- Đối chiếu kết quả phát hiện của siêu âm, của test sàng lọc trong huyết thanh mẹ với kết quả phân tích nhiễm sắc thể ở tế bào ối nuôi cấy.. Đối chiếu kết quả test sàng lọc với kết quả
Trang 15
Chẩn đoán xác định một số dị tật thai nhi bằng phân
tích nhiễm sắc thể tế bào ối nuôi cấy
Hoàng Thị Ngọc Lan 1 , Nguyễn Việt Hùng 2 Trịnh Văn Bảo 1 , Trần Thị Thanh Hương 1
1 Bộ môn Y sinh học di truyền - Đại học Y Hà Nội
2 Bộ môn Phụ sản - Đại học Y Hà Nội
Tiến hành chọc hút dịch ối ở 40 sản phụ có nguy cơ cao sinh con bất thường NST
Tỷ lệ nuôi cấy thành công 31/ 38 ( có 2 mẫu bị nhiễm trùng)
Chọc hút ối ở tuần thai thứ 14 trở đi Thời gian trung bình từ khi nuôi cấy đến khi trả lời kết quả từ 2- 3 tuần
áp dụng phương pháp nuôi cấy hở sử dụng tủ ấm 370C với 5% CO2 với môi trường nuôi cấy ối AmnioMax Tiến hành đối chiếu với các xét nghiệm sàng lọc trong huyết thanh mẹ (AFP, βhCG) ở 31 thai phụ
Có 12 thai phụ có kết quả test sàng lọc dương tính trong đó có 4 trường hợp có rối loạn NST ở thai, 19 thai phụ có kết quả sàng lọc âm tính thì có 1 trường hợp có rối loạn NST Tỷ lệ phát hiện 4/ 5 = 80%,
tỷ lệ dương tính giả 8/ 26 = 30,77%
Trong 21 trường hợp siêu âm thai có hình ảnh bất thường, nuôi cấy ối phát hiện 6 trường hợp có rối loạn NST Những dấu hiệu siêu âm liên quan với bất thường NST như: tăng chiều dày da gáy, thoát vị rốn, nang nước gáy, ngắn xương chi
Với 38 mẫu ối nuôi cấy thành công đã phát hiện 7/ 38 thai có bất thường NST
Như vậy với phương pháp chọc hút ối, nuôi cấy tế bào ối, lập karyotyp bằng kỹ thuật nhuộm Giêmsa thông thường, nhuộm băng G đã phát hiện những thai có bất thường về số lượng, cấu trúc NST
i Đặt vấn đề
Dị tật bẩm sinh là một trong những bất
thường hay gặp ở thai nhi và trẻ sơ sinh
Người ta đã thấy có 3% trẻ sinh ra bị dị tật
bẩm sinh từ những bất thường nhỏ tới những
bất thường gây chết thai [6] Trong số đó có
các bất thường về nhiễm sắc thể đặc biệt các
bất thường lệch bội như hội chứng Down
(trisomi 21) gặp với tần suất 1/600 trẻ sơ sinh
sống [1] Hội chứng Down luôn liên quan đến
chậm trí tuệ với mức độ chậm có thể trong
phạm vi từ trung bình tới trầm trọng Người
mắc hội chứng Down có thể sống tới 50 tuổi
Những bất thường khác cũng liên quan với đột
biến lệch bội nhiễm sắc thể (NST) là trisomi
18, trisomi 13; 47,XXY; Trisomi 18, trisomi
13 hầu hết gây chết thai hoặc chỉ sống thêm
được một thời gian ngắn sau khi sinh Có
khoảng 10% những trẻ trisomi 18 đã sống
qua 1 năm hoặc thậm chí tới 10 năm [7]
Có con bị dị tật là một gánh nặng về mặt tâm lý cũng như tài chính cho gia đình, gánh nặng cho sự phục vụ y tế của xã hội
Việc điều trị cho những bệnh nhân bị dị tật bẩm sinh còn gặp rất nhiều khó khăn Để góp phần làm giảm tần suất sinh con bị dị tật bẩm sinh, nâng cao chất lượng sinh sản cho cộng
