Vì những hạn chế chung khi lượng hóa và hạn chế riêng của nhóm số liệu không đầy đủ, nhiều biến muốn đưa vào mô hình nhưng không tìm được số liệu, nghiên cứu ở Việt Nam chưa có, nghiên c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
- oOo -
Tiểu luận môn: Kinh Tế Lượng
Đề tài: “Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tới
xác suất trên 100 trẻ sơ sinh không sống được
tới năm tuổi”
Giảng viên hướng dẫn : Thạc sỹ Nguyễn Thu Giang
Lớp Tín chỉ : KTE218.2 Nhóm thực hiện : Nhóm 10
1 Vũ Song Toàn (Nhóm trưởng) 1714410227
2 Ngô Hoàng Anh 1714410015
Trang 2MỤC LỤC
Trang
I.CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỈ LỆ TỬ
1 Các lí thuyết liên quan đến đề tài và hỗ trợ nghiên cứu 5
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
3 Mô tả thống kê các biến và tương quan giữa các biến: 14
4 Ma trận tương quan giữa các biến: 18
2 Kiểm định sự khuyết tật của mô hình 23
2.1 Kiểm định phương sai sai số thay đổi 23
2.2 Kiểm định phân phối chuẩn của phần dư 24
2.3 Kiểm định đa cộng tuyến 24
3.1 Kiểm định hệ số hồi quy 25
3.2 Kiểm định sự phù hợp của mô hình hồi quy 26
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Theo báo cáo của Liên hợp quốc vào tháng 9/2018, trong năm 2017, trên toàn cầu, một nửa số ca tử vong của trẻ dưới 5 tuổi xảy ra ở vùng Châu Phi cận Sahara và 30% ở Nam Á Ở khu vực Châu Phi cận Sahara, cứ 13 trẻ em thì có 1
em tử vong trước khi các em được 5 tuổi Trong khi đó, ở các nước thu nhập cao, con số này là 1/185 Laurence Chandy - Giám đốc Phụ trách Dữ liệu,
Nghiên cứu và Chính sách của UNICEF cho biết : "Nếu chúng ta không hành
động khẩn trương, từ nay đến năm 2030 sẽ có 56 triệu trẻ em dưới năm tuổi tử vong - một nửa trong số đó là trẻ sơ sinh" Và một trong những nguyên nhân
gây nên cái chết cho trẻ nhỏ là thiếu ăn, thế nhưng, theo báo cáo của FAO mỗi năm thế giới lãng phí gần 1000 tỷ tấn thực phẩm, lượng thực phẩm đủ để nuôi sống 2 tỷ người, gấp đôi số người suy dinh dưỡng toàn thế giới
Đứng trước sự thực đó, ta tự hỏi: nếu ta muốn ta là một con người tuyệt vời theo định nghĩa của ta, và từ đó cả xã hội là một xã hội tuyệt vời thì điều đó
có còn tiếp diễn không? Liệu ta có để những chiếc bánh xe cũ cản trở ta vươn tới những ước mơ về mình, về một thế giới đẹp đẽ nhất mà ta có thể mơ tưởng tới không?
