1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận kinh tế lượng khả năng tham gia vào chuỗi (global value chain) của doanh nghiệp SME việt nam

30 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu Luận Kinh Tế Lượng Khả Năng Tham Gia Vào Chuỗi (Global Value Chain) Của Doanh Nghiệp SME Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế
Chuyên ngành Kinh Tế Lượng
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 327,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy mô doanh nghiệp được đo lường chủ yếu trong cácnghiên cứu về tính kinh tế theo quy mô của sản xuất, tiếp thị, thị trường vốn, cân đối tiền mặt vàtrong các nghiên cứu về sự tập trung,

Trang 1

BÀI LÀM

1 Làm thế nào để đo được quy mô doanh nghiệp?

Việc đo lường quy mô doanh nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong cả ngành kinh tếhọc ứng dụng và lý thuyết tổ chức ngành Quy mô doanh nghiệp được đo lường chủ yếu trong cácnghiên cứu về tính kinh tế theo quy mô của sản xuất, tiếp thị, thị trường vốn, cân đối tiền mặt vàtrong các nghiên cứu về sự tập trung, đa dạng hoá, khả năng sinh lợi nhuận, những thay đổi vềcông nghệ và sự phát triển Ngay cả khi quy mô công ty không phải là mối quan tâm hàng đầu, thìkích cỡ doanh nghiệp cũng đóng vai trò là biến số thực nghiệm quan trọng

Nhiều nghiên cứu đã đưa ra kết quả dựa trên những phương pháp thay thế khác nhau để đolường quy mô doanh nghiệp, ngụ ý rằng sự cẩn trọng trong lựa chọn giữa các phương pháp đo làkhông cần thiết vì chúng tương quan lẫn nhau Smyth và cộng sự (1975) (gọi tắt là SBP) là ngườiđầu tiên nhận ra rằng các biện pháp để đo quy mô doanh nghiệp không thể thay thế cho nhau trừkhi các điều kiện chắc chẽ hơn so với sự tương quan giữa chúng được đáp ứng SBP đã sử dụng cơ

sở dữ liệu từ 1000 tập đoàn lớn nhất ở Anh từ năm 1971 đến 1972 và 500 tập đoàn lớn nhất ở Mỹ

vào năm 1968, được thống kê trên tạp chí The Times 1000 and Fortune (theo thứ tự lần lượt) với

thước đo quy mô với công ty của Mỹ là doanh số, tổng tài sản, lực lượng lao động và tư bản đầutư; thước đo quy mô doanh nghiệp với công ty của Anh là doanh số, tài sản thực, lực lượng laođộng và giá trị thị trường Họ cho rằng với một số mục đích nghiên cứu thì việc logarit của cácthước đo quy mô doanh nghiệp là tuyến tính rất cần thiết, và với một số mục đích khác thì chúngcần phải tuyến tính với độ co giản đơn vị, nghĩa là các thước đo tỷ lệ thuận với nhau Chính vì vậy,việc lựa chọn thước đo quy mô khác nhau có thể dẫn tới việc các kết luận khác nhau sẽ được đưara

Trong bài nghiên cứu của S S Shalit and U Sankar(1977), họ đã đưa ra một mô hìnhngẫu nhiên tổng quát đã loại bỏ nghiêm ngặt các điều kiện để hoán đổi các thước đo quy mô doanhnghiệp và xem xét mô hình xác định của SBP là trường hợp đặc biệt Nghiên cứu của họ sử dụngmẫu là 1000 tập đoàn lớn nhất của Hoa Kỳ theo danh sách công bố trên Fortune Directory trongnăm 1970 và 1971, sử dụng phương pháp thực nghiệm phân tích 5 thước đo quy mô doanh nghiệp(tất cả đều ở dạng logarit tự nhiên): SALES (tổng doanh thu hàng năm), ASSTS (tổng tài sản ròngcủa khấu hao), EMPL (tổng số nhân viên, STKQ (tổng nguồn vốn của cổ đông: Vốn cổ phiếu,thặng dư và lợi nhuận chưa phân phối), MKV (giá trị thị trường của công ty vào cuối năm) Sau đótiến hành kiểm định thống kê các điều kiện hoán đổi cho nhau bằng cách sử dụng phương pháp hồiquy trực giao và cung cấp cho các nhà nghiên cứu tương lai một số thông tin thống kê mà họ có thể

sử dụng để cân nhắc lựa chọn biến kích thước phù hợp cho mục đích của họ

Nghiên cứu của Ali và cộng sự (2015) đã được thực hiện để đánh giá tác động của quy môdoanh nghiệp đối với quản lý thu nhập đối với ngành may mặc của Pakistan Với mục đích này, dữliệu mười năm hàng năm được lấy từ năm 2004 đến 2013 cho năm mươi công ty được chọn từngành dệt may của Pakistan Trong mô hình, biến quy mô công ty (SIZE) được đo lường bằngLogarit tổng tài sản

Trang 2

Trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp và khả năng sinh lợi nhuậncủa Hall và Weiss (1967) biến kích thước doanh nghiệp được sử dụng trong nghiên cứu là 1

log A it

, đối ứng của logarit cơ sở 10 của tổng tài sản cuối năm được biểu thị bằng hàng ngàn đô la Chínhtrong giả thuyết của Baumol về mối quan hệ giữa lợi nhuận và quy mô đã định nghĩa quy mô “làlượng tổng vốn sở hữu và vốn vay” Một định nghĩa thông qua tài sản là vượt trội hơn so với kháiniệm quy mô xét theo doanh số hoặc lao động bởi vì sự khó khăn trong việc tài trợ cho các khối tàisản lớn sẽ giới hạn đầu vào với một số lĩnh vực nhất định Tài sản thì vượt trội so với vốn chủ sởhữu vì quy mô rất lớn của tổng số vốn, nhưng lại do được tài trợ, sẽ xác định các cơ hội có sẵn chocông ty

Kumar và cộng sự (1999) đã tiến hành phân tích các yếu tố quyết định quy mô doanh nghiệpgiữa các ngành và giữa các quốc gia trên thế giới với mẫu khảo sát là 15 nước châu Âu Họ chia ra

3 cách phân loại các yếu tố chính quyết định quy mô doanh nghiệp theo 3 thuyết: Lý thuyết tổchức, lý thuyết công nghệ và lý thuyết thể chế lần lượt dựa trên chức năng sản xuất, quá trình kiểmsoát và ảnh hưởng từ môi trường

1 Lý thuyết tổ chức (organisational theories): được chia thành các tiểu mục gồm chi phí giaodịch, chi phí hợp đồng và sự phân cấp trong công ty Những thuyết này dựa trên các lýthuyết kinh tế tập trung vào các loại chi phí giao dịch tồn tài cả trên thị trường và bên trongcông ty, và một tiêu chí chính ở đây là quy mô của công ty

 Lý thuyết về chi phí hợp đồng (contracting cost theories): Coase (1937) đã nghiêncứu lý do cho sự tồn tại của một công ty và phát hiện ra rằng chi phí giao dịch trênthị trường là lý do đằng sau sự phát triển của một công ty Alchian và Demsetz(1972) đã mở rộng nghiên cứu này bằng cách bổ sung các cơ chế giải thích choviệc quản lý chi phí các nguồn lực vẫn còn chưa hiệu quả trong công ty so với cáctài nguyên này trong sự phân bổ của thị trường Về lâu dài, các công ty phải pháttriển các phương pháp tối ưu hoá sản xuất với công nghệ và kỹ thuật tiên tiến để cóthể tiết kiệm chi phí so với thị trường

 Lý thuyết chi phí giao dịch (transaction cost theories): Coase (1937) đã cho chi phíphát sinh bởi các tổ chức giữa công ty không bằng không là giả định trong các giảthuyết kinh tế và thực tế điều này cần được xem xét khi giải thích về việc thành lậpcác loại doanh nghiệp