đồng, chúng tôi tiến hành đề tài: “Chẩn đoán xác
định một số dị tật thai nhi bằng phân tích nhiễm
sắc thể tế bào ối nuôi cấy” với hai mục tiêu:
- Phân tích NST ở tế bào ối nuôi cấy để chẩn đoán dị tật thai nhi liên quan đến bất thường NST
- Đối chiếu kết quả phát hiện của siêu âm, của test sàng lọc trong huyết thanh mẹ với kết quả phân tích nhiễm sắc thể ở tế bào ối nuôi cấy
ii Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 2Gồm 40 thai phụ có một trong các yếu tố
tăng nguy cơ sinh con bất thường NST:
+ Tuổi mẹ > 35
+ Tiến sử gia đình đã có con bất thường
NST, bố hoặc mẹ mang NST chuyển đoạn
+ Có kết quả của test sàng lọc dương tính
liên quan đến bất thường NST
+ Có hình ảnh siêu âm thai bất thường có
thể liên quan đến bất thường NST như dày da
gáy, thoát vị rốn, hẹp ruột, bất thường tim,
ngắn xương chi
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Nuôi cấy tế bào ối thu hoạch cụm NST
kỳ giữa ở những thai phụ có một trong các yếu
tố tăng nguy cơ sinh con bất thường NST
Để tiến hành nuôi cấy tế bào ối chúng tôi
làm theo các bước sau:
+ Chọc hút dịch ối
Tế bào trong dịch ối có nguồn gốc từ thai
Phân tích NST từ tế bào dịch ối nuôi cấy được
xem như là phương pháp thuận tiện nhất, tin
cậy cho chẩn đoán trước sinh Chọc hút ối
được tiến hành từ tuần thai 14 dưới sự hướng
dẫn của siêu âm và phải đảm bảo nguyên tắc
vô trùng Lượng dịch ối thường được lấy từ 15-
20 ml và sẽ được chia đều vào 2 lọ nuôi cấy
+ Nuôi cấy tế bào dịch ối
Phương pháp nuôi cấy tế bào ối được tiến
hành theo phương pháp của D.E Rooney
1992 [5] có cải tiến Gồm các bước:
Tế bào dịch ối được nuôi cấy trong môi
trường AmnioMax của hãng Gibco Nuôi cấy
theo hệ thống cấy hở, sử dụng tủ ấm 37 0C với
5% CO2 và 95% không khí cùng với nguồn ẩm
Bình nuôi cấy không được đụng chạm vào ít
nhất là 5 ngày sau đó có thể kiểm tra sự phát
triển của tế bào qua kính hiển vi soi ngược
Thay toàn bộ môi trường lần đầu tiên sau
5- 8 ngày nuôi cấy Tiếp theo thay môi trường
hoàn toàn thực hiện 2 lần trong 1 tuần cho
đến lúc thu hoạch tế bào
ở lần thay môi trường đầu tiên thay vì loại
bỏ dịch nổi thì có thể sử dụng dịch nổi đó (có chứa những tế bào không bám dính) cấy vào một lọ cấy mới Tế bào có thể phát triển sau một vài ngày
+ Thu hoạch
khi thấy hình ảnh tế bào đang phân chia tốt (có nhiều tế bào hình tròn) thì tiến hành thu hoạch
Các bước cơ bản của thu hoạch:
- Làm tế bào dừng ở kỳ giữa bằng colcemid
- Làm bong tế bào bằng dung dịch trypsin 0.25% (1:250)
- Phá vỡ màng tế bào bằng dung dịch nhược trương KCl 0,56%
- Cố định tế bào bằng dung dịch carnoy
- Làm tiêu bản nhỏ giọt trên phiến kính lạnh Mỗi mẫu cấy làm 10 tiêu bản
Tiêu bản NST được nhuộm bằng hai phương pháp: Phương pháp nhuộm Giêmsa thông thường và phương pháp nhuộm băng G (Băng trypsin)