Câu trả lời cho những câu hỏi đó mỗi người sẽ có câu trả lời cho riêng mình Trong phạm vi bài tiểu luận, nhóm em muốn đưa ra một mô hình kinh tế lượng về “Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tới xác suất trên 100 trẻ sơ sinh
sẽ chết trước khi đến năm tuổi” Vì những hạn chế chung khi lượng hóa và hạn chế riêng của nhóm (số liệu không đầy đủ, nhiều biến muốn đưa vào mô hình nhưng không tìm được số liệu, nghiên cứu ở Việt Nam chưa có, nghiên cứu ngoài nước khó tiếp cận, kiến thức, kỹ năng của nhóm còn yếu, ), nhóm không thể mô tả chính xác được tất cả các yếu tố, chính xác được mức độ ảnh hưởng,
nên chỉ mang tính tham khảo nho nhỏ
Trang 4Trong quá trình thực hiện, chúng em sử dụng dữ liệu của WorldBank năm
2014, loại đi các nước bị thiếu dữ liệu, còn 149 nước, tổng hợp các biến vào một file excel(có thể chỉnh sửa theo mô hình) và áp dụng phương pháp OLS, đưa vào
mô hình các biến: chi tiêu công cho y tế từ các nguồn trong nước bình quân đầu người; tỷ lệ phần trăm người dân sử dụng ít nhất các dịch vụ nước cơ bản; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi có mức huyết sắc tố dưới 110g/l; tỷ lệ trẻ em nữ trong độ tuổi tiểu học không đi học Sau khi chạy mô hình, chúng em có đánh giá khá thú vị là
ở mức ý nghĩa 5% chi tiêu công cho y tế tuy có hệ số ước lượng lớn nhất trong 4 biến độc lập nhưng không có ý nghĩa thống kê, 3 biến còn lại đều có ý nghĩa, trong đó 2 biến tỷ lệ người dân sử dung ít nhất các dịch vụ nước cơ bản và tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi có mức huyết tố sắc tố dưới 110g/l có hệ số lớn nhất
Chúng em xin chân thành cảm ơn Thạc sỹ Nguyễn Thu Giang đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn chúng em trong suốt quá trình học tập và thực hiện bài nghiên cứu này Tuy nhiên, do thời gian nghiên cứu và kiến thức của chúng em còn hạn chế nên chắc chắn bài tiểu luận của chúng em vẫn còn những thiếu sót nhất định, chúng em rất mong nhận được sự góp ý từ cô để bài viết được hoàn thiện hơn, rút ra kinh nghiệm cho những bài viết tiếp theo
Chúng em xin chân thành cảm ơn cô!
Trang 5I.CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỈ LỆ TỬ VONG CỦA TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI
1 Các lí thuyết liên quan đến đề tài và hỗ trợ nghiên cứu
Tỷ lệ trẻ em chết dưới 5 tuổi (Under-five mortality – là xác suất trên 100
trẻ sơ sinh sẽ chết trước khi được 5 tuổi, nếu tuân theo độ tuổi cụ thể của năm cụ thể) là một chỉ báo sức khoẻ trẻ em quan trọng và là 1 trong 8 mục tiêu thiên
niên kỷ (gọi tắt là MDGs từ tiếng Anh: Millennium Development Goals) được
ghi trong Tuyên ngôn Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc năm 2000 Cụ thể, theo Tuyên ngôn Thiên niên kỷ được 189 quốc gia đồng thuận thì giảm 2/3 tỉ lệ tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi trong giai đoạn 1995 đến 2015 là mục tiêu thứ 4
Xác định và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong ở trẻ em có thể là bước đầu tiên trong kế hoạch giảm tỷ lệ tử vong và thúc đẩy sức khỏe xã hội và tuổi thọ Ngoài ra, hiểu được yếu tố quyết định này của các nhà hoạch định chính sách y tế có thể giúp thực hiện các can thiệp và chính sách hiệu quả hơn