2 Lý thuyết công nghệ (technological theories): Có một vài giả định cơ bản được hiểu trongviệc hình thành các lý thuyết công nghệ trong công ty; họ cho rằng công ty phản ứng vớinhững cú sốc bên ngoài theo mục tiêu và tầm nhìn của nó để đạt được những mục tiêu này(McConnell, 1979) Sự hiểu biết cơ bản trong lý thuyết này là quy mô của công ty đượcxác định bởi quy mô thị trường Ngoài ra, có thể hiểu rằng trọng tâm là sự chuyên môn hóacủa công ty khi mà các công ty lớn hơn được hỗ trợ bởi các thị trường lớn hơn, từ đó nângcao chuyên môn hóa của họ Chuyên môn hóa của cá nhân người lao động cũng tỷ lệ thuậnvới quy mô doanh nghiệp

Theo Lucas Jr (1978), hàm sản xuất dựa trên lý thuyết tân cổ điển mô tả sự phân bố quy

mô doanh nghiệp Nền tảng chính là dựa vào tài năng quản lý, được phân phối giữa các đại

Trang 3

lý trên thị trường và ngay cả ở đây, tài năng quản lý có liên kết trực tiếp đến quy mô củacông ty

3 Lý thuyết thể chế (institutional theories): Theo Kumar và cộng sự, các lý thuyết thể chế tậptrung vào các tác động của bản chất môi trường và thể chế kinh tế vĩ mô đến quy mô củacông ty Phần này của nghiên cứu được chia thành hai phần bao gồm các lý thuyết liênquan đến tài chính và pháp lý đóng vai trò cản trở các công ty Lý thuyết này song songvới các lý thuyết tổ chức và công nghệ và cùng nhau có thể hỗ trợ trong việc thiết lập một

lý thuyết đầy đủ trong sự đo lường quy mô của công ty

Dựa trên cơ sở lý luận mà Kumar và cộng sự đưa ra, Farahnaz Orojali Zadeh và Alireza Eskandari (2012) đã đưa ra hệ thống các phương pháp đo kích thước của doanh nghiệp Việc đo lường quy mô doanh nghiệp có thể được thực hiện theo một số phương pháp cụ thể là thông qua doanh số, lao động, tài sản hoặc các phần giá trị gia tăng Thông thường, những người sử dụng lý thuyết công nghệ dựa trên nền kinh tế có quy mô xuất phát từ đầu vào vốn sẽ chỉ sử dụng số liệu bán hàng hoặc tài sản cho mục đích đo lường Họ đã được tìm thấy rằng bán hàng và tài sản không phải là phương pháp đo lường đặc biệt thích hợp cho kích thước công ty; vấn đề chính là làm thế nào đại lý, giao dịch và phạm vi chi phí ảnh hưởng đến lợi nhuận Chi phí thường liên quan đến cách thức cơ bản của tổ chức được kiểm soát bởi một hệ thống phân cấp, không chỉ là giá trị của tài sản vật chất Theo Kaen & Baumann (2003) trên thực tế, đo lường việc tuyển dụng nhân viên

và đo lường giá trị gia tăng là lựa chọn tốt hơn trong việc đo lường quy mô của công ty trong lý thuyết tổ chức thay vì doanh số hoặc tài sản

Phép đo giá trị gia tăng có lợi vì nó bao gồm khuôn khổ phức tạp của một công ty Thông thường, sự phức tạp này có liên quan đến yêu cầu của lực lượng lao động trình độ cao và một biện pháp phối hợp và kiểm soát chi phí tốt hơn Điều này cũng được hiểu rằng chi phí kiểm soát hợp đồng và giám sát sẽ cao hơn đối với các doanh nghiệp lớn và phức tạp (Kaen&Baumann,2003)

Hạn chế của đo lường giá trị gia tăng là khó khăn trong việc đo lường định lượng Tuy nhiên, như một ví dụ liệu sự ủng hộ giá trị gia tăng được liên kết sản phẩm với đầu vào của lao động, thì việc tuyển dụng nhân viên trong khu vực đó có thể được sử dụng để đo thành phần giá trịgia tăng Một lý do khác để sử dụng đầu vào lao động là chi phí kiểm soát và phối hợp có liên quannhiều hơn với mỗi thước đo giá trị gia tăng của nhân viên và tổng số nhân viên tuyển dụng Cuối cùng, theo Kaen và Baumann (2003), trong lý thuyết về các nguồn lực thiết yếu, cho rằng số lượngnhân viên càng cao, cơ hội tiết lộ bí mật của công ty càng cao

2 Khả năng tham gia vào chuỗi (global value chain) của doanh nghiệp SME Việt Nam

Trong một nghiên cứu liên quan đến sự tham gia của Global value chain (GVC) của cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), Kaplinsky và Readman (2001) chỉ ra rằng các doanh nghiệp vừa

và nhỏ cần phải trải qua các quy trình và tiêu chuẩn khác nhau để tham gia chuỗi giá trị toàn cầu,đòi hỏi chi phí cố định cao Tuy nhiên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn tham gia vào chuỗi giá trịtoàn cầu thông qua nhiều cách linh hoạt và hiệu quả như hợp tác với các doanh nghiệp hạ nguồn

Các tác giả chia các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong chuỗi giá trị toàn cầu thành hai loại: chuỗingười mua và chuỗi hướng đến nhà sản xuất Trong chuỗi hướng đến người mua, các doanh nghiệpvừa và nhỏ có thể thực hiện FDI với các tập đoàn hoặc với các doanh nghiệp địa phương để xâydựng các tập đoàn giao dịch; trong chuỗi định hướng sản xuất, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể

Trang 4

tham gia các cụm công nghiệp hoặc chuỗi giá trị dọc để đạt được sự hợp tác lẫn nhau và nâng caohiệu quả tập thể, có thể khắc phục một cách hiệu quả những thiếu sót về quy mô, vốn,… Với sựtích lũy kinh nghiệm quốc tế, hầu hết vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã dần dần chuyển

từ các quy trình sản xuất có giá trị gia tăng thấp (như OEM, OEA) sang tỷ lệ hoàn vốn cao, có kiếnthức và tỷ lệ hoàn vốn cao của nhà sản xuất thiết kế gốc (Nhà sản xuất thương hiệu gốc) Nói cáchkhác, xu hướng các FDI đã nâng các hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thànhquốc tế hóa hơn

Hiện mới chỉ có khoảng 21% các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) Việt Nam nằm trongchuỗi giá trị toàn cầu; trong khi đây là mắt xích quan trọng, góp phần nâng cao khả năng cạnhtranh của sản phẩm xuất khẩu Việt Nam Tại Lễ khởi động dự án Thúc đẩy cải cách và nâng caonăng lực kết nối của doanh nghiệp nhỏ và vừa (LinkSME) vào 24/09/2019, Bộ trưởng Bộ Kếhoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cũng nhấn mạnh, Dự án LinkSME rất có ý nghĩa cho khu vực

tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển Hiện nay, đóng góp của khu vực tư nhân là rất lớntrong GDP, trong giải quyết việc làm, thu ngân sách trong khi 98% doanh nghiệp tại Việt Nam làdoanh nghiệp nhỏ và vừa Tuy nhiên, do quy mô nhỏ, trình độ quản lý thấp, nguồn nhân lực yếunên SME Việt Nam chưa có khả năng tích tụ và tập trung vốn để đầu tư, đổi mới công nghệ, mởrộng quy mô sản xuất Đặc biệt, mối liên kết của các SME cũng như giữa doanh nghiệp nhỏ vàdoanh nghiệp lớn còn nhiều hạn chế

"Hiện tại chỉ có khoảng 21% doanh nghiệp Việt Nam là một phần trong chuỗi giá trị toàncầu, thấp hơn tỷ lệ của Thái Lan là 30%, Malaysia là 46% Đây cũng là vấn đề mà Thủ tướngChính phủ cũng rất trăn trở và cũng đặt ra bài toán tại Diễn đàn VRDF 2019 vừa qua: làm thế nào

