật (53 trường hợp) Tỷ lệ biến chứng 35,6%, tử vong 18,9%
Kết luận: Chỉ nên mổ khi có biến chứng hoặc hồi sức không kết quả, khi mổ nên cắt
lọc và dẫn lưu rộng rãi không nên cắt bỏ trong mở thông hỗng tràng nuôi ăn là cần thiết
và chỉ dẫn lưu đường mật khi có ứ trệ
Từ khóa: Biliary tract, Pancraas, Postoperative couplication
Từ viết tắt: VTC: Viêm tụy cấp; CT: Chụp cắt lớp, OMC: Ông mật chủ; HCMN: Hậu cung mạc nối
I đặt vấn đề
Viêm tụy là một bệnh lý cấp tinh ổ
bụng gây ra do hiện tượng các men tụy
được hoạt hóa ở ngay trong tuyến tụy và
làm tiêu hủy mô
Viêm tụy cấp được chia thành 2 thể tùy
theo nguyên nhân là VTC do nguyên
nhân cơ học và không do nguyên nhân
cơ học Nếu như những trường hợp VTC
do nguyên nhân cơ học (sỏi hoặc giun)
đòi hỏi phải phẫu thuật hoặc can thiệp nội
soi để giải quyết nguyên nhân thì VTC
không do nguyên nhân cơ học lại điều trị
nội là chủ yếu Phẫu thuật được đặt ra
khi có các biến chứng [1]
ở nước ta hiện nay số trường hợp VTC
không do nguyên nhân cơ học xuất hiện
ngày càng nhiều nhưng những nghiên
cứu về bệnh lý này còn chưa đầy đủ và
trên thực tế lâm sàng chưa có sự thống
nhất trong việc xác định chỉ mổ cũng như
kỹ thuật mổ Bởi vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm:
1 Xác định các chỉ định phẫu thuật của VTC
2 Đánh giá hiệu quẩ của các kỹ thuật
mổ
II Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là 90 bệnh nhân
bị VTC hoại tử không do nguyên nhân cơ học được điều trị phẫu thuật tại bệnh viện Việt Đức từ 1/1999 đến 10/2003 có hồ sơ
đầy đủ và tình trạng hoại tử của tụy đã
được khẳng định trong mổ và xét nghiệm giải phẫu bệnh lý
2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 2Đây là nghiên cứu mô tả đánh giá kết
quả điều trị 1 nhóm bệnh nhân bị VTC
hoại tử Mỗi bệnh nhân được ghi nhận
các chỉ số về lâm sàng, cận lâm sàng, chỉ
định mổ, tổn thương và cách thức phẫu
thuật
So sánh và phân tích các số liệu
nghiên cứu, hiệu quả của các phương
pháp phẫu thuật để xác định các chỉ định
mổ và cách thức mổ thích hợp
III kết quả nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi được tiến
hành trên 90 bệnh nhân bao gồm 51 nam
(56,7%) và 39 nữ (43,3%), tuổi trung bình
là 47,72 trong đó lứa tuổi thường gặp nhất
là 51-60 (32,3%)
1 Các dấu hiệu lâm sàng và cận
lâm sàng
Các hoàn cảnh dẫn đến VTC là nghiện
rượu (17/90 bệnh nhân chiếm tỷ lệ
18,9%), sau phẫu thuật (3,3%), sau bữa
ăn thịnh soạn (4,4%), thể trạng béo
(27,8%)
Về tình trạng huyết động: có 61 bệnh
nhân (67,7%) có mạch trên 90 l/p, 28
bệnh nhân (31,1%) có huyết áp dưới 90
mmHg, 65 bệnh nhân (72,8%) có sốt
trong đó có 18 bệnh nhân (20%) có sốt
trên 390C, 15 bệnh nhân (16,7%) có dấu
hiệu suy hô hấp
Thăm khám bụng cho thấy có 48 bệnh
nhân (53,3%) có phản ứng thành bụng,
39 bệnh nhân (43,3%) có cảm ứng phúc
mạc, 25 bệnh nhân (27,8%) có khối căng
đau trên rốn và 7 bệnh nhân (7,8%) có
những màng tím dưới da bụng
Kết quả xét nghiệm cho thấy chỉ có 65