2.2 Phân tích NST ở tế bào ối nuôi cấy
Nhiễm sắc thể được phân tích theo các tiêu chuẩn đánh giá của hội nghị quốc tế về di truyền người: ISCN (1995) Tiêu bản NST
được phân tích trên kính hiển vi có độ phóng
đại x 1000 lần
Mỗi mẫu xét nghiệm được đánh giá 100 cụm NST kỳ giữa, chụp ảnh 3 cụm NST, lập karyotyp theo đúng quy ước quốc tế
2.3 Đối chiếu kết quả của test sàng lọc với kết quả xét nghiệm NST ở tế bào ối nuôi cấy
2.4 Đối chiếu kết quả của siêu âm thai với kết quả xét nghiệm NST ở tế bào ối nuôi cấy
Trang 37
2.5 Theo dõi lâm sàng sơ sinh, đối
chiếu kết quả phân tích NST của tế bào ối
nuôi cấy
ii Kết quả
1 Số mẫu và kết quả nuôi cấy tế bào ối
- Tiến hành nuôi cấy 40 mẫu ối, trong đó
đánh giá được 31 mẫu, 2 mẫu bị nhiễm trùng,
7 mẫu tế bào không mọc Tỷ lệ thành công của nuôi cấy là 31/38 = 81,58%
Bảng 1: Phân bố tuổi mẹ, tuổi thai để chọc hút ối và thời gian có kết quả phân tích NST
Nhận xét: - Thời gian để tiến hành chọc hút
ối thường bắt đầu từ tuần thai thứ 14 trở đi
- Thời gian trung bình cho 1 mẫu nuôi cấy
từ 10 đến 18 ngày để có thể thu hoạch được
tế bào Như vậy có thể trả lời kết quả di truyền
sau 2 đến 3 tuần kể từ ngày bắt đầu nuôi cấy
- Nuôi cấy theo phương pháp cấy hở, sử
dụng tủ ấm với 5% CO2, 95% không khí, có hệ
thống làm ẩm phù hợp cho nuôi cấy tế bào ối
- Môi trường Amnio Max phù hợp cho nuôi
cấy tế bào ối
2 Đối chiếu kết quả test sàng lọc với
kết quả phân tích NST ở tế bào ối nuôi cấy
Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng
như của Talbot (2003) về đánh giá giá trị của test
sàng lọc trong huyết thanh mẹ, những test có giá
trị nằm trong ngưỡng sau được coi là test sàng lọc dương tính để tiến hành phân tích di truyền tế bào qua nuôi cấy tế bào ối
- Nồng độ AFP < 0,7 MoM hoặc > 2 MoM
- Nồng độ β hCG < 0,7 MoM hoặc > 2MoM (MoM là bội số so với giá trị trung bình)
Trong 31 test sàng lọc trong huyết thanh
mẹ thì có 12 test sàng lọc dương tính trong số
đó có 4 trường hợp thai có bất thường NST, còn trong 19 trường hợp với kết quả của test sàng lọc âm tính thì có 1 trường hợp thai có bất thường NST
Bảng 2: So sánh kết quả test sàng lọc với kết quả di truyền tế bào
1 ( Đa bội 33%)
Bảng 3: Đối chiếu kết quả của test sàng lọc với kết quả nuôi cấy tế bào ối
Trang 4Từ kết quả ở bảng 1, 2 chúng tôi có một số
nhận xét sau:
- Tỷ lệ phát hiện thai bất thường NST : 4/5
= 80%, tỷ lệ dương tính giả: 8/ 26 = 30,77 %
- Ba bất thường NST tìm thấy ở thai có
nồng độ AFP thấp và nồng độ βhCG cao hơn
so với ngưỡng chuẩn
- Karyotyp 45, X tìm thấy ở thai có nồng độ
AFP trong huyết thanh mẹ 20,9 MoM, βhCG ở
ngưỡng bình thường
- Một thai trisomi 18 có kết quả của test
sàng lọc ở ngưỡng bình thường