để các doanh nghiệp Việt Nam đủ năng lực chủ động tham gia các chuỗi giá trị toàn cầu, chuyểndịch lên nấc thang cao với giá trị gia tăng cao hơn", ông Dũng phát biểu Chính vì vậy, theo Bộtrưởng Nguyễn Chí Dũng, dự án LinkSME sẽ góp phần giải quyết các vấn đề nêu trên với mục tiêuđúng và sự nỗ lực để hỗ trợ khu vực tư nhân phát triển Đây là thời điểm rất phù hợp khởi động Dự

án LinkSME để làm tiền đề và cơ hội phát triển cho khu vực tư nhân trong thời gian tới

Theo Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Daniel J Kritenbrink, tại Việt Nam, các doanh nghiệpnhỏ và vừa đóng vai trò quan trọng trong tương lai kinh tế, đóng góp vào GDP, tạo việc làm chongười lao động, tuy nhiên hiện nay rất ít doanh nghiệp nhỏ và vừa kết nối vào chuỗi cung ứngquốc tế Vì vậy, Hoa Kỳ cam kết hợp tác với Việt Nam để giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa thích ứngvới nền kinh tế toàn cầu

Bà Trương Thị Chí Bình - Phó chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ giải thích, khó khănlớn nhất của SME Việt Nam là năng lực còn yếu, nhất là trong lĩnh vực chế tạo như công nghiệp

hỗ trợ thì kém xa so với các SME trên toàn cầu

"Yêu cầu toàn cầu khá là phổ biến, nước nào tham gia cũng thế cả, không chỉ là chấtlượng mà còn là giá cả, sản phẩm làm ra không những phải tốt mà còn phải rẻ nữa Cho nên, việctham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu là một thách thức rất lớn đối với SME VN", bà Trương ThịChí Bình nhấn mạnh

Theo Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ, các doanh nghiệp FDI rất nỗ lực tìmkiếm nhà cung cấp trong nước, bởi hơn ai hết họ muốn tìm được nguồn cung ứng gần nhất để họ

đỡ phải nhập khẩu

Trang 5

"Tuy nhiên, doanh nghiệp của ta còn yếu Trong những năm trước Chính phủ chưa cónhững chương trình hỗ trợ hiệu quả giúp doanh nghiệp giảm nhanh khoảng cách đấy cho nên đếnthời điểm hiện tại mới chỉ một số lượng doanh nghiệp có thể tham gia được vào chuỗi cung ứngtoàn cầu Họ phải dùng nội lực và việc họ tự cố gắng trong thời gian qua Nhưng nếu không códoanh nghiệp FDI thì cũng không có doanh nghiệp nội địa tốt như vậy trong lĩnh vực chế tạo ",

bà Bình giải thích

Đề cập tới Dự án LinkSME mà Văn phòng Chính phủ, Bộ KH&ĐT cùng Cơ quan Pháttriển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) cùng khởi động, bà Bình cho biết, Chính phủ Việt Nam có nhiềuchính sách liên quan đến SME, nhưng chính sách liên quan đến ngành chế tạo, hai lĩnh vực là điện

tử và kim khí mà dự án này ưu tiên trong giai đoạn đầu hầu như Việt Nam chưa có chính sách nào

"Năm ngoái, Cục Công nghiệp của Bộ Công Thương mới có chương trình đầu tiên hỗ trợdoanh nghiệp Những chương trình này được doanh nghiệp đánh giá rất cao Hi vọng với sự hỗ trợcủa Chính phủ và những cơ quan quốc tế như USAID, là cơ hội lớn cho cho SME hoạt động tronglĩnh vực chế tạo, cho doanh nghiệp tư nhân phát triển bền vững trong thời gián", bà Bình nói

Với Dự án LinkSME, bà Bình nhận định, Việt Nam có thêm nhiều cơ hội bởi USAID hỗtrợ chuyên nghiệp và có nguồn lực lớn Với kinh nghiệm nhiều năm của những người làm dự án,USAID đã làm tại nhiều quốc gia trong việc hỗ trợ liên kết Do đó, với dự án này, Việt Nam sẽ cónhiều cách để tiếp cận được tốt hơn

Trên góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Ngọc Hiếu - Phó giám đốc kinh doanh Công ty cổphần dụng cụ cơ khí xuất khẩu (EMC) chia sẻ với phóng viên, EMC là doanh nghiệp sản xuất phụtùng ô tô, xe máy cho các khách hàng chính là các doanh nghiệp FDI như Honda, Yamaha,Toyota; đồng thời xuất khẩu bếp nướng ngoài trời sang châu Âu EMC đối mặt với nhiều khó khănkhi bước vào chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI

"Honda không chỉ đặt ra yêu cầu về chất lượng sản phẩm, quy trình quản lý sản phẩm màcòn yêu cầu chứng chỉ quốc tế như chứng chỉ về trách nhiệm xã hội, chứng chỉ quản lý chất lượng

Bên cạnh đó, doanh nghiệp không chỉ phải đảm bảo chất lượng mà còn phải đưa ra mức giá cạnhtranh", ông Hiếu cho biết

Đánh giá về khó khăn của các SME Việt Nam khi tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu,ông Hiếu cho hay, EMC phải trực tiếp cạnh tranh với những doanh nghiệp Trung Quốc Các doanhnghiệp nước ngoài mong muốn tìm nhà cung cấp từ Việt Nam để thay đổi chuỗi cung ứng hiện tạinhưng họ không muốn mức giá cao hơn giá của các doanh nghiệp Trung Quốc mà họ đang nhậpchủ yếu vì giá bán lẻ không thể thay đổi Ngoài yêu cầu về giá, doanh nghiệp còn gặp khó khăn vềtiến độ sản xuất khi nguồn lực nhiều khi chưa thể đáp ứng kịp các đơn hàng khi phát triển quánóng

Ông Hiếu lưu ý rằng với doanh nghiệp mới tham gia vào chuỗi cung ứng, nhất thiết phải

có các chứng chỉ Bởi khi không có chứng chỉ, ví dụ chứng chỉ về trách nhiệm xã hội, an toàn nhàxưởng, quản lý sản xuất,… thì "họ sẽ không nói chuyện tiếp với mình"

Với nhận đinh: Một phần yếu của EMC và nhiều bên khác chính là là kết nối theo hìnhthức B2B (business to business) với các khách hàng lớn, khách hàng FDI, ông Hiếu cho biết, vớicác chương trình hỗ trợ như LinkSME, ngoài việc doanh nghiệp được hỗ trợ về năng lực quản lý,

kỹ thuật, điều quan trọng nhất là được kết nối với đầu chuỗi cung ứng

Trang 6

Được đầu tư kinh phí 22,1 triệu USD và thực hiện trong 5 năm, dự án USAID LinkSME sẽphối hợp với Văn phòng Chính phủ và Bộ Kế hoạch & Đầu tư cải thiện hệ sinh thái kết nối chuỗicung ứng cho SME và nâng cao năng lực cho các hiệp hội doanh nghiệp trong việc hỗ trợ pháttriển SME.

Dự án sẽ kết nối những SME với những doanh nghiệp hàng đầu sẽ thúc đẩy tầm nhìn vềtăng cường khả năng cạnh tranh kinh tế khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và hỗ trợ mụctiêu của USAID Việt Nam là giúp mở rộng tăng trưởng bao trùm, theo định hướng thị trường và dokhu vực tư nhân dẫn dắt Tuy vậy, về sâu xa doanh nghiệp Việt Nam phải nâng cao năng lực mới

có thể tham gia liên kết

3 Phương pháp đo lường năng lực nội tại của doanh nghiệp 3.1 Tổng quát chung về năng lực nội tại

Định nghĩa: Năng lực nội tại trong Tiếng Anh là internal capacity, đó là khả năng sử dụngcác nguồn lực có ở bên trong doanh nghiệp đã được kết hợp một cách có mục đích để đạt được mộttrạng thái, mục tiêu mong muốn Năng lực nội tại còn là một thước đo để đánh giá doanh nghiệpthực hiện các qui trình hoạt động tốt như thế nào Nói cách khác đánh giá khả năng làm được việcnày hay việc khác của doanh nghiệp

