LỜI MỞ ĐẦU Tăng trưởng kinh tế là việc tăng sản lượng quốc gia và sản phẩm bình quân theo đầu người, là việc mở rộng khả năng kinh tế để sản xuất, tức là tăng GDP Gross Domestic Product
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
-*** -
TIỂU LUẬN KINH TẾ VĨ MÔ 2
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH SOLOW GIẢI THÍCH
XU HƯỚNG HỘI TỤ CÓ ĐIỀU KIỆN
VÀ KIỂM ĐỊNH Ở VIỆT NAM
Nhóm: 2 Lớp: KTE402.2 Khóa: 56
Giáo viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Hồng
Hà Nội, tháng 05 năm 2019
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 2 DANH MỤC BẢNG BIỂU, VIẾT TẮT 3 Danh mục hình vẽ 3 Danh mục bảng biểu 3 LỜI MỞ ĐẦU _ 4 CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH SOLOW VÀ XU HƯỚNG HỘI TỤ CÓ ĐIỀU KIỆN _ 5 1.1 Giới thiệu mô hình Solow _ 5 1.2 Xu hướng hội tụ có điều kiện 5
1.2.1 Các khái niệm cơ bản _ 5 1.2.2 Nội dung cơ bản của xu hướng hội tụ có điều kiện _ 6 1.2.3 Các điều kiện tác động đến hội tụ _ 7
1.3 Sử dụng mô hình Solow giải thích xu hướng hội tụ có điều kiện _ 8
1.3.1 Những giả định cơ bản của mô hình tăng trưởng Solow _ 8 1.3.2 Một số lý giải 8
CHƯƠNG 2 KIỂM ĐỊNH GIẢ THUYẾT HỘI TỤ CÓ ĐIỀU KIỆN CỦA GDP BÌNH QUÂN ĐẦU NGƯỜI GIỮA CÁC TỈNH THÀNH TẠI VIỆT NAM 12 2.1 Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu _ 12
2.1.1 Cơ sở lý thuyết 12 2.1.2 Tổng quan nghiên cứu _ 12
2.2 Phương pháp nghiên cứu 12 2.3 Kết quả nghiên cứu _ 13
2.3.1 Kiểm định sự tương quan không gian về GDP bình quân đầu người giữa các tỉnh thành 13 2.3.2 Kiểm định sự hội tụ có điều kiện khi bỏ qua sự tương quan không gian _ 14 2.3.3 Kiểm định sự hội tụ có điều kiện bằng hồi quy không gian 15
2.4 Kết luận 16 KẾT LUẬN 17 TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU, VIẾT TẮT
Danh mục hình vẽ
mô hình Solow
nước thuộc OECD vào năm 1960
Danh mục bảng biểu
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Tăng trưởng kinh tế là việc tăng sản lượng quốc gia và sản phẩm bình quân theo đầu người,
là việc mở rộng khả năng kinh tế để sản xuất, tức là tăng GDP ( Gross Domestic Product ) hoặc GNP ( Gross National Product ) của một nước ( ngày nay đã thay GNP bằng GNI là tổng thu nhập quốc gia )
Tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế luôn là vấn đề thu hút được sự quan tâm đối với mọi quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế phải dựa trên những nguồn lực nào, nền kinh tế có thể tăng trưởng đến đến đâu và liệu Việt Nam có thể bắt kịp với đà tăng trưởng của các nước phát triển trên thế giới
để dừng lại ở trạng thái cân bằng tốt nhất hay không luôn là những câu hỏi lớn cho các nhà kinh
tế học
Nhận thấy được các vấn đề này, nhóm chúng em đã quyết định chọn đề tài Ứng dụng mô hình Solow giải thích xu hướng hội tụ có điều kiện và kiểm định ở Việt Nam Để nghiên cứu
một cách có hệ thống từ lý thuyết đến thực tiễn, cần phải tham khảo nhiều mô hình tăng trưởng kinh tế Cho đến nay, trên thế giới có rất nhiều mô hình tăng trưởng kinh tế, như các mô hình tăng trưởng cổ điển, tân cổ điển, mô hình tăng trưởng hiện đại Nhưng trong bài tiểu luận này chúng
em chỉ đề cập đến mô hình tăng trưởng kinh tế của R.Solow vì sự phù hợp của phạm vi kiến thức, dưới góc độ đánh giá các nguồn lực và so sánh, đối chiếu vào hoàn cảnh cụ thể giữa các tỉnh thành
Do hạn chế về kiến thức cũng như thời gian nghiên cứu nên bài tiểu luận của chúng em không tránh khỏi những sai sót Chúng em rất hi vọng nhận được sự đánh giá và góp ý của cô để
có thể hoàn thành tốt nhất đề tài này Chúng em xin chân thành cảm ơn !