về chi phí để giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em Nhìn chung, các số liệu thống kê về tỷ
lệ tử vong ở trẻ em và trẻ sơ sinh ngụ ý mức độ phát triển kinh tế xã hội và chất lượng cuộc sống của các quốc gia
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Các nghiên cứu có liên quan trong nước và ngoài nước
Nhận thấy tầm quan trọng của mục tiêu giảm tỉ lệ trẻ tử vong dưới 5 tuổi, nhiều nghiên cứu cả trong và ngoài nước đã được thực hiện nhằm xác định nguyên nhân gây ra tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi Chỉ khi đưa ra được những thông tin chính xác về nguyên nhân tử vong của trẻ dưới 5 tuổi thì những nỗ lực sinh tồn của trẻ em dưới 5 tuổi mới có hiệu quả Các nhà khoa học cho rằng những yếu tố ảnh hưởng tới sức khỏe trẻ em bao gồm: điều kiện kinh tế xã hội (thu nhập, nhà ở, dịch vụ sức khoẻ…); điều kiện y tế, bệnh tật; các yếu tố di truyền và sinh học (chủng tộc, gia đình, tuổi, giới); môi trường (biến đổi khí hậu,
ô nhiễm không khí, nước, khó thuốc lá…) Có thể kể ra một số nghiên cứu trong
Trang 6và ngoài nước đã được thực hiện về mối quan hệ giữa sức khỏe, tỉ lệ tử vong của trẻ em với các nguyên nhân khác nhau:
NHÓM NGUYÊN NHÂN
GIẢ
KẾT QUẢ
Điều kiện Kinh tế xã hội
Socio-economic factors affecting under five
mortality in South Africa -
an investigative study ( Các yếu
tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng tới tỉ lệ tử vong dưới 5 tuổi ở Nam Phi – một nghiên cứu điều tra)
Journal of
Emerging Trends in Economics and Management Sciences, số 2,1/4/
2011 - Kyei, Kwabena A
Phân tích khoảng 10 biến số kinh tế xã hội, môi trường và sức khỏe từ đó kết luận rằng giáo dục của cả cha mẹ, tình trạng hôn nhân của người mẹ cũng như nghề nghiệp của họ thời gian cho con bú là những yếu
tố ảnh hưởng đến tỉ lệ
tử của trẻ dưới 5 ở Nam Phi
Trang 7Điều kiện y
tế
The Main Determinants of Under 5
Mortality Rate (U5MR) in OECD Countries: A Cross-Sectional Study ( Các yếu
tố chính quyết định tỷ lệ tử vong dưới 5 tuổi (U5MR) ở các nước
OECD: Một nghiên cứu cắt ngang)
International Journal of Pediatrics (2/2015) - Ali Kazemi karyani, Zhila Kazemi, Faramarz Shaahmadi, Zohreh Arefi, Zahra
Meshkani
Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các biến số, bao gồm chi phí y tế, tổng thu nhập quốc dân trên đầu người, và mật độ của bác sĩ và y tá và phụ
nữ biết chữ, có tác động đảo ngược đến
tỷ lệ tử vong dưới năm tuổi ở các nước OECD
Trang 8Bệnh tật, các yếu tố
di truyền sinh học
WHO estimates
of the causes of death in children ( WHO ước tính những nguyên nhân gây ra tử vong ở trẻ nhỏ)
Tuần san y khoa The Lancet, số 365, 26/3 – 1/4 2005 - Jennifer Bryce EdD, Cynthia Boschi-Pinto PhD, Kenji Shibuya MD, Prof RobertE Black
MD (Nhóm tham khảo dịch tễ học sức khỏe trẻ em của WHO)
Sáu nguyên nhân chiếm 73% trong số 10,6 triệu ca tử vong hàng năm ở trẻ dưới 5 tuổi: viêm phổi (19%), tiêu chảy (18%), sốt rét (8%), viêm phổi sơ sinh hoặc nhiễm trùng huyết (10%) ), sinh non (10%) và ngạt khi sinh (8%) Suy dinh dưỡng là nguyên nhân
cơ bản của 53% tổng
