typhi phân lập ở Đak Lak từ năm 1996 – 1998, kết quả như sau: Tất cả các chủng đều nhạy cảm với các kháng sinh ở các nồng độ 1 àg/ml với Tetracycline, Trimethoprim/sulfa và 4 àg/ml với
Trang 1Kết quả xác định độ nhạy cảm với kháng sinh (MIC)
từ 1996-1998
Nguyễn Ngọc Hưng 1 , Tô Song Diệp 2 ,
Đào Xuân Vinh 1 , Đỗ Thung 1 và CS
1 Viện Vệ sinh dịch tễ - Tây Nguyên
2 .Trung tâm bệnh nhiệt đới TP.Hồ Chí Minh
Lần đầu tiên ở Đak Lak, chúng tôi đã phân lập được S typhi từ bệnh nhân thương hàn và tiến hành xác định M.I.C với 50 chủng S typhi phân lập ở Đak Lak từ năm 1996 – 1998, kết quả như
sau:
Tất cả các chủng đều nhạy cảm với các kháng sinh ở các nồng độ (1 àg/ml với Tetracycline, Trimethoprim/sulfa và 4 àg/ml với Ampicillin, Nalidixic và cephalosporin thế hệ 3 (Ceftriaxone M.I.C=0,125 àg/ml) với fluoroquinolone (Ofloxacin M.I.C=0,25 àg/ml), đặc biệt 16% đề kháng với
Chloramphenicol (M.I.C = 64 àg/ml) Đây là sự khác biệt lớn so với các chủng S typhi phân lập
được ở miền Bắc và miền Nam Việt Nam
Phân tích đặc tính plasmid cho thấy: cả 50 chủng đều không mang R-plasmid
43 chủng mang một plasmid khoảng 70 Md
7 chủng không mang bất kỳ plasmid nào
I Đặt vấn đề
ở Tây Nguyên trước năm 1996 chưa hề ghi
nhận trường hợp phân lập Salmonella typhi nào
Từ năm 1996 -1999 tại Đăklăk đã phân lập 50
chủng S typhi từ bệnh phẩm máu của 250
người nghi sốt thương hàn Chúng tôi đã tiến
hành xác định độ nhạy cảm các chủng S typhi
phân lập được với các kháng sinh thông thuờng
như: Ampicilline, Tetracycline, Bactrim,
Chloramphenicol bằng phương pháp khuếch
tán trên thạch Kết qủa cho thấy cả 50 chủng S
typhi đều còn nhạy cảm với các kháng sinh thử
nghiệm Trong khi đó theo các công bố của các
tác giả trong nước, thì các chủng S typhi phân
lập được ở các miền Bắc, Trung, Nam đều
kháng lại các kháng sinh thông thường, đặc
biệt kháng rất cao với Chloramphenicol Như
vậy độ nhạy cảm với kháng sinh của các chủng
S typhi phân lập ở Đăklăk, khác với các vùng
khác trong nước
Để đánh gía một cách chính xác hơn về khả
năng nhạy cảm với kháng sinh của các chủng S
typhi phân lập ở Đăklăk, chúng tôi đã kết hợp
với khoa vi trùng, Trung tâm bệnh nhiệt đới (TTBNĐ) TP Hồ chí minh cùng sự hỗ trợ của các chuyên gia thuộc Đơn vị nghiên cứu lâm sàng Wellcome Trust-Đại học Oxford, tiến hành xác định MIC và Plasmid kháng thuốc
của 50 chủng S typhi phân lập được nhằm
đóng góp thêm tư liệu cho các nhà khoa học quan tâm
II Phương pháp và vật liệu nghiên cứu
1 Chủng vi khuẩn:
50 chủng S typhi do labô vi khuẩn đường
ruột, Viện Vệ sinh dịch tễ Tây nguyên phân lập
Trang 2được từ máu, phân của bệnh nhân nghi sốt
thương hàn ở Đăklăk
2 Sinh vật phẩm : Môi trường Mueller
Hinton (MH2) và bột kháng sinh các loại:
Ampicillin, Chloramphenicol, Ceftriaxone,
Erythromycin, Nalidixic acid, Ofloxacin,
Trimethoprim/Sulfamethoxazone, Tetracycline
dùng trong nghiên cứu đều do hãng Sanofi
cung cấp và Đơn vị nghiên cứu lâm sàng
Wellcome Trust của đại học Oxford, tại Trung
tâm bệnh nhiệt đới TP.Hồ chí Minh tài trợ
3 Phương pháp:
3.1 Phương pháp xác định MIC:
Tiến hành trên môi trường thạch: Kháng
sinh được hòa tan vào thạch MH2 ở các nồng
độ xác định, tùy theo mức độ nhạy cảm của vi
khuẩn đối với kháng sinh, sau đó chấm vi
khuẩn với nồng dộ 104 CFU/ml lên mặt thạch
bằng máy dập tự động và đem ủ ở 37°C/24h,
sau đó đọc kết quả theo bảng hướng dẫn của
NCCLS (National committee for clinical
laboratory Standards) Song song với các chủng
thử nghiệm là các chủng kiểm tra: E coli ATCC 25922 và S aureus ATCC 25923
3.2 Phương pháp xác định Plasmid:
Yếu tố R-plasmid được tách chiết theo phương pháp Birboim cải tiến, sau đó được
điện di trên thạch Agarose 0,7% để xác định Plasmid profile Kích thước của Plasmid sẽ
được ước tính dựa vào kích thước plasmid DNA
của các chủng E coli chứng
3.3 Xử lý kết quả:
Các kết quả được xử lý bằng phần mềm EPI.INFO và WHONET.4
iii KếT quả
1 Kết quả xác định MIC của 8 loại
kháng sinh với các chủng S typhi thử
nghiệm (n=50.)
Bảng 1 : Tỷ lệ các chủng bị ức chế bởi các nồng độ kháng sinh thử nghiệm
Kháng sinh 0,032 0,064 0,125 0,25 0,5 1 2 4 8 16 32 64
AMP: ampicillin ; CRO: Ceftriaxone; ERY: Erythromycin; NAL: Nalidixic acid
OFL: Ofloxacin; SXT: Trimethoprim/Sulfame; TET: Tetracycline; CHL: Chloramphenicol
Trang 3Kết quả cho thấy:
- Với Ceftriaxone 71% số chủng bị ức chế ở
nồng độ 0,032 àg/ml; 2% ở nồng độ
0,064àg/ml và 27% ở nồng độ 0,125 àg/ml
- Với Ofloxacin 100% số chủng có M.I.C là
0,25 àg/ml
- Với Ampicillin có 32% số chủng bị ức chế
ở nồng độ 1àg/ml; 2% ở nồng độ 2àg/ml và
55% ở nồng độ 0,125àg/ml
-Với Trimethoprim/Sulfame và Tetracycline
100% số chủng có M.I.C là 1àg/ml
- Với Chloramphenicol có 7% số chủng bị
ức chế ở nồng độ 8àg/ml; 77% ở nồng độ 16àg/ml và 16% ở 32àg/ml
- Với Nalidixic axit có 4% số chủng bị ức chế ở nồng độ 1àg/ml và 96% ở nồng độ 64àg/ml
- Với Erythromycine có 4% số chủng bị ức chế ở nồng độ 16àg/ml và 96% ở nồng độ 64àg/ml
Bảng 2: M.I.C của 8 loại kháng sinh với các chủng S typhi thử nghiệm
Kháng sinh Ranh giới quy định (àg/ml) M.I.C 50 M.I.C 90 Kết quả (%)
Ampicillin ⊆ 8 ⊇ 32 4 4 100
Ceftriaxone ⊆ 8 ⊇ 64 0,032 0,125 100
Nalidixic acid ⊆ 16 ⊇ 32 4 4 100
Ofloxacin ⊆ 2 ⊇ 8 0,25 0,25 100
Trime/sulfa ⊆ 2 ⊇ 4 1 1 100
Tetracycline ⊆ 4 ⊇ 16 1 1 100
Chloramphenicol ⊆ 8 ⊇32 64 64 7 77 16
Từ bảng trên cho thấy M.I.C của 6 loại
kháng sinh (Ampicillin,Ceftriaxone, Nalidixic
acid, Ofloxacin, Trimethoprim/Sulfame và