Chính vì vậy việc phân tích và đo lường năng lực nội tại doanh nghiệp có ý nghĩa to lớntrong việc giúp doanh nghiệp phát triển và cạnh tranh với các đối thủ Trong quá trình xem xẻt và

đo lường năng lực nội tại của doanh nghiệp, các nhà phân tích thường tập trung vào 3 vấn đề: nănglực tài chính, năng lực công nghệ, nguồn nhân lực

3.2 Năng lực tài chính

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực tài chính nhưng có thể hiểu đơn giản nó lànguồn lực tài chính của bản thân doanh nghiệp, là khả năng tạo tiền, lưu chuyển tiền hợp lý, đảmbảo khả năng thanh khoản thể hiện ở quy mô vốn, chất lượng tài sản và khả năng sinh lời, đủ đểđảm bảo và duy trì hoạt động kinh doanh bình thường [1] Có thể thấy năng lực tài chính có thể coinhư là “sức khỏe” của một doanh nghiệp vì vậy việc đo lường có một ý nghĩa quan trọng Việcphân tích năng lực tài chính được dựa trên các cơ sở như: tình hình tài sản, tình hình nguồn vốn,kết quả kinh doanh Sau đây chúng ta sẽ cùng làm rõ việc phân tích năng lực tài chính của doanhnghiêp dựa trên một vài cơ sở then chốt

* Phân tích tình hình tài sản [2]:

Phân tích cơ cấu tài sản, ngoài việc so sánh tổng số tài sản cuối kỳ với đầu năm còn phảixem xét tỷ trọng của từng loại tài sản chiếm trong tống số tài sản dễ thấy mức độ bảo đảm cho quátrình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Công thức:

Tỷ trọng của từng bộ phận tài sản = (Giá trị của từng bộ phận tài sản/ Tổng số tài sản) x 100

Việc phân tích kết cấu tài sản để giúp xem xét tỷ trọng của từng loại tài sản là cao hay thấp,

có phù hợp với loại hình sản xuất kinh doanh hay không Khi xem xét cơ cấu tài sản, ngoài việc sosánh tổng số tài sản cũng như từng loại tài sản cuối kỳ so với đầu năm còn phải xem xét tỷ trọngtừng loại tài sản chiếm trong tổng số và xu hướng biến động của chúng để thấy được mức độ hợp

lý của việc phân bổ

Trang 7

* Phân tích tình hình nguồn vốn [2]:

Cơ cấu nguồn vốn là tỷ trọng của từng loại nguồn vốn trong tổng số nguồn vốn Phân tíchtình hình biến động và cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp để thấy được khả năng tự chủ hay phụthuộc về tài chính của doanh nghiệp cũng như những khó khăn mà doanh nghiệp đang đương đầuCác nhà phân tích thường sử dụng phương pháp so sánh và phương pháp Dupont để phân tích cơcấu nguồn vốn của doanh nghiệp So sánh sự biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc về tỷ trọngcủa từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số

* Phân tích kết quả kinh doanh [2]:

Việc phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ giúp cho ta thấyđược doanh nghiệp hoạt động có lãi hay không Để phân tích ta cần lập bảng phân tích kết quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh qua 3 năm, sử dụng kỹ thuật so sánh theo cột dọc kết hợp so sánh theohàng ngang để thấy được sự biến động giữa chúng, việc đánh giá phải dựa trên sự biến động cả cácchỉ tiêu Từ đó sẽ thấy được các thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, sựbiến động của từng khâu trong quá trình sản xuất

Để việc thực hiện việc phân tích các nhà kinh tế hay dùng một vài phương pháp phổ biếnnhư: phương pháp so sánh, phương pháp Dupont, phương pháp liên hệ đối chiếu, Sau đây là mộtvài phương pháp phổ biến các doanh nghiệp hay dùng2q

và đơn vị đo lường

+ Gốc so sánh: Gốc so sánh được lựa chọn có thể là gốc về không gian (các đối thủ cạnhtranh) hay thời gian, tuỳ thuộc vào mục đích phân tích

+ Các dạng so sánh: So sánh tuyệt đối, so sánh tương đối

* Phương pháp Dupont [2]:

Phương pháp dupont dựa trên cơ sở kiểm soát các chỉ tiêu phân tích tài chính phức tạp Mỗichỉ tiêu phản ánh mối quan hệ tài chính dưới dạng các tỷ số, khi tỷ số tài chính tăng hay giảm tùythuộc vào mẫu số và tử số của tỷ số đó Việc thiết lập quan hệ của mỗi tỷ số tài chính với nhữngnhân tố ảnh hưởng đến nó theo một trình tự logic, chặt chẽ sẽ giúp nhìn rõ ràng hơn các hoạt độngtài chính của doanh nghiệp để có cách thức tác động vào từng nhân tố một cách hợp lý và hiệu quảnhất

Trang 8

3.3 Năng lực công nghệ

Năng lực công nghệ được cấu thành từ các yếu tố bao gồm: khả năng đào tạo nhân lực; khảnăng tiến hành nghiên cứu cơ bản; khả năng thử nghiệm các phương tiện kỹ thuật; khả năng tiếpnhận và thích nghi các công nghệ; khả năng cung cấp và xử lý thông tin (theo UNIDO - Tổ chứcPhát Triển Công Nghiệp Liên Hợp Quốc)

Năng lực công nghệ được đánh giá dựa trên một vài tiêu chí như: năng lực vận hành, nănglực tiếp nhận công nghệ, năng lực hỗ trợ cho tiếp nhận công nghệ, năng lực đổi mới công nghệ

Sau đây là các bước mà các nhà phân tích hay dùng để đo lường năng lực công nghệ của của mộtdoanh nghiệp và tương tự là đối với cả ngành hay quốc gia:

* Bước 1: Giới thiệu và đánh giá tổng quan về doanh nghiệp (vị trí của doanh nghiệp trong

ngành, khả năng và thành tựu có được)

* Bước 2: Đánh giá định tính năng lực của công nghệ của doanh nghiệp (khả năng đồng

hoá công nghệ nhập, khả năng phát triển công nghệ nội sinh)

* Bước 3: Đánh giá nguồn tài nguyên.

* Bước 4: Đánh giá nguồn nhân lực (sự phân bố kỹ năng, kỹ xảo, tay nghề và cơ cấu lựclượng lao động theo các giai đoạn chuyển đổi)

* Bước 5: Đánh giá cơ sở hạ tầng (đánh giá, xem xét cường độ các pha của chuỗi phát triển

các thành phần công nghệ, đánh giá hiệu quả tương tác giữa các tác nhân thúc đẩy và các pha củachuỗi phát triển, đánh giá cường độ liên kết của cơ sở hạ tầng và các đơn vị sản xuất)

* Bước 6: Đánh giá cơ cấu công nghệ (biểu diễn cơ cấu công nghệ của doanh nghiệp dưới

dạng biểu đồ cực, trong đó độ dài véc tơ sẽ biểu thị giá trị gia tăng, còn góc giữa véc tơ và trụcnằm ngang biểu thị hệ số đóng góp của công nghệ)

* Bước 7: Đánh giá năng lực công nghệ tổng thể (sự tổng hợp những kết quả thu được ở

các bước 3, 4, 5 và 6 có thể tổ hợp lại để có một chỉ số năng lực công nghệ tổng thể của ngành)

3.4 Chất lượng nguồn nhân lực

Chất lượng nguồn nhân lực có thể được hiểu là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc củangười lao động với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mựctiêu cũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của ngươi lao động Hay còn có thể được hiểu là: trạngthái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong củanguồn nhân lực (Giáo trình Kinh tế lao động, Đại học Kinh tế quốc dân)

Để có thể đo lường và đánh giá chất lượng nguồn nhân các nhà phân tích thường dựa vàocác tiêu chí sau:

* Trạng thái sức khỏe của nhân lực: đây là trạng thái thoải mái về thể chất (thể lực) cũngnhư tinh thần (trí lực) của con người Để phản ánh điều đó cần dựa trên: Tiêu chuẩn đo lường vềchiều cao, cân nặng, các giác quan nội khoa, ngoại khoa, thần kinh, tâm thần, tai, mũi, họng…