số ca tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi
Trang 9Môi trường (biến đổi khí hậu, ô nhiễm không khí, nước, khó thuốc lá…)
Water for Life:
The Impact of the
Privatization of Water Services
on Child Mortality ( Nước cho sự sống: Tác động của việc tư nhân hóa các dịch vụ nước đối với tỷ
lệ tử vong ở trẻ em)
Journal of Politial Economy (2/2005) - Sebastian Galiani, Paul Gertler, Ernesto
Schargrodsky
Việc tư nhân hóa nguồn nước có liên quan đến việc giảm đáng kể tử vong do các bệnh truyền nhiễm và ký sinh trùng từ đó cải thiện tỉ
liên quan của những yếu tố sau đến tỉ lệ tử vong của trẻ dưới 5 tuổi: Children out of school, female ( tỉ lệ trẻ em nữ không được đến trường trên tổng số trẻ
em nữ trong độ tuổi học tiểu học), prevalence of anemia among children (tỉ lệ thiếu máu ở trẻ em), prevalence of people using at least basic drinking water services ( tỉ lệ người được sử dụng nước sạch ở mức cơ bản nhất), domestic general government health expenditure per capita ( chi tiêu y tế nội địa của chính phủ trên đầu người), GDP per capita ( tổng sản phẩm quốc nội trên bình
quân đầu người) Những yếu tố này thể hiện sự ảnh hưởng của giáo dục, bệnh tật, môi trường sống và điều kiện kinh tế xã hội tới tỉ lệ tử vong của trẻ em
Trang 103 Giả thuyết nghiên cứu
Dựa vào những nghiên cứu đã được thực hiện trước đó, nhóm chúng em có đưa ra giả thiết về ảnh hưởng của các biến giải thích tới biến phụ thuộc như sau:
● · Children out of school, female ( tỉ lệ trẻ em nữ không được đến trường trên tổng số trẻ em nữ trong độ tuổi học tiểu học): đây là yếu tố đại
diện cho sự tác động của giáo dục người mẹ tới tỉ lệ trẻ chết dưới 5 tuổi Theo
nghiên cứu của Tổng cục thống kê Việt Nam năm 2011 “Mức sinh và mức
chết ở Việt Nam: thực trạng, xu hướng và những khác biệt” chương 3 cho
thấy, phụ nữ làm việc nhẹ nhàng hơn, nghiêng về trí óc nhiều hơn, thì con của họ có tỷ suất chết thấp hơn Cụ thể là, tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi của phụ nữ làm việc ở nhóm nghề nghiệp có trình độ từ chuyên môn kỹ thuật bậc trung trở lên là thấp nhất (14 trẻ dưới 5 tuổi tử vong/1000 trẻ sinh sống) và cao nhất ở nhóm phụ nữ làm việc ở nhóm nghề lao động giản đơn (30 trẻ dưới
5 tuổi tử vong/1000 trẻ sinh sống) Do đó, giả thiết rằng tỉ lệ trẻ em nữ không đến trường trên tổng số trẻ em nữ trong độ tuổi tiểu học, trung học sẽ có tương quan cùng chiều với tỉ lệ tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi, tức là khi tỉ lệ trẻ em nữ không được đến trường tăng sẽ dẫn tới tỉ lệ trẻ em chết dưới 5 tuổi tăng
● · Prevalence of anemia among children (tỉ lệ thiếu máu ở trẻ em): là
yếu tố đại diện cho ảnh hưởng của bệnh tật tới tỉ lệ trẻ em chết dưới 5 tuổi
Theo nghiên cứu “Global Burden of Sickle Cell Anaemia in Children under
Five, 2010–2050: Modelling Based on Demographics, Excess Mortality, and Interventions ( Gánh nặng toàn cầu về bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm ở trẻ em dưới năm tuổi, 2010-2050: Mô hình hóa dựa trên nhân khẩu học, tỷ lệ
tử vong quá mức và các yếu tố can thiệp)” của Frédéric B Piel, Simon I Hay,