- Có 3 trường hợp thai vô sọ chỉ thấy tăng
đơn độc nồng độ AFP > 2 MoM
+ Như vậy những rối loạn NST ở tế bào ối nuôi cấy hầu như liên quan đến bất thường của nồng độ AFP, βhCG trong huyết thanh của máu mẹ
> 2MoM là một dấu hiệu chỉ điểm tốt đối với những thai có hội chứng Down
độc > 2 MoM thì thường nghĩ tới những trường hợp của thai có thoát dịch não tuỷ (như thai vô sọ, thai bị nứt đốt sống hở ) và thường không tìm thấy (có thể bất thường NST của bộ máy di truyền) ở mức độ tế bào
3 Đối chiếu kết quả siêu âm với phân tích NST tế bào ối
Bảng 4: Đối chiếu kết quả phân tích di truyền tế bào với hình ảnh siêu âm thai
Kết quả di truyền tế bào
Dày da gáy 7mm
Dày da gáy 6mm
Dày da gáy 8mm
1
1
1 Karyotyp: 47, XY, +21
1 Karyotyp khảm với 3 dòng tế bào:
- 47, XY, +21/ 46, XY/ đa bội (tỷ lệ 55%/40%/5%)
Đa dị tật có
- Thoát vị rốn
- Nang nước não thất
- Bất thường tim
Nang nước ở gáy,
ngắn xương chi
- 46, XX / đa bội (tỷ lệ 65% / 35%) Thoát vị
- Thoát vị cơ hoành
- Thoát vị rốn
2
1
1 (46,XY)
1 (46, XX)
1 Karyotyp khảm có 2 dòng tế bào:
- 46, XX / đa bội (tỷ lệ 81% /19%)
Dị dạng xương chi
- Ngắn xương đùi
- Xoắn vặn xương cẳng tay
2 (thai đôi,
1 buồng ối)
2 (46, XY)
2 (46, XX)
1 (46, XX)
Trang 59
Nhận xét:
Trong 21 thai có hình ảnh siêu âm bất
thường, phát hiện 6 trường hợp có rối loạn NST
ở tế bào ối nuôi cấy Tỷ lệ phát hiện 6/ 6 =
100% Tỷ lệ dương tính giả 15/ 34 = 44,11%
- Những dấu hiệu siêu âm thai bất thường như
tăng chiều dày da gáy, thoát vị rốn, dị tật tim,
thoát vị cơ hoành, ngắn xương chi, phù thai nhi
có thể là những dấu hiệu chỉ điểm tốt để phát
hiện thai có rối loạn NST Đặc biệt là các bất
thường về chiều dày da gáy liên quan đến các
hội chứng về dị bội (Down, Edward, Turner)
Chiều dày da gáy ≥ 6mm (đo ở thai 3 tháng giữa) là một dấu hiệu chỉ điểm tốt đối với thai có hội chứng Down
+ 4 trường hợp thai vô sọ, 3 trường hợp thai não úng thuỷ thì không thấy có bất thường về NST
4 Đối chiếu kết quả test sàng lọc, siêu
âm thai với kết quả phân tích NST tế bào ối nuôi cấy
Bảng 5 Đối chiếu kết quả của test sàng lọc và siêu âm với kết quả phân tích NST
(-) Kết quả test sàng lọc hoặc kết quả siêu
âm không có bất thường
(+) Kết quả test sàng lọc hoặc kết quả siêu
âm có bất thường
Nhận xét
hội chứng Down, 1 hội chứng Turner) đều có
bất thường ở test sàng lọc, hình ảnh siêu âm
thai và đều có rối loạn NST
- 4 trường hợp còn lại chỉ có bất thường
hoặc trong test sàng lọc hoặc hình ảnh siêu
âm thai
Như vậy những bất thường NST của thai
có thể có đồng thời những bất thường trong
kết quả sàng lọc và bất thường trong hình ảnh
siêu âm thai, hoặc chỉ có bất thường trong
test sàng lọc hoặc chỉ có những bất thường
thai qua hình ảnh siêu âm Nên trước khi tiến
hành chọc hút, nuôi cấy tế bào ối thì nên tiến