Ngoài ra việc đánh giá sức khỏe còn dựa trên: tỷ lệ sinh, chết, biến động tự nhiên, tuổi thọ trungbình, cơ cấu giới tính…

* Trình độ văn hóa của nguồn nhân lực: đây là sự hiểu biết của người lao động đối vớinhững kiến thức phổ thông không chỉ về lĩnh vực tự nhiên mà còn bao gồm cả lĩnh vực xã hội

Trình độ văn hóa của nguồn nhân lực được thể hiện thông qua các quan hệ tỷ lệ:

+ Số lượng và tý lệ biết chữ

Trang 9

+ Số lượng và tỷ người qua các cấp học tiểu học, trung học cơ sở, phổ thông trung học, caođẳng, đại hoc, trên đại học,…

* Trình độ chuyên môn kỹ thuật: Trình độ chuyên môn kỹ thuật thể hiện sự hiểu biết, khảnăng thực hành về một chuyên môn, nghề nghiệp nào đó Đó cũng là trình độ được đào tạo ở cáctrường chuyên nghiệp, chính quy Các nhà phân tích sẽ đo lường tỷ trọng từng loại bậc của lựclượng lao động trong doanh nghiệp Đưa ra nhận xét bậc thợ cao hay thấp so với yêu cầu của côngviệc liệu có đáp ứng được không

4 Nhân tố đặc thù của môi trường kinh doanh tại Việt Nam 4.1 Khái quát chung về môi trường kinh doanh tại Việt Nam

Định nghĩa: Môi trường kinh doanh được hiểu là “một nhóm các chính sách, thể chế, cơ sở

hạ tầng vật chất, nguồn nhân lực và các đặc điểm địa lý có ảnh hưởng đến hiệu quả của các doanhnghiệp khác nhau hoạt động trong đó” (Eifert và cộng sự 2005) Việc gia nhập mới, tăng trưởng,đầu tư, tổ chức doanh nghiệp và sự phát triển của các ngành mới phụ thuộc vào chất lượng của môitrường kinh doanh (Collier 2000; Bigsten và Söderbom 2006) Ở cấp độ doanh nghiệp, môi trườngkinh doanh có thể ảnh hưởng đến chi phí sản xuất – một yếu tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng đếnlợi nhuận của doanh nghiệp

Tình hình môi trường kinh doanh tại Việt Nam từ thời kỳ sau đổi mới đến nay: Năm 1986

là một cột mốc quan trọng cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế với sự công nhận chính thứccủa khu vực kinh tế tư nhân là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa và của nền kinh tế nhiều thành phần sau các chính sách Đổi mới của Đảng và Nhà nước

Từ năm 1986 đến nay khu vực kinh tế tư nhân vẫn tiếp tục ngày càng mở rộng nhờ những luật vànghị quyết được ban hành sáng suốt bởi Đảng và Nhà nước, có thể kể đến như: Luật Công ty vàLuật Doanh nghiệp Tư nhân (1990), Luật Doanh nghiệp được ban hành (1999), Luật Doanh nghiệp

và Luật Đầu tư chung (2004), Luât doanh nghiệp được sửa đổi (2014), Nghị quyết Trung ương 5khóa 12 (2017)

=> Có thể thấy rõ nhân tố đặc thù của môi trường kinh doanh tại Việt Nam từ sau thời kỳ đổi mới

đến nay đó chính là nền kinh tế tư nhân

4.2 “Điểm sáng” của những chính sách và chương trình phát triển kinh tế tư nhân

Trong hai năm gần đây, quyết tâm phát triển kinh tế, cải thiện môi trường kinh doanh, pháttriển kinh tế tư nhân của Đảng và Chính phủ đã được thể hiện rất rõ ràng và mạnh mẽ Theo đó, nỗlực cải cách kinh tế, phát triển kinh tế tư nhân đã được ghi nhận ở rất nhiều văn bản chính sáchquan trọng như Nghị quyết số 5-NQ/TW, Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhântrở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nghịquyết 35 về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, các Nghị quyết 19 hàng năm về cải thiệnmôi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia… Trong đó, một điểm khác biệt sovới các chương trình và mục tiêu cải cách kinh tế trước đây là các văn bản nêu trên đều xác địnhrất rõ ràng, cụ thể các mục tiêu, giải pháp toàn diện với các tiêu chí mang tính định lượng

Cụ thể, các chương trình trên đã đề ra mục tiêu phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhânViệt Nam cả về số lượng và chất lượng, thực sự là một động lực quan trọng trong phát triển kinhtế; thúc đẩy hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có công nghệ hiện đại để

Trang 10

làm nòng cốt, mũi nhọn phát triển kinh tế; cùng với thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệpnhỏ và vừa trong nước, nâng cao sức cạnh tranh với DN nước ngoài,

Đặc biệt, tại Nghị quyết 19, Chính phủ đã yêu cầu các bộ, ngành rà soát, bãi bỏ, đơn giảnhóa ít nhất 50% số điều kiện kinh doanh hiện hành, 50% danh mục hàng hóa, sản phẩm và thủ tụckiểm tra chuyên ngành trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, đang gây cản trở, khó khăn cho hoạt độngđầu tư kinh doanh của doanh nghiệp,…

Sự thành công trong chủ trương phát triển kinh tế tư nhân của Đảng và Nhà nước có thểđược nhìn nhận bằng những minh chứng cụ thể như:

* Sự tăng trưởng mạnh mẽ về số lượng của khu vực kinh tế tư nhân (từ năm 1991 – 2017 sốdoanh nghiệp tư nhân tăng từ con số 14500 lên đến hơn 1 triệu) [6]

* Tăng mạnh dòng vốn đầu tư từ nước ngoài (Tổng vốn FDI vào Việt Nam đạt 24,4 tỷ USDtrong năm 2016 và 35 tỷ USD vào năm 2017) [7]

=> Có thể thấy rõ các chính sách và chương trình phát triển kinh tế tư nhân của Đảng và Nhà nước

đã có một sự thống nhất đồng bộ nhất định cũng như mang tính dài hạn

4.3 Một vài hạn chế mà nền kinh tế tư nhân ở nước ta vẫn còn gặp phải

Có một khoảng cách đang ngày càng lớn dần giữa số lượng doanh nghiệp đã đăng ký kinhdoanh và số lượng những doanh nghiệp đang thực sự hoạt động Điều này cho thấy rằng môitrường kinh doanh đối với hầu hết các doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam chứa đựng nhiều khókhăn và thách thức Theo Tổng cục Thống kê, chỉ có 427.000 doanh nghiệp tư nhân đang thực sựhoạt động trong năm 2015 (chiếm 49,5% tổng số doanh nghiệp đã đăng ký tính đến năm 2015)

Điều đáng lo ngại là khoảng cách này có xu hướng ngày một nới rộng hơn trong những năm gầnđây Trong giai đoạn 2010-2016, số lượng doanh nghiệp thực sự đi vào hoạt động chỉ tăng lên từ22.000-40.000 doanh nghiệp mỗi năm Không chỉ vậy mặc dù nhiều hộ kinh doanh được đăng kývới chính quyền cấp huyện, khu vực hộ kinh doanh vẫn được xếp hạng là khu vực không chínhthức

=> Song hành với những chủ trương đúng đắn thì Đảng và Nhà nước cũng cần họp bàn và xem lạimột số hạn chế của bản thân để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp được đăng ký hoạtđộng và công nhận chính thức khu vực các hộ kinh doanh

5: Khả năng tiếp cận tài chính của doanh nghiệp tư nhân (DNTN).

