1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát hiện Virus viêm gan B trong huyết thanh người cho máu bằn kỹ thuật PCR pptx

5 708 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 167,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát hiện virus viêm gan b trong huyết thanh người cho máu bằng kỹ thuật pcr Văn Đình Hoa, Võ Văn Huy Đại học Y Hà Nội Sàng lọc máu, các sản phẩm máu tốt là góp phần hạ thấp tỷ lệ các

Trang 1

Phát hiện virus viêm gan b trong huyết thanh

người cho máu bằng kỹ thuật pcr

Văn Đình Hoa, Võ Văn Huy

Đại học Y Hà Nội

Sàng lọc máu, các sản phẩm máu tốt là góp phần hạ thấp tỷ lệ các bệnh lây nhiễm qua

đường máu: HIV, HBV, HCV ở nhiều nước tiên tiến, các kỹ thuật sinh học phân tử đã trở thành xét nghiệm sàng lọc thường quy đối với các cơ sở sử dụng máu và các sản phẩm máu

Với kỹ thuật PCR, chúng tôi phát hiện được 1 trong số 73 trường hợp (HBsAg(-)) đến khám sức khoẻ cho máu tại Viện Huyết học Truyền máu TW có DNA HBV(+) Số lượng còn ít nhưng phần nào nói lên giá trị của kỹ thuật PCR - một công cụ góp phần nâng cao

sự an toàn truyền máu

i Đặt vấn đề

Viêm gan do virus là một trong những

bệnh gây lây nhiễm cao và nguy hiểm cho

sức khoẻ các cộng đồng dân cư trên toàn

thế giới Có nhiều loại virus gây viêm gan

đã được phát hiện: HAV, HBV, HCV, HDV,

HEV, HGV Tỷ lệ mang HBsAg(+) của các

cộng đồng thuộc các châu lục, các vùng

địa lý rất khác nhau: Các nước châu Âu có

tỷ lệ thấp nhất, trung bình ở các nước châu

Mỹ, cao ở một số nước châu á, châu Phi,

rất cao ở thổ dân úc [2] Sự lây nhiễm

HBV, HCV từ người này sang người khác,

chủ yếu qua đường máu Những người bị

nhiễm HBV có thể bị viêm gan cấp, có thể

bị viêm gan mạn dẫn đến hậu hoạ xơ gan,

ung thư gan Những người bị viêm gan

mạn có nguy cơ bị ung thư gan tiên phát

rất cao, gấp 200 lần những người bình

thường [2,3] Nước ta nằm trong khu vực

lưu hành dịch địa phương cao, tỷ lệ người

mang HBsAg(+): 10-20% tuỳ theo nghề

nghiệp, đời sống sinh hoạt [3]

Cũng như các virus khác, HBV có nhiều

loại kháng nguyên khác nhau

Kháng nguyên bề mặt (HBsAg): là loại kháng nguyên được tổng hợp nhiều nhất trong số các kháng nguyên của HBV, xuất hiện sớm ở trong máu người bị nhiễm (có thể sau 6 ngày bị nhiễm), tăng dần và biến mất sau 4-8 tuần lễ từ khi có triệu chứng lâm sàng Nếu sau 6 tháng mà HBsAg vẫn dương tính thì có nguy cơ bị nhiễm HBV mạn tính Đa số các kỹ thuật xét nghiệm HBsAg hiện nay thường chỉ phát hiện được

từ tuần lễ thứ 4 đến tuần lễ thứ 8 [2]

Kháng nguyên lõi (HBcAg) có trong nhân tế bào gan bị nhiễm virus, kháng nguyên này không xuất hiện trong máu Kháng nguyên vỏ (HBeAg) xuất hiện sau HBsAg Vừa có HBsAg (+) vừa có HBeAg (+) là các đối tượng chủ yếu gây lây nhiễm mạnh nhất vì HBeAg là dấu hiệu của virus đang nhân lên

Trong các đường lây nhiễm HBV thì lây nhiễm qua truyền máu và các sản phẩm của máu đã và đang được cộng đồng hết sức quan tâm bởi lẽ nhu cầu về máu và sản phẩm của máu vừa ngày càng tăng

Trang 2

cao trong điều trị vừa là môi trường rất dễ

bị nhiễm virus An toàn truyền máu càng

cao thì phòng tránh các bệnh lây nhiễm

nói chung và lây nhiễm HBV nói riêng

càng hiệu quả [4,8]