hành định lượng AFP, βhCG trong huyết
thanh mẹ, siêu âm thai
iii Bàn luận
1 Đánh giá về thời gian, phương pháp, môi trường nuôi cấy tế bào thai
Với tỷ lệ nuôi cấy ối thành công 31/38 = 81,58% ( trừ 2 trường hợp mẫu bị nhiễm trùng)
- Thời gian trung bình cho 1 mẫu nuôi cấy
từ 10-18 ngày và như vậy trả lời kết quả phân tích NST sau khoảng 2- 3 tuần
- Nuôi cấy theo phương pháp cấy hở, sử
hệ thống làm ẩm
- Môi trường AmnioMax thích hợp cho nuôi cấy tế bào ối
Những nhận xét của chúng tôi cũng phù hợp với quy trình nuôi cấy tế bào thai của D.E.Rooney cs, 1992 [ 5]
2 Đối chiếu kết quả của test sàng lọc với kết quả di truyền tế bào
Trang 6Từ kết quả ở bảng 2, 3 chúng tôi thấy
+ Có 4 trường hợp có rối loạn NST liên
quan đến bất thường của kết quả test sàng
lọc dương tính và 1 trường hợp có kết quả của
test sàng lọc âm tính Đó là:
- 1 thai có hội chứng Down với công thức
karyotyp 47, XY, +21 có nồng độ AFP = 0,64
MoM, βhCG = 4,2 MoM trong huyết thanh mẹ
Theo Crandall và cộng sự, 1993 khi nồng độ
AFP ≤0,74 MoM, βhCG ≥ 1,73 MoM thì nên
nghĩ đến thai bị hội chứng Down, nên tiến
hành phân tích di truyền tế bào để chẩn đoán
xác định cho thai Còn theo Talbot và cộng
sự, 2003 thì những thai có hội chứng Down có
kết quả test sàng lọc AFP ≤ 0,75 MoM, βhCG
≥ 2,16 MoM trong huyết thanh mẹ
Như vậy khi nồng độ AFP ≤ 0,7 MoM,
βhCG ≥ 2 MoM trong huyết thanh mẹ thì nên
tiến hành chọc ối để phân tích NST giúp cho
chẩn đoán xác định
- Với trường hợp thai có hội chứng Turner
(45,X) chỉ có tăng nồng độ AFP đơn độc, gấp
khoảng 20 lần so với ngưỡng bình thường
- Còn trường hợp thai với kết quả di
truyền có hai dòng tế bào (1 dòng tế bào bình
thường, 1 dòng tế bào đa bội) có nồng độ
AFP = 0,52 MoM, βhCG =1,64 MoM, thai này
có thoát vị cơ hoành Như vậy có lẽ những bất
thường thai dẫn đến bất thường trong test
sàng lọc cũng mà nguyên nhân có thể do bất
thường di truyền tạo ra
- Với trường hợp phân tích kết quả
karyotyp có rối loạn cụm NST với hình ảnh
NST nhoè, nát cụm có nồng độ AFP = 0,48
MoM, βhCG =1,64 MoM, thai phụ này bị cúm
7 ngày, ngay ở tháng mang thai đầu tiên Có
lẽ những bà mẹ bị nhiễm virut ngay ở những
tháng đầu thai nghén cũng có thể dẫn đến
những bất thường di truyền cho thai nhi
- 1 trường hợp với kết quả của test sàng
lọc âm tính đó là trường hợp thai trisomi 18
(47,XY, +18), có nồng độ AFP = 0,86 MoM,
βhCG trong ngưỡng bình thường Theo Chris
Meier và cộng sự, 2003 [3] thì nồng độ AFP ≤
MoM thì có thể phát hiện tới 60% những thai
trisomi 18 với tỷ lệ dương tính giả 0,4 %
+ Như vậy trong nuôi cấy tế bào ối có thể phát hiện được bất thường di truyền tế bào ở những trường hợp mà test sàng lọc gợi ý đến những bất thường liên quan đến rối loạn NST
3 Đối chiếu kết quả siêu âm với kết quả phân tích di truyền từ tế bào ối nuôi cấy