Trang 5CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH SOLOW VÀ XU HƯỚNG
HỘI TỤ CÓ ĐIỀU KIỆN 1.1 Giới thiệu mô hình Solow
Mô hình tăng trưởng kinh tế Solow (Solow economic growth model) là mô hình tăng trưởng ngoại sinh, một mô hình kinh tế về tăng trưởng kinh tế dài hạn được thiết lập dựa trên nền tảng và khuôn khổ của kinh tế học tân cổ điển Mô hình đã được phát triển độc lập bởi Robert Solow và Trevor Swan năm 1956 và đã thay thế mô hình hậu Keynesian Harrod-Domar với lý thuyết tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ tiết kiệm Bởi vì đặc điểm toán học đặc biệt hấp dẫn của nó, Solow-Swan được chứng minh là điểm khởi đầu thuận lợi cho các sự mở rộng tiếp sau đó
Solow đã được nhận giải Nobel về kinh tế năm 1987 nhờ vào sự đóng góp của ông
Mô hình tăng trưởng kinh tế Solow được đưa ra để giải thích sự tăng trưởng kinh tế dài hạn bằng cách nghiên cứu quá trình tích lũy vốn, lao động hoặc tăng trưởng dân số và sự gia tăng năng suất, thường được gọi là tiến bộ công nghệ Bản chất của nó là hàm tổng sản xuất tân cổ điển, thường là dưới dạng hàm Cobb-Douglas, cho phép mô hình liên kết được với kinh tế học vi mô
Thật vậy, mô hình Solow sử dụng một hàm sản xuất trong đó sản lượng là một hàm của tư bản và lao động, với điều kiện tư bản có thể thay thế cho lao động với mức độ hoàn hảo thay đổi
có lợi suất giảm dần Bởi vậy, nếu tư bản tăng so với lao động thì mức gia tăng sản lượng ngày càng trở nên nhỏ hơn Theo giả định như vậy về tỷ lệ sản lượng/tư bản thay đổi, thì khi khối lượng
tư bản của một nước tăng lên, quy luật lợi suất giảm dần sẽ phát huy tác dụng và tạo ra mức tăng ngày càng nhỏ của sản lượng Vì thế tăng trưởng kinh tế đòi hỏi phải đầu tư để mở rộng khối lượng
tư bản Đặc biệt, tiến bộ công nghệ (kỹ thuật, quy trình, phương pháp sản xuất mới và sản phẩm mới) đóng một vai trò quan trọng trong việc đối phó với quy luật lợi suất giảm dần của tư bản khi
khối lượng tư bản tăng lên
1.2 Xu hướng hội tụ có điều kiện
1.2.1 Các khái niệm cơ bản
1.2.1.1 Giả thuyết hội tụ
Giả thuyết hội tụ là một giả thuyết của các nhà kinh tế học về tốc độ tăng trưởng cho rằng
có một trạng thái cân bằng động duy nhất và cho dù nền kinh tế bắt đầu với mức tư bản trên đầu người bao nhiêu thì cũng sẽ hội tụ về điểm cân bằng động duy nhất đó, được biết đến sau công trình nghiên cứu nổi tiếng của Solow (1956)
Các nước nghèo có mức tư bản trên đầu người thấp sẽ tăng trưởng nhanh hơn cho đến khi đạt được tỷ lệ tăng sản lượng và tư bản ở trạng thái cân bằng động Các nước giàu được thừa hưởng mức tư bản trên đầu người cao sẽ tăng trưởng thấp hơn cho tới khi mức tư bản trên đầu người giảm đến trạng thái cân bằng động
Sự hội tụ kinh tế này sẽ giúp thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các địa phương trong cùng một quốc gia Theo đó, các địa phương sẽ có xu hướng hội tụ về một trạng thái cân bằng trong dài hạn