(72,2%) trường hợp có Amylase máu tăng
trong đó có tới 89,2 số bệnh nhân có
Amylase niệu tăng 33 trường hợp
(37,1%) có tăng ure máu và 67 bệnh nhân(74,4%) có tăng glucose máu Canxi máu giảm ở 21 bệnh nhân (24,1%)
Xét nghiệm huyết học cho thấy có 73 bệnh nhân (81,1%) có tăng bạch cầu trong đó 37,8 có bạch cầu tăng trên 15.000/mm3
Có 88 bệnh nhân được làm siêu âm trong đó chỉ có 61 bệnh nhân thăm dò
được tụy, siêu âm chỉ xác định được tụy hoại tử được ở 44 bệnh nhân (50%), các hình ảnh thu được là tụy to + dịch ổ bụng (17%), tụy to + dịch ổ bụng + tụy hoại tử (47,7%), áp xe tụy (2,3%)
43 bệnh nhân được chụp cắt lớp vi tính
ổ bụng, CT không xác định được tụy hoại
tử ở 1 bệnh nhân, 42 bệnh nhân còn lại
CT xác định chính xác tổn thương của tụy
2 Chỉ định mổ
Chỉ định phẫu thuật ở 90 bệnh nhân như sau: Viêm phúc mạc: 30 (33,3%), sốc hồi sức không kết quả: 14 (29,9%), tụy hoại tử nhiễm trùng: 22 (24,4%), các biến chứng của VTC hoại tử (Xuân huyết tiêu hóa, áp xe tụy…); 7 (7,8%) và VTC hoại tử đơn thuần: 17 (18,9%) Thời gian
từ khi có triệu chứng VTC đến khi chỉ định
mổ như sau: dưới 48 giờ: 13 bệnh nhân (14,4%), từ 2-14 ngày: 67 bệnh nhân (74,4%) và trên 14 ngày: 10 bệnh nhân (11,2%)
3 Phương pháp phẫu thuật
Các phương pháp phẫu thuật được áp dụng:
- Lấy tổ chức tụy hoại tử + dẫn lưu:
82 bệnh nhân
- Dẫn lưu hậu cung mạc nối và ổ bụng:
4 bệnh nhân
Trang 3- Cắt đuôi và thân đuôi tụy: 2 bệnh
nhân
- Dãn lưu áp xe tụy: 2 bệnh nhân
Các phẫu thuật kết hợp
- Mở thông hỗng tràng: 67 bệnh nhân
- Mở thông túi mật: 50 bệnh nhân
- Cắt túi mật + dẫn lưu OMC: 3 bệnh
nhân
- Cắt hang vị: 1 bệnh nhân
- Khâu lỗ thủng tá tràng + vị tràng +
khâu kín môn vị: 2 bệnh nhân
Có 33 bệnh nhân được nuôi cấy dịch ổ
bụng trong đó có vi khuẩn mọc ở 12 bệnh
nhân (36,4%), các vi khuẩn thường gặp là
E.coli (66,7%), Acruginosa (33,4%),
Acinobater (8,3%), Proteus và
Enterococus (8,3%)
4 Kết quả điều trị
Kết quả điều trị thu được như sau: 58
bệnh nhân (64,4%) khỏi và ra viện không
có biến chứng, 32 bệnh nhân (35,6%) có
biến chứng trong đó có 17 bệnh nhân tử
vong (18,9%)
Các biến chứng gặp ở 90 bệnh nhân là:
- Rò tiêu hóa: 5 bệnh nhân (2 tử vong)
- Chảy máu tiêu hóa: 3 bệnh nhân (1
tử vong)
- Rò tụy: 4 bệnh nhân
- áp xe tồn dư: 4 bệnh nhân (1 tử vong)
Nguyên nhân tử vong ở 17 bệnh nhân:
- Sốc nhiễm trùng, nhiễm độc: 4 bệnh nhân (23,5%)
- Suy đa tạng: 10 bệnh nhân (58,8%)
- Chảy máu tiêu hóa: 1 bệnh nhân (5,88%)
- Suy hô hấp: 1 bệnh nhân (5,88%)
- Rò tụy: 1 bệnh nhân (5,88%)
Liên quan giữa phương pháp phẫu thuật và tỉ lệ tử vong như sau:
- Lấy tổ chức hoại tử + dẫn lưu: 14 tử vong (17%)
- Dẫn lưu HCMN + ổ bụng: 0 tử vong
- Cắt tụy: 2 tử vong (100%)
- Dẫn lưu áp xe tụy: 1 tử vong (50%)
Bảng 1: Liên quan giữa thời điểm mổ và kết quả
Kết quả
Thời điểm
2 – 14 ngày 44 13 10 14,9
Bảng 2: Liên quan giữa tỷ lệ biến chứng và chỉ định phẫu thuật
Biến chứng Chẩn đoán
Có Không Số bệnh nhân
Tỷ lệ biến chứng