Từ kết quả ở bảng 4 chúng tôi thấy:
Trong tổng số 21 mẫu nuôi cấy từ những thai có hình ảnh siêu âm bất thường thì có 6 trường hợp thai có rối loạn NST
+ Ba trường hợp có hình ảnh siêu âm da gáy dày 7mm, 6mm, 8 mm tương ứng với thai tuần
15, 22 và 33 Trong đó có 2 trường hợp thai có bất thường NST (trisomi 21- Hội chứng Down) ở thai có chiều dày da gáy 7mm và 6mm
Như vậy với độ dày da gáy ≥ 6 mm trong nghiên cứu này tỷ lệ phát hiện bất thường di truyền là 2/3 = 66.67% Kết quả siêu âm của chúng tôi phù hợp với kết quả lâm sàng và cũng phù hợp với nhận định của Po-Jen Cheng và cs, 2003 [11], cho rằng chiều dày
da gáy ≥ 6 mm liên quan với những bất thường di truyền tế bào của thai
Kết quả siêu âm đã phát hiện hai trường hợp thai có dày da gáy 3mm và 3,5 mm tương ứng với thai 15, 19 tuần, kết quả di truyền tế bào cũng như sơ sinh đều bình thường Benacerraf và cộng sự, 1987b [2] trong nghiên cứu đã chứng minh rằng chiều dày da gáy ≤ 5 mm đo ở tuần thai từ 15 – 20 là ở ngưỡng của những thai bình thường, nhận xét này cũng giống với nhận xét của Borrel, et al,
1996, Po- Jen Cheng và cộng sự, 2003 [11] Như vậy với thai có chiều dày da gáy ≤ 5mm
ở 3 tháng giữa thì có thể không phát hiện
được những bất thường NST
Như vậy với chiều dày da gáy > 5mm ở 3 tháng giữa của thai thì nên tiến hành xét nghiệm
di truyền để xác định rõ tình trạng của thai
- Một trường hợp thai có hình ảnh nang nước ở gáy (cystic hygroma) và ngắn xương chi, kết quả phân tích NST với công thức karyotyp 45,X, điều này cũng phù hợp với nhận xét của Oded, 1999 [10]
- Một thai có kết quả di truyền tế bào với công thức karyotyp 47, XY, +18 có hình ảnh
Trang 711
bất thường khi siêu âm là thoát vị rốn, nang
nước não thất, dị tật tim Kết quả phân tích di
truyền của chúng tôi phù hợp với những bất
thường thai mà siêu âm đã phát hiện và cũng
phù hợp với nhận xét của Snijder RJM và
cộng sự, 1995 [12], Nancy C, 1997 [8] với
những thai trisomi 18
- Hai thai với kết quả phân tích di truyền
tế bào có tỷ lệ tế bào đa bội là 33% và 19%
có hình ảnh tương ứng khi siêu âm là thoát vị
cơ hoành, phù toàn thai Theo Oded Inbar,
1999 [10] khi thai có thoát vị cơ hoành mà
hình ảnh siêu âm có dạ dày, các tổ chức khác
của bụng như gan, ruột nằm ở ngực, tim
nằm ở vị trí bất thường thì có liên quan với
bất thường NST
- Như vậy với những dấu hiệu chỉ điểm như
tăng độ dày da gáy, nang nước ở gáy, thoát vị
rốn, dị tật tim hướng cho chúng ta nghĩ đến
những bất thường thai liên quan với bất thường
di truyền tế bào đặc biệt là những rối loạn về số
lượng nhiễm sắc thể như trong hội chứng Down
(trisomi 21), hội chứng Edward (trisomi 18), hội
chứng Turner (monosomi X)
4 Đối chiếu kết quả của test sàng lọc, siêu