Tuy nhiên không phải nước nghèo nào cũng có thể đạt mức tăng trưởng cao, nếu thu nhập quá thấp, người dân sẽ phải tiêu dùng hết những gì mình làm ra và do vậy không có tiết kiệm để đầu tư nhằm duy trì mức tư bản trên mỗi lao động khi dân số tăng và rơi vào một cái bẫy nghèo đói Do đó trạng thái hội tụ có thể phụ thuộc vào đặc điểm của từng nền kinh tế, khi đó sự hội tụ diễn ra khi xét điều kiện theo các yếu tố như vốn, nguồn lao động của địa phương
Khi mức tư bản trên đầu người thấp thì không cần đầu tư theo chiều rộng nhằm trang bị máy móc, thiết bị cho những nhân công mới mà có thể đầu tư theo chiều sâu nghĩa là tăng lượng tư bản cho mỗi công nhân Khi mức tư bản trên đầu người đã cao thì vấn đề đầu tư theo chiều rộng hay
Trang 6chiều sâu đều cần phải tiết kiệm và đầu tư rất nhiều Chính vì thế các nước nghèo có thể tăng lượng
tư bản trên đầu người để đạt được mức tăng trưởng cao với tiết kiệm và đầu tư ít do chưa phải đầu
tư theo chiều rộng
Tăng trưởng kinh tế có vai trò rất quan trọng của tiến bộ công nghệ, chỉ có các nước giàu mới có thể đầu tư nguồn lực để nghiên cứu tạo ra những tiến bộ công nghệ Các nước nghèo không phải đầu tư để tạo ra tiến bộ công nghệ do vậy có thể dùng nguồn lực khan hiếm của mình đầu tư theo chiều sâu làm tăng số lượng tư bản trên mỗi lao động để có mức tăng trưởng kinh tế cao hơn các nước giàu Các nhà kinh tế học gọi hiện tượng này là hiệu ứng đuổi kịp
1.2.1.2 Hội tụ có điều kiện
Hội tụ là xu hướng các nước đang và kém phát triển có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh hơn để có thể bắt kịp với các nước phát triển Hội tụ có điều kiện là những điều kiện cụ thể của các nước làm tốc độ phát triển lại xúc tiến hơn
1.2.2 Nội dung cơ bản của xu hướng hội tụ có điều kiện
Mô hình Solow-Swan tăng cường với vốn con người dự đoán rằng mức thu nhập của các nước nghèo sẽ có xu hướng để bắt kịp với hoặc hội tụ hướng về mức thu nhập của các nước giàu nếu các nước nghèo có tỷ lệ tiết kiệm tương tự cho cả hai vốn vật chất và vốn con người như một phần sản lượng, một quá trình được gọi là hội tụ điều kiện Tuy nhiên, tỷ lệ tiết kiệm giữa các nước rất khác nhau Đặc biệt, kể từ khi chi tài chính đáng kể cho đầu tư trong trường học, tỷ lệ tiết kiệm cho nguồn vốn con người có nhiều khả năng khác nhau như là một hàm của các đặc điểm văn hóa
và tư tưởng ở mỗi nước
Hội tụ có điều kiện là một điều kiện cần nhưng không phải là điều kiện đủ để hội tụ tuyệt đối Giả thuyết về sự hội tụ tuyệt đối nói rằng về lâu dài, GDP trên mỗi lao động (hoặc bình quân đầu người) hội tụ đến cùng một con đường tăng trưởng ở tất cả các quốc gia Điều này ngụ ý rằng tất cả các quốc gia đều hội tụ cùng một mức thu nhập trên mỗi lao động (Sorensen và cộng sự, 2005) Ngoài ra, điều này có nghĩa là tất cả các quốc gia đều hội tụ cùng một tỷ lệ lao động vốn, sản lượng bình quân đầu người và tiêu dùng (k *, y *, c *) với tốc độ tăng trưởng bằng nhau g
Hình 1.1 Biểu diễn đồ thị của giả thuyết hội
tụ có điều kiện như được mô tả trong
mô hình Solow
n
y r *
y p *
i r *
i p *