Các kỹ thuật xét nghiệm tiên tiến có độ

chính xác cao như ELISA, RIA chỉ phát

hiện được các kháng nguyên, kháng thể

chống HBV trong máu của người nhiễm

Sau khi xâm nhập, HBV phải có một thời

gian sinh sôi phát triển, phải có một

khoảng thời gian nhất định thì lượng kháng

nguyên phóng thích vào máu mới đủ để

các kỹ thuật tiên tiến ở trên phát hiện được

Mặt khác sau khi bị nhiễm cơ thể cũng

phải có một thời gian mới đáp ứng tạo

được một lượng kháng thể nhất định Giai

đoạn chưa có đáp ứng miễn dịch thường

kéo dài từ 2-26 tuần (gọi là giai đoạn cửa

sổ) Trong giai đoạn chưa có triệu chứng

lâm sàng, chưa có đáp ứng miễn dịch, việc

phát hiện sự có mặt của HBV rất khó khăn

Kỹ thuật PCR (polymerase chain

reaction) của Karry Mullis là một phát kiến

quan trọng của sinh học phân tử giúp phát

hiện các genom của các virus, có nghĩa là

phát hiện được sự có mặt của chúng kể cả

khi chúng không hoặc chưa gây hại gì

Mục tiêu:

- Dùng kỹ thuật PCR để phát hiện

genom virus viêm gan B trong huyết thanh

- Phát hiện DNA HBV trong huyết thanh của các đối tượng cho máu

ii Đối tượng, phương pháp nghiên cứu

1 Đối tượng nghiên cứu:

- Hoàn chỉnh kỹ thuật: 30 mẫu huyết thanh có HBsAg(+) và 30 mẫu huyết thanh

có HBsAg(-) (kỹ thuật ELISA)

- Đối tượng nghiên cứu: 73 mẫu huyết thanh có HBsAg(-) của các đối tượng cho máu (HIV-, HBV-, HCV-), trong số 73 mẫu huyết thanh này có 52 mẫu của các đối tượng cho máu nhân đạo, 21 mẫu của các

đối tượng đến khám sức khoẻ để cho máu tại Viện Huyết học Truyền máu trung ương

2 Phương pháp, kỹ thuật nghiên cứu:

- Lấy máu tách huyết thanh

- Chiết tách DNA từ huyết thanh bằng phương pháp Ethanol/ Chloroform và Boom

- Tiến hành phản ứng PCR trên máy của hãng Perkin Elmer với Primer của hãng Takara Nhật Bản có trình tự nucleotid:

C1 sense, 21 mer 5' CCT CCA AGT TGT GCC TTG GG3' (nt 1741-1760) C2 antisense, 21 mer

3' CGT GAG TCC GTT CGA TAA GA5' (nt 1932-1951)

- Kiểm tra kết quả PCR bằng điện di

trên thạch Agarose 1,5% có Ethilium

bromide Marker 100, 200, 300, 400 và

500 nm

iii Kết quả

Tất cả các mẫu huyết thanh đều tuần tự tiến hành theo các bước: chiết tách DNA

Trang 3

pháp đo mật độ quang (OD) ở bước sóng

260nm, 280nm, tiến hành phản ứng PCR,

kiểm tra xác định PCR bằng điện di trên

thạch Agarose

1 Phát hiện DNA HBV ở 30 mẫu

huyết thanh có HBsAg(+)

Bảng 1: PCR phát hiện DNA trong

huyết thanh các đối tượng HBsAg(+)

PCR

n DNA HBV (+) DNA HBV (-)

Nhận xét: cả 30 trường hợp HBsAg(+)

đều phát hiện được DNA HBV

2 Phát hiện DNA HBV ở các mẫu

huyết thanh có HBsAg(-)

2.1 Kết quả phát hiện DNA HBV

Bảng 2: PCR phát hiện DNA trong huyết thanh các đối tượng có HBsAg(-)

PCR

n DNA HBV (+) DNA HBV (-)

30 1 29

Nhận xét: 30 mẫu huyết thanh này là của người đến khám sức khoẻ tại Viện Huyết học Truyền máu TW có HBsAg(-) với ELISA 01 trường hợp có DNA HBV (+) Trường hợp này được kiểm tra lần 2 vẫn cho kết quả DNA HBV (+) mặc dầu chưa

có biểu hiện gì về lâm sàng

2.2 Kết quả kiểm tra PCR bằng điện di trên thạnh Agarose

100 nm

200 nm

300 nm

400 nm

500 nm

A B 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 29 30 M

ảnh 1: Điện di kiểm tra DNA HBV

Chú thích: A: Mẫu chứng âm tính B: Mẫu chứng dương tính

Mẫu dương tính: 12

Mẫu âm tính: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23,

24, 25, 26, 27, 28, 29, 30

Mẫu M: Marker

Trang 4

3 Kết quả PCR phát hiện DNA của 73

mẫu huyết thanh nghiên cứu

Bảng 3: Kết quả PCR DNA HBV

DNA HBV

(-)

DNA HBV (+)

Tổng số

Nhận xét: Trong số 73 mẫu huyết thanh

HBsAg(-) với ELISA thì có 72 mẫu cho kết

quả DNA HBV (-), 1 trường hợp có DNA

HBV (+): 1/73 Trường hợp có DNA HBV

(+) là một trong số các đối tượng đến khám

sức khoẻ để cho máu Tất cả các trường

hợp đến hiến máu nhân đạo (52) đều cho

kết quả DNA HBV (-)

iv Bàn luận

PCR là một kỹ thuật sinh học phân tử

có độ chính xác cao để phát hiện genom

của virus HBV, nghĩa là phát hiện được sự

có mặt của virus ở người bị nhiễm mặc dầu

lúc đó chưa có các kháng nguyên hoặc

kháng thể chống lại HBV trong máu

[1,6,7] Một số nước tiên tiến trên thế giới

đã sử dụng kỹ thuật PCR thường quy trong

sàng lọc HIV, HBV, HCV như Đức, Mỹ,

Nhật, do đó họ đã hạ thấp được tỷ lệ viêm

gan do truyền máu một cách rõ rệt [9]