âm với kết quả phân tích di truyền tế bào
Bảng 4 chỉ ra có 2 trường hợp có sự phù
hợp giữa, test sàng lọc, siêu âm với kết quả di
truyền tế bào còn 5 trường hợp thì chỉ có bất
thường hoặc ở test sàng lọc hoặc ở hình ảnh
siêu âm thai
Như vậy nên có sự kết hợp giữa kết quả của
test sàng lọc trong huyết thanh mẹ, siêu âm để
tăng tỷ lệ xác định được nguyên nhân gây bất
thường thai giúp cho tư vấn di truyền chính xác
hơn Theo Spencer và cộng sự, 2003 [13] trong
chẩn đoán trisomi 21 nếu kết hợp giữa chiều
dày da gáy, kết quả của test sàng lọc cho
trisomi 21 thì tỷ lệ phát hiện tới 90 % trisomi 21,
còn theo Natasha Tul và cộng sự, 1999 [9] nếu
kết hợp giữa chiều dày da gáy, kết quả của test
sàng lọc cho trisomi 18 thì tỷ lệ phát hiện trisomi
18 có thể tới 89% Nhận xét của chúng tôi cũng
phù hợp với nhận xét của các tác giả trên
iv Kết luận
1 Tiến trình nuôi cấy tế bào ối:
Công trình nghiên cứu này là một trong một số công trình đầu tiên ở Việt Nam nuôi cấy tế bào ối để chẩn đoán thai bị dị tật liên quan với bất thường NST với tỷ lệ thành công 81,58% Về tiến trình kỹ thuật chúng tôi thấy:
- áp dụng phương pháp nuôi cấy hở có sử
hệ thống làm ẩm là thích hợp cho nuôi cấy tế
bào thai dài ngày
- Môi trường thích hợp cho nuôi cấy tế bào
ối là môi trường AmnioMax
- Thời gian trung bình từ khi bắt đầu nuôi cấy đến khi trả lời kết quả phân tích NST là từ 2- 3 tuần
Như vậy có thể áp dụng quy trình cấy ối này để chẩn đoán xác định một số thai bị dị tật bẩm sinh, đặc biệt là các thai có bất thường NST
2 Đối chiếu kết quả của test sàng lọc với kết quả xét nghiệm NST ở tế bào ối nuôi cấy
Những thai có bất thường di truyền ở mức
độ tế bào thấy có bất thường trong test sàng lọc (định lượng AFP, βhCG trong huyết thanh mẹ) vì vậy trước khi tiến hành chọc hút ối nên làm các test sàng lọc trước sinh để hạn chế những rủi ro với thai cũng như với thai phụ vì
tỷ lệ sẩy thai sau chọc ối là từ 0,5%- 1%
3 Đối chiếu kết quả của siêu âm với kết quả xét nghiệm NST ở tế bào ối nuôi cấy
+ Có sự phù hợp giữa hình ảnh lâm sàng
và kết quả phân tích NST trong tế bào ối nuôi cấy: 6 trường hợp
- Những dấu hiệu chỉ điểm của hình ảnh siêu
âm thai có thể liên quan đến bất thường NST đó
là tăng độ dày da gáy, thoát vị rốn, nang nước ở gáy, ngắn xương chi, thoát vị cơ hoành
- Tăng độ dày da gáy có thể là một trong những dấu hiệu quan trọng liên quan đến những bất thường NST theo kiểu lệch bội (trisomi 21, trisomi 18, hội chứng Turner)
Nên có sự phối hợp giữa sàng lọc trong huyết
thanh mẹ, siêu âm thai với nuôi cấy tế bào thai
để phát hiện những thai có bất thường NST
Trang 8Đề tài được thực hiện tại bộ môn Y Sinh học – Di truyền trường Đại học Y Hà Nội
Đề tài được thực hiện với sự hỗ trợ của đề tài
cấp nhà nước “ Tư vấn di truyền”