K p *
y=f(k)
i r =nk
i p =s p f(k)
K
k
L
y
i r =s r f(k)
c r *
c p *
K r *
Biểu đồ mô tả một tình huống trong đó kp* và kr* trình bày tỷ lệ lao động vốn ban đầu của người nghèo và nước giàu tương ứng Mô hình giả định rằng tất cả các yếu tố khác đều bằng nhau
và đòi hỏi các quốc gia phải giống
Tài liệu kinh tế gần đây đang xôn xao với cuộc thảo luận về sự hội tụ có điều kiện và tăng trưởng kinh tế Hội tụ kinh tế có một số ý nghĩa quan trọng đối với các nước đang phát triển
Không giống như lý thuyết về sự hội tụ tuyệt đối, sự hội tụ có điều kiện không bao hàm sự xóa đói giảm nghèo cuối cùng Tuy nhiên, điều đó cho thấy rằng, nếu một quốc gia có thể đạt được các đặc điểm cấu trúc tương tự như các nước giàu hơn, thì theo thời gian, nó có thể trở nên giàu hơn
Các chính sách viện trợ nước ngoài có vẻ hợp lý hơn trong trường hợp hội tụ có điều kiện, vì chúng
có thể giúp đất nước đạt được các đặc điểm cấu trúc cần thiết, nếu được nhắm đúng
Thực tế là trong các nghiên cứu ban đầu không có đủ dữ liệu để đo lường chính xác quá trình phát triển của một quốc gia Tuy nhiên, một số công trình gần đây đã xác định một xu hướng
Trang 7rõ ràng Họ cho rằng tất cả các quốc gia, giàu và nghèo, trong khoảng thời gian dường như hội tụ
về phía nhau với tốc độ không đổi khoảng 2% mỗi năm (Quah, 1995)
Các bằng chứng khác cho sự hội tụ có điều kiện đến từ đa biến, hồi quy xuyên quốc gia:
Nếu tăng trưởng năng suất có liên quan chỉ với công nghệ cao thì sự ra đời của công nghệ thông tin đã dẫn đến khả năng tăng tốc hiệu suất đáng chú ý hơn hai mươi năm qua Thay vào đó năng suất thế giới dường như đã tăng tương đối đều đặn kể từ thế kỷ XIX
Phân tích kinh tế trên Singapore và các "con hổ Đông Á" khác đã sản xuất các kết quả đáng ngạc nhiên là mặc dù sản lượng của mỗi công nhân đã được tăng lên, hầu như không tăng trưởng nhanh chóng của họ đã là do tăng năng suất bình quân đầu người
1.2.3 Các điều kiện tác động đến hội tụ
Bảng 1.1 Các điều kiện tác động đến hội tụ
trưởng
Mauro (1995)
Tự do hóa tài khoản vốn
Tự do hóa thúc đẩy tăng trưởng trong giai đoạn ổn
con người và thị trường tự do, đều tốt cho tăng trưởng;
nhưng phải tự do hóa nên kinh tế trước
Barro (1996) Tabellini and Persson (2006)
(1994)
lại
Bils and Klenow (2008)
Sự chia rẽ về ngôn ngữ và sắc tộc
Sự chia rẽ không tốt cho chính sách, thể chế và tăng trưởng
A.F.Alesina et al (2003)
Tiêu dùng của chính phủ
Phát triển thị trường tài chính
(2005)
Tự do hóa thương mại
Warner (1995)
Tự do hóa thương mại
Không có mối quan hệ giữa thương mại và tăng trưởng Rodriguez and
Rodrik (2000)
Rodrik (1994)
hơn
Barro (1996)
(1997)
Trang 8MPK
1.3 Sử dụng mô hình Solow giải thích xu hướng hội tụ có điều kiện
1.3.1 Những giả định cơ bản của mô hình tăng trưởng Solow
- Nền kinh tế có một đầu ra đồng nhất, duy nhất (Y hay GDP) được sản xuất bằng hai loại đầu vào là tư bản (K) và lao động (L)
- Nền kinh tế là cạnh tranh và luôn hoạt động ở mức toàn dụng nhân công, do đó có thể phân tích mức tăng trưởng của sản lượng tiềm năng