Các bệnh lây nhiễm qua máu và các

sản phẩm của máu đã được nhiều tác giả

nghiên cứu Công tác sàng lọc để đảm bảo

an toàn truyền máu luôn được đặt ra cho

ngành [4]

Hiện nay các trung tâm truyền máu của

nước ta đã tiến hành sàng lọc máu bằng

kỹ thuật ELISA, chỉ một vài cơ sở sử dụng

kỹ thuật PCR với tính chất nghiên cứu

Chúng tôi ứng dụng kỹ thuật PCR để phát

hiện DNA HBV ở những người cho máu đã

phát hiện được 1 trong 73 trường hợp

1/73 mẫu của các đối tượng đến khám sức khoẻ để cho máu nhưng cũng phần nào nói lên được vai trò của kỹ thuật PCR trong việc phát hiện HBV Có thể nói PCR là một công cụ góp phần tăng khả năng sàng lọc, hạ thấp thêm bệnh viêm gan do truyền máu Tuy nhiên, kỹ thuật PCR là kỹ thuật sinh học phân tử đòi hỏi trang thiết bị kỹ thuật cao nên giá thành còn đắt hơn so với ELISA

v Kết luận

- PCR là kỹ thuật có giá trị phát hiện

được sự có mặt của HBV trong thời kỳ mà cơ thể chưa có đáp ứng miễn dịch

- Đã phát hiện được một trường hợp có DNA HBV (+) trong 73 trường hợp của những người hiến máu nhân đạo và đến khám sức khỏe để cho máu có HBsAg(-)

Tài liệu tham khảo

1 Vũ Triệu An (1995) “Một kỹ thuật y sinh học hiện đại: phương pháp PCR” Thông tin Y học: tập 3, số 7: 10-12

2 Nguyễn Thị Kim Liên (2000) “ý nghĩa lâm sàng và tiên lượng viêm gan virus B dựa vào một số thông số miễn dịch” Luận

án Tiến sĩ Y học - Đại học Y Hà Nội

3 Nguyễn Thị Nga (1995) “Góp phần nghiên cứu tỷ lệ mang HBsAg trên một số nhóm người, mối liên quan với an toàn truyền máu và ung thư gan” Luận án Tiến

sĩ Y học - Đại học Y Hà Nội

4 Đỗ Trung Phấn (1995) “Cung cấp máu và an toàn truyền máu: hai nhiệm vụ khẩn thiết hiện nay” Y học Việt Nam: Số

9, 15-18

5 Carman-WF, Van-Deusen-FJ, Mimmis-LT (1997) “The prevalence of surface antigen variants of hepatitis B virus

Trang 5

in Papua New Guine, South Africa and

Sardinia”

6 Gomes-Sa, Yoshida-CF, Niel-C

(1996) “Detection of hepatitis B virus DNA

in hepatitis B surface antigen conditions”

Acta-Virol June, 40(3), 8-133

7 Huo-TI, et al (1996) “Polemerase

chain reaction analysis for viral nucleic

acids in acute sporadic hepatitis patients

negative for serum hepatitis B surface

antigen and antibodies to hepatitis C

virus” Chung-Hua-I-Hsueh-Tsa-Chih-Taipei December: 58(6): 379-384

8 Koerner-K, et al (1998) “Estimated risk of transmission of hepatitis C virus by blood transfusion” Vox Sang, 74: 213-216

9 Shottsted-V, et al (1997) “Routine PCR screening for HBV, HCV and HIV-I genome in a large blood donation services: experiences and initial results” Beitr-infusion-Tranfusionmed 34: 22-27

Summary

HBV Detection in serum of blood donors by PCR

Well-screening blood and blood products helps reduce the ratio of blood-transmitted diseases such as HIV, HBV, HCV, etc In developed countries, molecular biology techniques have become routine screening tests in laboratories using blood and blood products

Using PCR, we have found that one out of 73 cases (HBsAg(-)) having health checks and donating blood at the National Institute of Hematology and Blood Transfusion has DNA HBV(+) This number is small but it can still demonstrate the value of PCR, a tool contributing to enhance blood transfusion safety

Ngày đăng: 10/03/2014, 22:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: PCR phát hiện DNA trong huyết thanh các đối t−ợng có HBsAg(-)  - Phát hiện Virus viêm gan B trong huyết thanh người cho máu bằn kỹ thuật PCR pptx
Bảng 2 PCR phát hiện DNA trong huyết thanh các đối t−ợng có HBsAg(-) (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w