Có thể nói rằng các DNTN Việt Nam có đóng góp tích cực cho tăng trưởng GDP của ViệtNam (VN), đặc biệt có đóng góp về mặt xã hội rất lớn đó là tạo ra nhiều việc làm cho người laođộng (thu hút gần 36,9% lực lượng lao động làm việc trong các DNTN các ngành công nghiệp vàdịch vụ) Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của các DNTN là do quy mô vốn quá nhỏ, chi phí giao dịch

cao do bất lợi về quy mô, nên hiệu quả tài chính chưa cao

5.1 Tổng quan về tình hình tài chính của các DNTN

Theo Điều 183 của Luật Doanh nghiệp được ban hành năm 2014, DNTN là doanh nghiệp

do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt độngcủa doanh nghiệp Có đến gần 98% doanh nghiệp vừa và nhỏ theo quy mô vốn là các doanh nghiệpthuộc kinh tế tư nhân Vì vậy, số liệu điều tra các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc khu vực kinh tế

Trang 11

tư nhân là mang tính đại diện cho các DNTN của VN, và các tiêu chí khảo sát của các doanhnghiệp này có thể so sánh với các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài (FDI) có quy mô vốn lớn hơn nhiều lần.

Theo số liệu tổng điều tra doanh nghiệp năm 2005 của Tổng cục Thống kê, DNNN chỉchiếm có 3,6% về số lượng doanh nghiệp, nhưng chiếm tới gần 55% tổng số vốn sản xuất kinhdoanh (SXKD) Doanh nghiệp FDI chỉ chiếm có 3,2% số lượng doanh nghiệp, nhưng chiếm trên20% tổng số vốn SXKD Trong khi các doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân chiếm trên 93% về sốlượng doanh nghiệp nhưng chỉ chiếm 24,94% về vốn SXKD Vốn SXKD bình quân cho mộtDNTN giai đoạn 2000 - 2005 quá nhỏ từ 2,81 tỷ trên một doanh nghiệp năm 2000, tăng lên 5,77 tỷđồng trên một doanh nghiệp năm 2005 Quy mô vốn SXKD bình quân trên một DNNN lớn nhất,

từ 116,38 tỷ năm 2000, tăng lên 327,52 tỷ năm 2005, lớn gấp 41,4 lần vốn bình quân của mộtDNTN năm 2000 và lớn gần 57 lần năm 2005 Quy mô vốn SXKD bình quân cho một doanhnghiệp FDI cũng khá lớn, 150,72 tỷ đồng năm 2000, và 132,41 tỷ đồng năm 2005 gấp từ 23 lầnđến 53,6 lần quy mô vốn bình quân một DNTN Tất cả các số liệu trên một lần nữa cho thấy quy

mô vốn của các DNTN là quá nhỏ, và vì vậy phần lớn các DNTN thuộc doanh nghiệp nhỏ và vừatại VN

Tuy có quy mô nhỏ về vốn, nhưng các DNTN có đóng góp cao về tỷ trọng GDP (45,61%

năm 2005) và tạo làm việc (88,9% năm 2005, trong đó có 52% lao động nông nghiệp, còn lại36,9% lao động làm việc trong các DNTN ngành sản xuất công nghiệp và thương mại dịch vụ)

Nguồn vốn SXKD trong các DNTN được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó nguồnvốn chủ sở hữu (vốn ban đầu của chủ doanh nghiệp và vốn tích lũy từ lợi nhuận để lại) chiếm gần55%, vốn vay ngân hàng chỉ chiếm 18,9%, vốn chiếm dụng chiếm 12,1%, còn lại là vay ngườithân, bạn bè, công nhân viên doanh nghiệp và nguồn khác

Từ số liệu thống kê và số liệu khảo sát nêu trên cho thấy các DNTN có quy mô quá nhỏ vềvốn, trong đó nguồn vốn chủ yếu là vốn tự có, vốn chiếm dụng và vay bạn bè người thân, cònnguồn vốn vay chính thức từ các ngân hàng thương mại chỉ chiếm một tỷ lệ khiêm tốn

5.2 Khả năng tiếp cận các nguồn tài chính của DNTN

So với doanh nghiệp lớn như DNNN, thì khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng từ các ngânhàng thương mại của DNTN là rất hạn chế Tỷ trọng DNTN được các ngân hàng cho vay vốn chỉchiếm có 62,5% tổng số doanh nghiệp vừa và nhỏ tư nhân điều tra, trong khi đó 100% các DNNNđiều tra có quy mô vốn lớn đều được vay vốn từ các ngân hàng thương mại Ngoài ra, xét về quy

mô các khoản vay, mức vay bình quân cho một DNNN điều tra lớn hơn gần 10 lần mức vay bìnhquân của một DNTN

Nguyên nhân chủ yếu làm hạn chế khả năng tiếp cận nguồn vốn vay từ các ngân hàngthương mại qua các kết quả điều tra là do giá trị tài sản đảm bảo (thế chấp) của các DNTN thấp,thứ đến là hạn chế của chủ DNTN trong mối “quan hệ nghiệp vụ” và “quan hệ xã hội” với ngânhàng Nguyên nhân các DNTN khó vay vốn ngân hàng là ngoài giá trị tài sản đảm bảo thấp, cònliên quan đến một khái niệm là “quan hệ nghiệp vụ” bị hạn chế Điều này lý giải rằng khi làm dự

án vay vốn, các chủ doanh nghiệp của các DNTN thiếu các thông tin minh bạch về báo cáo tàichính cần thiết làm cho cán bộ tín dụng của ngân hàng thiếu tin tưởng vào người vay vốn Mặtkhác, số liệu khảo sát doanh nghiệp cũng cho thấy về xây dựng “mối quan hệ xã hội” thông qua

“mức độ quen biết”, hay thiết lập mối quan hệ đối tác giữa các DNTN và các ngân hàng là thấp

Trang 12

Theo kết quả điều tra, tỷ lệ các DNTN không tin tưởng vào cán bộ tín dụng tương đối cao; có gần50% DNTN được phỏng vấn thể hiện không và ít tin tưởng vào cán bộ tín dụng và tới 72,1%

doanh nghiệp cảm thấy họ bị cán bộ tín dụng hạch sách Kết quả điều tra cho thấy đa số các DNTNđiều tra thiếu lòng tin vào cán bộ tín dụng, và đây cũng là rào cản để họ có thể có quan hệ kháchhàng tin cậy, để được tiếp cận nguồn vốn vay này dễ dàng hơn

Những dịch vụ ngân hàng mà các DNTN sử dụng bao gồm các dịch vụ mở tài khoản,chuyển tiền, thanh toán là chủ yếu Nguyên nhân mà các DNTN điều tra không sử dụng hình thứcthuê tài chính chủ yếu là do thiếu hiểu biết về hình thức này (không biết hình thức thuê tài chính vàkhông biết thủ tục thuê tài chính, không hiểu lợi ích của hình thức tín dụng thuê tài chính) Nhữngdoanh nghiệp có hiểu biết về hình thức tín dụng thuê tài chính thì e ngại thủ tục và mức phí caonên không tiếp cận hình thức này Ngoài các ngân hàng thương mại cung cấp tín dụng và các dịch

vụ ngân hàng, tại VN còn có các quỹ tín dụng Nhà nước cung cấp tín dụng ưu đãi cho các doanhnghiệp thuộc diện ưu đãi theo lĩnh vực đầu tư và ngành nghề kinh doanh Theo số liệu khảo sát,quy mô vốn bình quân của một doanh nghiệp nhận tín dụng ưu đãi (DNNN) là 89,99 tỷ đồng,trong khi quy mô vốn bình quân của một doanh nghiệp không nhận được tín dụng ưu đãi (DNTN)chỉ là 24,04 tỷ (doanh nghiệp nhận tín dụng ưu đãi có vốn bình quân lớn gấp 3,74 lần doanhnghiệp không nhận được tín dụng ưu đãi)

Tóm lại, các DNTN gặp khó khăn trong tiếp cận các nguồn tài chính so với các doanhnghiệp lớn, chủ yếu là DNNN, khó khăn không chỉ tiếp cận các nguồn tín dụng ưu đãi cho cácdoanh nghiệp thuộc ngành nghề được nhận tín dụng ưu đãi với lãi suất thấp, mà còn khó khăntrong cả tiếp cận tín dụng thương mại