- Đồng nhất về dân số và lực lượng lao động
- Hàm sản xuất Cobb- Douglas đồng nhất tuyến tính (tức là công nghệ không thay đổi) và
- Vốn và lao động tuân theo quy luật năng suất cận biên giảm dần (0<α<1)
- Công nghệ và tốc độ tăng trưởng lao động là các yếu tố ngoại sinh làm thay đổi được tốc
độ tăng trưởng kinh tế ở trạng thái dừng
1.3.2 Một số lý giải
1.3.2.1 Vai trò của tích lũy tư bản
𝐿 = A (𝐾
L, k= 𝐾
Lúc này, hàm sản xuất được viết dưới dạng: y= A.k^∝ = f(k) Cách viết này cho phép chúng
ta tập trung vào việc giải thích các nhân tố quyết định mức và sự tăng trưởng của sản lượng bình quân đầu người
Bên cạnh đó, sản phẩm cận biên của tư bản là một yếu tố rất quan trọng trong mô hình này
Trong trường hợp này, MPK phản ánh bao nhiêu sản lượng tăng thêm khi thêm một đơn vị tư bản
cho mỗi công nhân Khi đó: MPK = f(k+1) – f(k)
Theo lý thuyết tân cổ điển, sản phẩm cận biên của tư bản (MPK) giảm khi trang bị tư bản
Do vậy ban đầu k↑ => y↑ nhưng sau đó tốc độ tăng sẽ giảm dần Hay khi lượng tư bản bình quân tăng làm tăng sản lượng bình quân tăng nhưng sau đó tốc độ tăng sẽ giảm dần
Mô hình Solow dựa trên giả thuyết các thị trường hàng hóa và thị trường nhân tố đều ở trạng thái cân bằng Để đơn giản, chúng ta xét trên nền kinh
tế không có chính chủ (G=T=0)
Khi đó, điều kiện cân bằng cho thị trường hàng hóa được viết lại như sau:
Y = C+I
Hình 1.2 Sản lượng, tiêu dùng và đầu tư
f(k
) s.f(k) f(k
) s.f(k)
y
y 2
y 1
y 0
∆𝑦
i
i i
f(k) ) s.f(k)
k
Trang 9k
𝐿 => y = c +i c= y – i
Nếu gọi s là tỷ lệ tiết kiệm thì từ đồng nhất thức : S ≡ 𝐼 ≡ 𝑠 𝑌
*Trạng thái dừng theo Quy tắc vàng:
Nếu tỉ lệ tiết kiệm cao có thể dẫn đến một trạng thái dừng tốt hơn theo nghĩa là mức thu nhập trên đầu người cao hơn Tuy nhiên, có một nghịch lý về tiêu dùng vào tiết kiệm: Tiết kiệm càng nhiều thì tỷ phần của thu nhập dành cho tiêu dùng càng nhỏ Khi các hộ gia đình tiêu dùng ít đi có nghĩa là họ đang thụ hưởng ít hàng hóa và dịch vụ hơn cho bản thân, các doanh nghiệp cũng bán được ít sản lượng hơn trong ngắn hạn Vậy, sản lượng trong ngắn hạn bị giảm xuống
Nếu coi phúc lợi kinh tế phụ thuộc vào tiêu dùng thì trạng thái dừng “tốt nhất” là trạng thái
tắc vàng
Nền kinh tế không có xu hướng điều chỉnh về trạng thái vàng Để đạt được trạng thái này cần phải điều chỉnh tỉ lệ tiết kiệm
s Mức tích lũy tư bản ở trạng thái
cận biên của tư bản đúng bằng tỉ
lệ khấu hao : MPK = 𝛿 Trên đồ thị, đó là điểm mà tại đó đường f(k) và đường 𝛿𝑘 có cùng
độ dốc khoảng cách giữa hai đường này phản ánh mức tiêu
Hình 1.3 Trạng thái vàng
Giả thuyết về sự hội tụ có điều kiện nói rằng các quốc gia hội tụ đến cùng một điểm Tuy nhiên, có một điểm khác biệt quan trọng giữa hai nước: sau này đòi hỏi các quốc gia phải giống nhau Do đó, chỉ sau khi kiểm soát sự khác biệt về cấu trúc, chúng ta mới có thể quan sát mối quan
hệ tiêu cực giữa mức GDP ban đầu của mỗi công nhân và mức tăng trưởng tiếp theo