Tài liệu tham khảo
1 Beaudet A.L (1998) Genetic and
disease In: Harrison,s Principles of Internal
medicine, 365-395
2 Benacerraf BR, et al (1987) Sonographic
indentification of second- trimester fetuses with
1371-1376
3 Chris Meier, Tianhua Huang, et al (2003)
Accuracy of trisomy 18 screening using the
second- trimester triple test Prenat Diagn; 23:
443-446
4 Crandall B.F, et al (1993) Maternal
serum screening for α-fetoprotein,
unconjugated estriol, and human chorionic
gonadotropin between 11 and 15 weeks of
pregnancy to detect fetal chromosome
abnormalities Am J Obstet Gynecol
168:1864-1868
5 D E Rooney et al (1992) Prenatal
diagnosis and tissue culture In Human
Cytogenetics, Volume II; 3: 55-88
6 Donna Jeane et al (1997) Grief
Counseling in Prenatal Diagnosis &
Reproductive genetics 70-75
7 Jennifer H.S, Jeffrey A Kuller (1997)
Increased Maternal Age and Prior Aneuploid
Conception In Prenatal diagnosis &
reproductive genetics; 4,23- 27
8 Nancy C Chescheir (1997) Sonographic Identification of Fetal Aneuploidy Prenatal diagnosis & reproductive genetics;15:108-114
9 Natasha Tul, et al (1999) Screening for trisomy 18 by Fetal nuchal translucency and maternal serum free β-hCG and PAPP-A at
10-14 weeks of gestation Prenat Diagn;
19:1305-1042
10 Oded Inbar, Reuven Achiron and Richard Jaffe (1999) Abnormalities of fetal neck and thorax Tex book Fetal ultrasound; 9: 129- 137
11 Po-Jen Cheng et al (2003) First – trimester nuchal translucency measurement and echocardiography at 16 to18 weeks of gestation in prenatal detection for trisomy 18 Prenat Diagn; 23:248-251
12 Snijders RJM, Nicolaides KH (1995) Ultrasound Markers for fetal chromosome defects London: Parthenon Publishing
13 Spencer K et al (2003) Screening for chromosomal abnormalities in the first trimester using ultrasound and maternal serum biochemistry in a one stop clinic: a review of three years prospective experience Br J Obstet Gynecol
14 Talbot J A, et al (2003) Detection of maternal serum hCG glycoform variants in the second trimester of pregnancies affected by Down syndrome using a lectin immunoassay Prenat Diagn; 23: 1-5
Summary
Diagnosis of fetal errors by analyzing chromosome of
cultured amniocytes
In this study we report the result of 38 amniocenteses performed at ≥ 14 weeks of gestation and culture success of amniocytes Culture seccess is 31/38 ( 81,85%) Use an open system requires 5%
CO2 with humidify, the mean culture time is 2-3 weeks AmnioMax medium is a suitable medium for culturing of amniocytes We found seven fetus with abnormal chromosome (7/38)
To determine abnormal fetuses, should combine maternal serum screening (AFP, βhCG) and fetal ultrasound with culture amniocytes, analysis chromosome