%
Viêm phúc mạc 10 20 30 33,3
Tuỵ hoại tử nhiễm trùng 7 15 22 31,8
Sốc + suy đa tạng 9 5 14 64
Biến chứng khác 2 5 7 28,5
Trang 4Tỷ lệ biến chứng ở nhóm có mở thông
hỗng tràng là 25,3%, trong đó tỷ lệ này ở
nhóm không mở thông là 65,7% (P<0,01)
Tỷ lệ biến chứng ở nhóm có mở thông
túi mật là 32,%, trong khi tỷ lệ này ở
nhóm không mở thông là 40%
IV Bàn luận
Nhờ những hiểu biết về nguyên nhân,
cơ chế bệnh sinh và những kết quả
nghiên cứu lâm sàng, thái độ xử trí VTC
đã có nhiều thay đổi Trước năm 1990 đa
số VTC hoại tử được chỉ định mổ với tỷ lệ
tử vong và biến chứng cao, năm 1991,
Bradlay và Allen [6] đã công bố kết quả
điều trị nội thành công VTC hoại tử, đa số
các tác giả đều thống nhất là nên điều trị
nội cho những trường hợp VTC hoại tử,
phẫu thuật chỉ đặt ra khi có các biến
chứng
VTC hoại tử chiếm 20% số VTC, đây
là 1 thể nặng thường biểu hiện với các
triệu chứng lâm sàng rầm rộ Theo
Hollander [9] bệnh nhân VTC thường có
đau dữ dội, có sốc, số, phản ứng thành
bụng và liệt ruột nặng Trong nghiên cứu
của chúng tôi có 8 bệnh nhân (31,1%) ở
tình trạng sốc, 15 bệnh nhân (16,7%) có
suy hô hấp, 65 bệnh nhân (72%) có sốt,
39 bệnh nhân có cảm ứng phúc mạc Kết
quả này cũng tương tự nghiên cứu của
các tác giả khác Về xét nghiệm thấy đa
số trường hợp có bạch cầu tăng Amylase
máu và niệu cao nhưng chúng tôi nhận
thấy không có sự tương xứng giữa mức
tăng Amylase với mức độ tổn thương của
tụy, điều này cũng phù hợp với nhận xét
của các tác giả khác Và do vậy không có
giá trị tiên lượng bệnh Các xét nghiệm
khác như ure máu tăng, đường huyết tăng
và canxi máu giảm gặp ở những bệnh
nhân nặng, có mức độ hoại tử tụy nặng
nên có giá trị tiên lượng bệnh như bảng tiên lương của Ranson [10] đã nêu Để xác định chính xác tổn thương của tụy cần làm các thăm dò hình ảnh như siêu
âm và CT Trong đó CT có giá trị chẩn
đoán cao (95,3% so với 50%) do siêu âm
bị hạn chế khi ruột chướng hơi nhiều Tuy nhiên, kết quả đọc film CT không cho kết luận về mức độ tổn thương của tụy theo phân độ Freeny mà theo Berger [5], tỷ lệ
tử vong của bệnh nhân phụ thuộc vào mức độ hoạt tử tụy này
1 Chỉ định mổ trong VTC hoại tử
Về chỉ định ổ, sau nghiên cứu của Bradlay và Allen [6] cũng như các tác giả khác cho đến nay đa số tác giả đã thống nhất là nên điều trị nội VTC hoại tử, chỉ
định mổ chỉ đặt ra khi có các biến chứng như nhiễm trùng, chảy máu thủng ống tiêu hóa… Tuy nhiên còn có một số tình huống còn thảo luận như VTC hoại tử có sốc hoặc suy đa tạng mà hồi sức không kết quả, khi có các rối loạn toàn thân khác như suy hô hấp,… nên phẫu thuật
W Harting [8] cho rằng khi bệnh nhân
có biểu hiệu nhiễm trùng phối hợp với suy
đa tạng nên mổ sớm vì nếu không mổ tỷ
lệ tử vong có thể lên tới 100%
Trong nghiên cứu của chúng tôi thì trừ những trường hợp có chỉ định mổ rõ ràng như ổ hoại tử nhiễm trùng, thủng hoặc chảy máu tiêu hóa… có 30 bệnh nhân có tình trạng sốc hồi sức không kết quả và