Đối với hội tụ có điều kiện, dựa trên điều kiện cụ thể thì khi mức tư bản trên đầu người thấp
sẽ không cần đầu tư theo chiều rộng nhằm trang bị máy móc, thiết bị cho những nhân công mới
mà có thể đầu tư theo chiều sâu nghĩa là tăng lượng tư bản cho mỗi công nhân Khi mức tư bản trên đầu người đã cao thì vấn đề đầu tư theo chiều rộng hay chiều sâu đều cần phải tiết kiệm và đầu tư rất nhiều Chính vì thế các nước nghèo có thể tăng lượng tư bản trên đầu người để đạt được mức tăng trưởng cao với tiết kiệm và đầu tư ít do chưa phải đầu tư theo chiều rộng
Tuy nhiên không phải nước nghèo nào cũng có thể đạt mức tăng trưởng cao, nếu thu nhập quá thấp, người dân sẽ phải tiêu dùng hết những gì mình làm ra và Do vậy, không có tiết kiệm để đầu tư nhằm duy trì mức tư bản trên mỗi lao động khi dân số tăng và rơi vào một cái bẫy nghèo đói
𝛿𝑘
y=f(k)
i = s f(k)
k*
y, i, 𝛿𝑘 ,
Type equation here.
y *
g
𝛿k *
=i*g
c *
g
Trang 101.3.2.2 Tác động của tăng trưởng dân số
Ở tại trạng thái dừng của nền kinh tế, tiểu dùng sẽ đạt được lớn nhất khi MPK = 𝑛 + 𝜎 hay MPK - 𝜎 = 𝑛 Biểu diễn trên đồ thị, ta nhận thấy trạng thái dừng theo quy tắc vàng đạt được ở tại điểm mà đường f(k) và đường đầu tư vừa đủ ( 𝑛 + 𝜎)k có cùng độ dốc
Theo mô hình Solow, với các điều kiện khác như nhau thì các nước có tỷ lệ tăng trưởng dân số cao hơn thì k ở trạng thái dừng sẽ thấp hơn
Xét thấy khi tang trưởng dân
lượng đầu tư vừa đủ ( 𝑛 + 𝜎)k tăng, làm giảm lượng tư bản bình quân một công nhận( do
k = 𝐾
k giảm) Với hàm sản xuất không đổi thì mức thu nhập
Hình 1.4 Biểu đồ miêu tả trạng thái dừng của tăng trưởng dân số theo quy tắc vàng
Chính vì thế mô hình Solow đã dự báo rằng, khi mà các yếu tố khác không đổi thì với các nước có tỷ lệ tăng trưởng dân số, mức thu nhập bình quân đầu người thấp Để đảm bảo lượng lao động mới được trang bị tư bản như những người hiện đang làm việc, đòi hỏi một lượng tiết kiệm cao hơn
1.3.2.3 Vai trò của tiến bộ công nghệ
Ở những phân tích trên, ta có thể thấy được rằng sự tăng trưởng ở tư bản và dân số chỉ là nguồn gốc cho sự tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn Dù xét theo nhân tố nào thì nền kinh tế đều
sẽ xuất hiện trạng thái dừng Vậy nếu như nền kinh tế của các quốc gia với các điều kiện tương tự nhau, đều sẽ phải gặp trạng thái dừng này thì phải chẳng đến một thời điểm nào đó các quốc gia kém phát triển sẽ bắt kịp các quốc gia phát triển và tất cả các nền kinh tế sẽ gặp nhau tại một điểm cân bằng, lúc này nền kinh tế ở các quốc gia sẽ có mức sống tương đương nhau
Hình 1.5 Mối tương quan giữa tốc độ phát triển và mức GDP trên đầu người của các nước
thuộc OECD vào năm 1960
Từ hình trên ta có thể nhận thấy là vào năm 1960, các nước như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha,… vào năm 1960 với nền kinh tế nghèo nàn đánh dấu một tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn
so với các nước giàu có như Mỹ, Anh, Thụy Sĩ,… Cho rằng các điều kiện về tự nhiên và giáo dục
0 2 4 6 8 10
Y, I, D
K
c*
i
y