Tetracycline) với các chủng S typhi thử nghiệm
khá thấp hay các chủng thử nghiệm có độ nhạy
cao đối với các kháng sinh này Riêng 2 loại
Chloramphenicol có 16% kháng ở mức độ thấp
với M.I.C90 là 32àl/ml và Erythromycin có tỷ lệ
kháng khá cao, gấp 8 lần nồng độ kháng tối
thiểu (8àl/ml)
2 Kết qủa phân tích Plasmid:
Phân tích các plasmid từ các chủng S typhi
phân lập ở Daklal đ−ợc thử nghiệm đã thu đ−ợc kết quả:
- Trong 50 chủng S typhi: Không có chủng
nào có plasmid kháng thuốc
- Có 43/50 chủng S typhi có plasmid với
trọng l−ợng < 70 MD, ch−a xác định đ−ợc vai trò của các plasmid này
Trang 4- Có 7/50 chủng S typhi hoàn toàn không có
plasmid
iv Bàn luận
- ở Việt Nam, tính đến năm 1996 ở các
miền Nam, Trung, Bắc đều xuất hiện nhiều ổ
dịch hương hàn do các chủng S typhi đã kháng
kháng sinh gây nên với tỷ lệ đa kháng kháng
sinh là 74%, đặc biệt các kháng sinh thông
thường đều không còn tác dụng Hiện tượng
kháng cao và đa kháng là do các chủng S typhi
này đều có các plasmid kháng thuốc Riêng các
chủng S typhi phân lập tại Daklak vẫn còn
nhạy cảm cao với các kháng sinh thông thường,
do đó không có plasmid kháng thuốc
- Các chủng S typhi phân lập ở Đaklak mới
kháng Chloramphenicol nhưng ở mức thấp
(M.I.C là 32 àg/ml) so với các chủng S typhi
phân lập của Trung tâm bệnh nhiệt đới thàng
phố Hồ chí Minh kháng với Chloramphenicol
với M.I.C là 256 àg/ml Tuy nhiên vẫn cần
giám sát chặt chẽ tính kháng thuốc, của các
chủng Salmonella tại địa phương, đề phòng các
chủng mang plasmid kháng thuốc từ địa
phương khác xâm nhập, vì khả năng truyền
plasmid trong quần thể các Salmonella rất cao
- Trên cơ sở kết quả phân tích tính nhạy
cảm với kháng sinh, có thể nói các chủng S
typhi phân lập được tại Đaklak có khả năng là
các chủng có nguồn gốc tại chỗ
V kết luận
- Căn cứ vào M.I.C đã xác định 50 chủng S
typhi phân lập ở Đaklak từ 1996-1998 còn nhạy
cảm với 6 loại kháng sinh: Ampicillin,
Ceftriaxone, Nalidixic acid, Ofloxacin,
Trimethoprim/Sulfame và Tetracycline Riêng
với Chloramphenicol 16% chủng kháng, 77%
chủng nhạy cảm giới hạn và chỉ 7% còn nhạy
cảm, 100% chủng kháng với Erythromycin
VI đề nghị:
- Trong bối cảnh kháng thuốc khá cao của
các chủng Salmonella trong cả nước hiện nay,
tại khu vực Đaklak nói riêng và Tây Nguyên nói chung cần giám sát chặt chẽ tính kháng
thuốc của các chủng Salmonella, đề phòng các
chủng ngoại nhập lan truyền tính kháng thuốc bằng plasmid
Tài liệu tham khảo
1 Nguyễn Thị Thanh Hà và Cs: Nhận xét
tính kháng sinh của S typhi tại một số tỉnh
miền Bắc từ tháng 1 – 9/1995 Hội nghị khoa học, Vi sinh Y học 11.1995
2 Lê thị ánh Hồng, Hoàng Thủy Long, Nguyễn Thị Vinh và Cs: Bước đầu tìm hiểu khả năng lan truyền gen kháng kháng sinh của