17 bệnh nhân chỉ có hoại tử tụy đơn thuần, chỉ định mổ theo chúng tôi là quá rộng Việc chỉ định mổ ở những bệnh nhân VTC hoại tử có sốc mà hồi sức không kết quả là cần thiết vì động tác mổ chính là hồi sức quan trọng: việc phá bỏ các ổ dịch, lau rửa và dẫn lưu ổ bụng giúp giải thoát các men tụy, các chất trung
Trang 5gian hóa học được giải phóng trong quá
trình viêm và nhất là làm giảm đau cho
bệnh nhân Tuy nhiên chỉ định mổ khi tụy
chi hoại tử đơn thuần là không cần thiết,
tỷ lệ biến chứng ở nhóm này cao (23,5%)
là minh chứng cho điều đó
2 Kỹ thuật mổ trong VTC hoại tử
Trong phẫu thuật động tác cơ bản là
mổ bao bao tụy, lấy bỏ tổ chức hoại tử và
dẫn lưu rộng rãi các ổ dịch Việc lấy bỏ tổ
chức hoại tử một cách triệt để là rất khó
khăn vì ranh giới giữa tổ chức hoại tử
không rõ ràng, nhất là khi mổ sớm Bởi
vậy, theo Hollander [9] nên mổ muộn từ
ngày thứ 3 – thứ 7 để có thể phân định rõ
tổ chức chết và sống Trong nghiên cứu
của chúng tôi có 6 trường hợp phải mổ lại
vì còn tổ chức hoại tử đều xảy ra ở những
bệnh nhận được chỉ định mổ sớm
Trong phẫu thuật nên tránh cắt bỏ
trong rộng rãi vì nguy cơ tử vong và biến
chứng cao, trong nghiên cứu có 2 trường
hợp cắt thân đuôi tụy đều tử vong chúng
tôi xin nêu lại lời khuyên của giáo sư Tôn
Thất Tùng [4] chỉ nên làm gì tối thiểu và
cần thiết, không nên cắt bỏ tụy
Cần đảm bảo dẫn lưu ổ tụy bằng cách
đặt các dẫn lưu lớn, có thể tưới rửa liên
tục sau mổ vì dịch tụy thường lẫn với tổ
chức hoại tử làm tắc ống dẫn lưu
Trước kia người ta thường cho rằng
việc dẫn lưu đường mật là cần thiết để
tránh trào ngược dịch mật gây kích thích
viêm tụy Tuy nhiên các nghiên cứu thực
nghiệm cũng như thực tế lâm sàng cho
thấy khả năng này rất ít xảy ra Trong
nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ biến
chứng ở hai nhóm có mổ thông túi mật và
không mổ thông không có sự khác biệt
Theo chúng tôi chỉ nên dẫn lưu ống mật
khi có hiện tượng ứ trệ đường mật do tụy
viêm chèn ép Trái lại việc mổ thông hỗng tràng để nuôi dưỡng bệnh nhân là cần thiết đồng thời có tác dụng duy trì hàng rào bảo vệ niêm mạc ruột tránh nhiễm khuẩn [2] Trong nhóm bệnh nhân được
mổ thông hỗng tràng có tỷ lệ tai biến thấp hơn nhóm không mổ thông một cách rõ rệt (P <0,01)
Sau phẫu thuật việc sử dụng kháng sinh liều cao và phổ rộng là rất cần thiết
để tránh bội nhiễm và chống nhiễm khuẩn Trong nghiên cứu có 36,4% trường hợp cấy dịch ổ bụng có mọc vi khuẩn, các vi khuẩn chủ yếu là vi khuẩn
đường ruột Theo Buchler [7] các vi khuẩn này xâm nhập trực tiếp vào tụy qua thành ruột
Trong điều trị việc ức chế tiết dịch tụy là rất cần thiết Tuy nhiên trong nghiên cứu này việc sử dụng thuốc còn không đầy đủ
và không theo phác đồ cụ thể nên chúng tôi không thể kết luận về vấn đề này
V Kết luận
1 Viêm tụy cấp hoại tử là thể nặng của VTC với diễn biến lâm sàng phức tạp
và có thể dẫn đến các biến chứng nguy hiểm, điều trị nội khoa là chủ yếu, phẫu thuật chỉ nên được chỉ định khi:
- VTC hoại tử có biến chứng như nhiễm trùng, chảy máu…
- VTC hoại tử có sốc hoặc suy các tạng mà hồi sức không kết quả
2 Trong phẫu thuật việc lấy bỏ tổ chức hoại tử và dẫn lưu tốt là động tác cơ bản, nên tránh việc cắt bỏ tụy Mổ thông hỗng tràng là động tác cần thiết để nuôi dưỡng bệnh nhân và tránh nhiễm trùng, dẫn lưu
đường mật chỉ được thực hiện khi đường mật bị ứ trệ
Trang 6Tµi liÖu tham kh¶o
1 T«n ThÊt B¸ch vµ céng sù (2002),
NhËn xÐt kÕt qu¶ ®iÒu trÞ VTC ho¹i tö t¹i
khoa phÉu thuËt cÊp cøu bông bÖnh viÖn
ViÖt §øc – Ngo¹i khoa – tËp 11 sè 2
trang 18-23
2 Chu M¹nh Khoa (2000), Nu«i
d−ìng bÖnh nh©n nÆng sau sang chÊn vµ
tÇm quan träng cña nã Héi th¶o vÒ ®iÒu
trÞ dinh d−ìng trong bÖnh viÖn Hµ Néi
3 Toµn V¨n Phèi, NhËn xÐt 28 tr−êng
hîp VTC n¨ng ®−îc phÉu thuËt t¹i bÖnh
viÖn Chî RÉy tõ 1982-1987 - Ngo¹i khoa
– TËp 21
4 T«n ThÊt Tïng (1961), ChÈn ®o¸n
viªm tôy cÊp ë ViÖt Nam CÊp cøu ngo¹i
khoa – TËp 1 – Nhµ xuÊt b¶n y häc
5 Berger HG Natural course of acute
pan creatitis World J.Surg 21 130-135,
1997
6 Bradlay EL A prospective
longitudinal of observation versur surgical intervention in the management of necrotizing pacreatitis Ann of surg 1991
161 : 19-25
7 Buchler M.W, Christopher “Acute
necrosis pancrÐatites: treatment Strategy according to the status of the infection” Ann of surg 2000 619-626
8 Harting W “Managament of
infection in acute pancrÐatitis” Journal of HPS 2002: 423-428
9 L Hollander Nðcrose pacreatique
EMC 40885 – 1 – 7
10 Ranson, hiÖn t−îng “Acrute
pancrÐatites” Maigost’s Abdominal operation, 1997 vol II, 1899-1915
Summary
Experience on acute necrotizing pancreatitis treated at
viet duc Hospital
Retrospective study from January 1999 to October 2003 on 90 patients of acute necrotizing pancreatitis (ANP) treated at Viet Duc Hospital in which demonstrated: male patients represented 56,7%; average age: 47,7%, including Alcoholism 18,9% The time between onset syndrome and operation was shown: before 48 hours: 14,4%; from 2 to 14 days: 74,4%; more 14 days: 11,2% Surgical procedures were performed: debridement of the necrotic tissue and ample drainage (86 cases), pancreatectomy of head part and main part was done on 2 cases, abscess drainage for 2 cases; jejunostomy: 67 cases; biliary: 53 cases; management of other lesion for 3 cases; postoperative complication was presenting 35,6%; the mortality was 18,9%
This study has experienced that necrotizing pancreatitis is not responded to medical treatment The best time to take operation is on the third day from onset the syndrome The surgical procedure as debridement of necrotic tissue and drainage is the management most often implemented, the ample pacreatectomy is not employed to be caused the high mortality as 100% Regarding patient nutrition, the jejunostomy is more effective which can control infection as well The biliary drainage is indicated if bile duct is obstructed