Do quy mô vốn nhỏ, các DNTN cũng khó khăn trong tiếp cận đất đai nhằm mở rộng cơ sởsản xuất kinh doanh Đây cũng là một hạn chế nữa làm tăng mức chi phí đầu vào do phải sử dụngđất, nhà xưởng thuê với giá cao làm giảm lợi nhuận và khả năng cạnh tranh của các DNTN Vìnhững hạn chế trên, hiệu quả tài chính của các DNTN thuộc khu vực kinh tế tư nhân là còn thấp

Hiệu quả tài chính thấp thể hiện qua, tỷ lệ doanh nghiệp thua lỗ cao, và tỷ suất lợi nhuận trên tổngtài sản (ROA) thấp Theo kết quả điều tra thì tỷ lệ doanh nghiệp tư nhân hay DNTN tư nhân bị lỗchiếm gần 13%, cao hơn nhiều so với khối DNNN (2,6%) Tỷ lệ doanh nghiệp có lời thuộc khuvực tư nhân chiếm 85,9%, tỷ lệ này của khu vực DNNN là 97,4% Tỷ suất lợi nhuận của các doanhnghiệp lớn điều tra năm 2005 bình quân là 13,76%, trong khi đó tỷ suất lợi nhuận của các DNTNbình quân chỉ là 7,75%

Như đã nêu, các DNTN thuộc khu vực kinh tế tư nhân có đóng góp tích cực cho tăngtrưởng GDP của VN, và đặc biệt có đóng góp về mặt xã hội rất lớn đó là tạo ra nhiều việc làm chongười lao động (thu hút gần 36,9% lực lượng lao động làm việc trong các DNTN các ngành côngnghiệp và dịch vụ) Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của các DNTN là do quy mô vốn quá nhỏ, chi phígiao dịch cao do bất lợi về quy mô, nên hiệu quả tài chính chưa cao

5.3 Nhận định những hệ quả về hạn chế tài chính của các DNTN và kiến nghị biện pháp nâng cao năng lực tài chính cho các DNTN

Từ phân tích các hạn chế của các DNTN nêu trên, có thể đưa ra một số biện pháp nhằmnâng cao năng lực tài chính của các DNTN dưới đây:

Thứ nhất, phải hình thành tổ chức bảo lãnh tín dụng cho các DNTN, có sự tham gia của

Nhà nước Hạn chế về quy mô vốn, khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng của các DNTN, như

Trang 13

đã nêu do không có tài sản đảm bảo Một công cụ thường được sử dụng để hỗ trợ ngân hàngthương mại cho vay các DNTN là các khoản “tham gia” cho vay hoặc bảo lãnh tín dụng Sử dụngcác khoản bảo lãnh này, ngân hàng có thể chia sẻ một phần rủi ro cho vay của mình với tổ chứcbảo lãnh tín dụng với một khoản phí nhất định (phí bảo lãnh) và vì vậy sẽ có khả năng sẵn sàngcho các DNTN vay hơn Việc bảo lãnh tín dụng sẽ có thể giảm thấp hơn, nhưng không bỏ yêu cầu

về tài sản thế chấp, thường được coi là trở ngại chính của các DNTN khi tiếp cận các nguồn vốnchính thức

Càng ngày người ta càng nhận thấy khu vực các DNTN là nguồn lực tạo ra việc làm chủyếu trong nền kinh tế và một DNTN ngày hôm nay sẽ lớn mạnh thành một tập đoàn lớn trongtương lai Nhận thức này đã đưa các nhà làm chính sách tập trung hơn vào việc hỗ trợ khu vực cácdoanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua hàng lọat các can thiệp về mặt chính sách và pháp lý cũng nhưviệc sử dụng các công cụ kinh tế (không phải công cụ pháp lý) Những công cụ đó bao gồm các sự

hỗ trợ về tài chính Do đó, cần nhanh chóng thúc đẩy hình thành Hệ thống bảo lãnh tín dụng hỗ trợcác doanh nghiệp vừa và nhỏ và các đối tượng vay vốn khác, trong đó Quỹ Hỗ trợ Phát triển Trungương nay là Ngân hàng Phát triển VN đóng vai trò trung tâm Với dịch vụ này, Ngân hàng Pháttriển VN có thể tránh không cho vay trực tiếp (và vì thế tránh không cạnh tranh với các ngân hàngthương mại), mà thay cho đó trở thành tổ chức hỗ trợ và hậu thuẫn cho các ngân hàng thương mạithực hiện các khỏan cho vay đến các đối tượng vay vốn hiện không được tiếp cận đầy đủ đến cáckhỏan vốn vay Ví dụ, một hệ thống tín dụng đảm bảo cho phép các ngân hàng thương mại thựchiện các khoản cho vay dài hạn hơn, để hỗ trợ các dự án đầu tư lớn có thời gian hoàn vốn lâu hơn

Thứ hai, khó khăn mà các DNTN vấp phải như đã nêu là khả năng tiếp cận đất đai Đây

cũng là tài sản có thể mang thế chấp để vay tín dụng ngân hàng Biện pháp hỗ trợ nhằm nâng caonăng lực tài chính cho các DNTN đó là, nhà nước cần hoàn thiện môi trường kinh doanh bình đẳnghơn giữa các doanh nghiệp lớn (DNNN) và các DNTN qua chính sách đất đai Do lịch sử để lại cácDNNN được giao khá nhiều diện tích đất, trong khi các DNTN phải tự đi mua, đi thuê của tư nhân

và DNNN với mức giá thị trường Nhưng thủ tục, chuyển quyền sử dụng, và giao đất gặp nhiềukhó khăn Vì vậy, để giảm chi phí giao dịch đất đai cho các DNTN, biện pháp tốt nhất là giảm thủthục hành chính, và có chính sách bình đẳng về giao đất, chuyển nhượng giữa các khu vực kinh tế(thay vì đi thuê lại)

Thứ ba, về phía các DNTN, hạn chế của họ là thông tin báo cáo tài chính thiếu minh bạch,

nên nhiều ngân hàng không duyệt cho vay vốn Vì vậy, các DNTN cần phải đầu tư cho công tácđào tạo đội ngũ chuyên gia có kiến thức về tài chính, kế toán, có khả năng làm các dự án vay, vàphải minh bạch về thông tin tài chính khi trình dự án vay vốn Ngoài ra, như đã phân tích, quan hệ

xã hội và mức độ tin cậy đối với cán bộ tín dụng của các DNTN là còn hạn chế Vì vậy, để có thểtiếp cận tốt hơn với cán bộ tín dụng thì các DNTN cũng cần phát triển mạnh hơn mối quan hệ giữacộng đồng các doanh nghiệp (qua các Hiệp hội), trong đó có các ngân hàng Thông qua việc thamgia các buổi hội thảo hay trao đổi chuyên đề trong cộng đồng doanh nghiệp, các DNTN có thể traođổi, chia sẻ thông tin với nhau, tìm hiểu rõ hơn về các hình thức tín dụng và khả năng thích ứngcủa mỗi DNTN với từng hình thức Để giải quyết vấn đề thông tin, các DNTN phải có kế hoạchtiếp cận các nguồn thông tin khác nhau phục vụ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp củamình Tham gia hiệp hội ngành nghề cũng là một biện pháp tốt để thu thập, chia sẻ thông tin, qua

đó có thể giúp giải quyết phần nào những khó khăn của doanh nghiệp

Trang 14

6: Vấn đề bình đẳng kinh doanh giữa các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và doanh nghiệp

tư nhân (DNTN).