Salmonella typhi phân lập ở Việt Nam
(1995-1997) Tạp chí Y học dự phòng 1999, tập IX,
số 1(39): 433-437
3 Nguyễn thị tuyết Hoa và Cs: Sử dụng Ofloxacine ngắn ngày trong điều trị thương hàn Tài liệu Y dược học 1995, 3
4 Nguyễn thị tuyết Hoa, Tô song Diệp,
Lê thị Phỉ, Nguyễn văn Bảy, John Wain, Amanda Walsh, Julia Ling: Đặc điểm vi sinh học của Thương hàn kháng thuốc tại các tỉnh phía Nam Báo cáo hội nghị Thương hàn, Trung tâm bệnh nhiệt đới Tp Hồ chí Minh
1996
5 Nguyễn ngọc Hưng, Đỗ Thung, Đào xuân Vinh và Cs: Một số kết quả nghiên cứu
Vi sinh vật bệnh thương hàn ở tỉnh Đaklak (1996-1997) Báo cáo Hội nghị khoa học, Tp
Hồ chí Minh 1998: 32-38
6 Đoàn mai Phương, Lê đăng Hà, Nguyễn xuân Quang, Phạm văn Ca, Đặng lan Oanh: Nồng độ ức chế tối thiểu (M.I.C) của các
chủng S typhi đa kháng phân lập được trong
năm 1994-1996 Kỷ yếu công trình nghiên cứu
Trang 5khoa học-Nhi khoa miền Trung lần IV:
333-335
7 Nguyễn hứa Phục, Đỗ thị ngọc Mai,
Trần thị Hoa và Cs: Nhận xét tính kháng
kháng sinh của S typhi phân lập tại khoa nhi
bệnh viện Trung ương Huế trong vụ dịch 1996
Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học- Nhi
khoa miền Trung lần IV, 112-115
8 Nguyễn thị kiều Phương và Cs: Độ
nhạy với kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh
thường gặp tại một số tỉnh thành phố phía Nam
Việt Nam Phụ san chuyên đề vi khuẩn và kháng sinh, Thư viện Y học Trung ương, Số 2
1995
9 Butler, T.Arnoid.K.Linh, N.N and Coll: Chloramphenicol-resitant typhoid fever in Viet Nam associated with R factor.lancet
1973, III : 984-985
10 Kim Y R: Management of multidrug-resitant typhoid fever Med Progs 1996, 23 (12): 27-29
Summary
Minimal inhibitory concentration (M.I.C) of
antiobiotics to S typhi strains isolated at Daklak from
1996-1998
For the first time in Daklak, S typhi strains were isolated from cases of suspected typhoid fever M.I.C was investigated on 50 strains of S typhi isolated in Daklak from 1996-1998 The results
were as following:
- All these isolated were fully sensitive to common antibiotics (1 àg/ml for Tetracycline, Trimethoprim/sulfamethoxazole and 4 àg/ml for Ampicillin, Nalidixic acid and the third generation cephalosporines (Ceftriaxone M.I.C=0,125 àg/ml) and the fluoquinolones (Ofloxacin M.I.C=0,25 àg/ml), especially to 16% of Chloramphenicol-resistant isolates (with M.I.C =64 àg/ml) This is a
great difference to compare with S typhi strains isolated in Northern and the Southern Viet Nam
- Concerning the plasmid profile analysis, from 50 strains of S typhi, the results showed that:
+ All these strains do not harbour any R-plasmid
+ 43 strains harboured a plasmid lower than 70Md
+ 7 strains do not harbour any kind of plasmids