DNNN từng có vai trò đặc biệt quan trọng tại Việt Nam và tiếp tục là xương sống của nềnkinh tế Việt Nam (VN) Khối doanh nghiệp này là lực lượng tiên phong trực tiếp “chơi” trên sânchơi toàn cầu đầy cơ hội mà cũng nhiều thách thức Trong đó, khối DNTN ngày càng hùng hậuhơn về số lượng, cho thấy vị thế và vai trò của mình trong nền kinh tế phát triển năng động nhưhiện nay; tuy nhiên còn đang lép vế nhiều mặt, kể cả trong điều kiện kinh doanh và hệ thống chínhsách, pháp lý so với khối DNNN

6.1 Thực tế về điều kiện kinh doanh hiện nay giữa các DNNN và DNTN

Hiện nay, DNNN chỉ chiếm 0,9% về số lượng, 12,8% về lao động nhưng chiếm tới 25,9%

về vốn và tạo ra 32% về GDP của cả nước Ở VN, mặc dù nói kinh tế nhà nước là chủ đạo, DNNN

là lực lượng vật chất quan trọng nhưng tại các tỉnh thành có thứ hạng cao về phát triển kinh tếtrong những giai đoạn gần đây, không có một tỉnh thành nào phát triển mà dựa vào DNNN Ngay

cả những chỗ mà DNNN có thể rất mạnh như kinh doanh bất động sản ở những khu đô thị lớn, đôthị mới hiện đại được người dân ưa chuộng thì đó vẫn là DNTN, không có bóng dáng của DNNN

Theo các điều khoản trong hệ thống văn bản pháp lý Việt Nam, chúng ta không thấyDNNN có ưu thế hơn DNTN Thậm chí, DNNN còn phải chịu những sức ép về trách nhiệm xã hội

Nhưng thực tế tại VN, có sự ưu ái hơn đối với DNNN so với DNTN

DNNN được ưu tiên các cơ hội, nguồn lực như đất đai, vốn tín dụng, thậm chí còn cóDNNN không phải nộp bất kì một loại thuế lợi nhuận nào cho nhà nước Trong khi các DNTN lạiphải chia cổ đông và chịu các thuế khác nhau Sự bất công giữa hai khu vực DNNN và DNTN còn

có thể thấy rõ từ bảo hộ các quyền cũng như các quy định, kế hoạch của nhà nước, cách điều hành

để gây ra những bất công ấy Sự bất bình đẳng đó được thể hiện rất sâu Có thể lấy ví dụ, nhữngtập đoàn kinh tế nhà nước, làm ăn thua lỗ, người dân không được biết về nguồn tiền thua lỗ cũngnhư thua lỗ do đầu tư vào khoản mục nào Còn DNTN, nếu mất, khi muốn vay ngân hàng hay của

cá nhân, tổ chức tín dụng nào đó thì không bên nào chấp nhận cho vay, thậm chí còn có thể gặp rắcrối về pháp lý

Chính từ những ưu ái giữa hai khối DNTN và DNNN nên có những doanh nghiệp hoạtđộng thua lỗ vẫn được xử “nhẹ tay”, thậm chí có những doanh nghiệp thua lỗ được khoanh nợ, rồigiãn nợ, xóa nợ, xuất hiện những doanh nghiệp “chết nhưng chưa được chôn” Bên cạnh đó, nguồnvốn ODA cũng chỉ là các DNNN mới được tiếp cận Ngoài ra còn có những lĩnh vực mà DNNNđộc quyền như xăng, dầu và điện

6.2 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng, tồn tại và vấn đề bất bình đẳng trong kinh doanh giữa các khối DNNN và DNTN

Thứ nhất, DNNN được coi là “con đẻ” của nhà nước, cách thức can thiệp của nhà nước,

cách thức suy nghĩ về vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường và mở cửa nên khó tránhkhỏi việc DNNN được ưu ái hơn so với DNTN Mặt khác, theo một số điều tra về khối DNTN,trong tiếp cận đất đai, tiếp cận các nguồn nhân lực, tín dụng, thì khu vực này yếu thế hơn DNNN

Đó là do một phần của vị thế, quy mô cơ bản dẫn đến những ưu ái hơn trên thực tế

Trang 15

Chúng ta thấy rõ, kinh tế tư nhân không lớn lên được do bị ngăn trở bởi rào cản là cơ chếphân bố nguồn lực Khi nguồn lực vẫn do Nhà nước phân phối và chi phối bằng cơ chế xin – cho,không phân bố dựa trên hiệu quả sử dụng nguồn lực thì những người làm tốt nhất không tiếp cậnđược nguồn lực đủ mức để phát triển Phân bố theo cơ chế này là theo chủ quan chứ không theonguyên tắc thị trường Do đó, DNTN muốn phát triển cũng không được vì khó có cơ hội tiếp cậnnguồn lực vốn, tài nguyên, đất đai, lao động,… Chính điều này đã làm hao mòn sự phát triển củadoanh nghiệp tốt, đồng thời làm hao mòn tiềm năng phát triển và năng lực cạnh tranh của nền kinh

tế

Thứ hai, DNTN không muốn phát triển là do kinh tế tư nhân không được bảo vệ Kinh tế tư

nhân VN cần sự bảo vệ hơn là cần sự hỗ trợ Tài sản, sản nghiệp của một doanh nghiệp có đượcđảm bảo thì doanh nghiệp đó mới có thể yên tâm đầu tư lâu dài Hiện nay theo cơ chế tại VN, rấtnhiều cơ quan ban ngành đoàn thể có quyền đi kiểm tra, thanh tra doanh nghiệp Một khi đã bị cơquan chức năng kiểm tra, thanh tra thì luôn chỉ ra và “bắt lỗi” được sai phạm của DNTN Rất nhiều

cơ quan được ra những văn bản điều hành mà gián tiếp, trực tiếp ảnh hưởng đến kết quả hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, qua đó ảnh hưởng đến tài sản của họ

Doanh nghiệp là một sản nghiệp Nhưng trong bối cảnh hiện nay, doanh nghiệp không biếtkhởi kiện để bảo vệ lợi ích của mình mà đều ngấm ngầm, âm thầm chấp nhận Trên thực tế, cókhông ít văn bản, thông tư ảnh hưởng đến lợi ích của các DNTN nhưng họ không làm được gì

Một khi không có cơ chế nào bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp, trong đó có DNTN thì doanh nghiệp

đó không thể làm ăn lớn hay mở rộng quy mô

Thứ ba, cách thức quản lý nhà nước với hệ thống pháp luật nhà nước không khuyến khích

người ta sáng tạo, ngăn cản sự phát triển của các DNTN Khi các doanh nghiệp này muốn bắt đầuthực hiện việc sản xuất kinh doanh thì điều đầu tiên cơ quan quản lý nhà nước luôn yêu cầu đó làcác loại giấy phép, chứng chỉ đào tạo,… Đi cùng đó là hệ thống quy trình hiện nay vô cùng chồngchéo, gây sự cản trở không nhỏ cho doanh nghiệp

Làm đúng theo quy định, quy trình của Nhà nước thì những ý tưởng sáng tạo không baogiờ được triển khai đến tận cùng Trong khi đó với cơ chế thị trường, muốn phát triển phải đổi mới,sáng tạo Một môi trường phải nuôi dưỡng, khích lệ sáng tạo và bảo vệ sáng tạo thì lúc đó mới pháttriển được

6.3 Giải pháp đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng giữa hai khối DNNN và DNTN

Để quản lý DNNN một cách có hiệu quả, cần mạnh tay chấm dứt cơ chế “bầu sữa mẹ” đốivới loại hình doanh nghiệp này Vì nếu vẫn tiếp tục cơ chế bộ, ngành quản lý như hiện nay, vớingân sách được rót đều, có thể khẳng định rất khó có động lực để khối này phát triển Chính vìvậy, dứt khoát phải tách bạch cơ chế bộ, ngành quản lý DNNN ra, không thể duy trì cơ chế nàynữa Bên cạnh đó, cần có một cơ chế kiểm toán, giám sát được luồng tiền thực hiện đang rót vàocác dự án của khối DNNN, tập đoàn kinh tế nhà nước là bao nhiêu, với những con số hết sức cụthể, minh bạch Các báo cáo kiểm toán, giám sát này phải được một hệ thống độc lập thực hiện vàđược báo cáo lên Quốc hội định kỳ hằng tháng, hằng quý để nhân dân cả nước biết được luồng tiềnthực này đang rót vào dự án nào, mục đích để làm gì, có hiệu quả hay không Ngoài ra, cần đánhgiá lại nghiêm túc, đầy đủ chủ trương phát triển kinh tế nhà nước trong thời gian qua là đúng hay

Ngày đăng: 11/10/2022, 09:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w