Sunetra Gupta, David J Weatherall, Thomas N Williams đăng tải trên tạp chí
y khoa Plos Medicine ngày 13/7/2013 thì cho thấy nếu trẻ em không được chẩn đoán và điều trị bệnh thiếu máu sẽ dễ tử vong trong những năm đầu đời,
do đó họ đã đánh giá quy mô gánh nặng SCA toàn cầu dự kiến trong khoảng
Trang 11thời gian từ 2010 đến 2050 ở trẻ em dưới năm tuổi và ước tính số lượng trẻ sơ sinh có thể được cứu bằng cách thực hiện các can thiệp sức khỏe khác nhau
Vì vậy, chúng em đưa ra giả thiết rằng số khi tỉ lệ thiếu máu ở trẻ em tăng lên thì tỉ lệ trẻ em chết dưới 5 tuổi cũng sẽ tăng lên
● · Prevalence of people using at least basic drinking water services ( tỉ
lệ người được sử dụng nước sạch ở mức cơ bản nhất): yếu tố này đại diện
cho khía cạnh môi trường Dựa trên kết luận trẻ em sống trong môi trường có điều kiện vệ sinh chất lượng tốt và nước sạch sẽ có tỉ lệ sống sót cao hơn những trẻ không có điều kiện tốt của nghiên cứu “The effect of water and sanitation on child health: evidence from the demographic and health surveys 1986–2007” - international journal of epidemiology ngày 30/6/2011 của các tác giả Günther Fink, Isabel Günther và Kenneth Hill, giả thiết rằng tỉ lệ người được sử dụng nước sạch ở mức cơ bản nhất tăng lên đồng nghĩa với việc tỉ lệ trẻ em tử vong dưới 5 tuổi sẽ giảm xuống
● · Domestic general government health expenditure per capita ( chi tiêu y tế nội địa của chính phủ trên đầu người): thể hiện tác động về mặt y
tế xã hội Nghiên cứu của Janet Currie, Jonathan Gruber trên The Quarterly
Journal of Economics, Tập 111, số 2, tháng 5/1996 mang tên “Health
Insurance Eligibility, Utilization of Medical Care, and Child Health ( Điều kiện bảo hiểm sức khỏe, việc sử dụng chăm sóc y tế và sức khỏe trẻ em)” đã
chỉ ra rằng khi tăng cường bảo hiểm và chăm sóc y tế thì sẽ giảm đáng kể tỉ lệ
tử vong ở trẻ em Giả thiết của nhóm em là khi chi tiêu y tế nội địa của chính phủ trên đầu người tăng lên thì tỉ lệ tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi sẽ giảm đi
II XÂY DỰNG MÔ HÌNH LÝ THUYẾT
1 Dạng mô hình
ratedead = β1 + β2govhealth + β3waterpol + β4anemia + β5outschfe + u
2 Giải thích các biến
Trang 12Ký hiệu Ý nghĩa Đơn vị Kỳ vọng ảnh
hưởng
ratedead Xác suất trên 100 trẻ sơ sinh sẽ
chết trước khi đến năm tuổi, nếu tuân theo tỷ lệ tử vong theo độ tuổi
cụ thể của năm cụ thể
%
govhealth Chi tiêu công cho y tế từ các nguồn
trong nước bình quân đầu người
USD hiện tại
(-)
waterpol Tỷ lệ phần trăm người dân sử dụng
ít nhất các dịch vụ nước cơ bản
% (-)
anemia Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi có mức
huyết sắc tố dưới 110 gram mỗi lít (ở mực nước biển)
outschfe Tỷ lệ trẻ em nữ trong độ tuổi tiểu
học không đi học trường tiểu học hoặc trung học
ratedead WorldBank Nguồn chính của dữ liệu tử vong là các hệ
thống đăng ký và ước tính dựa trên khảo sát mẫu hoặc các cuộc điều tra Để đảm bảo tính thống nhất giữa các ước tính, nhiều tổ chức đã hợp tác áp dụng phương pháp: sử dụng các mô hình thống kê để có được đường xu hướng ước
Trang 13tính tốt nhất bằng cách điều chỉnh mô hình hồi quy cụ thể theo quốc gia về tỷ lệ tử vong so với ngày tham chiếu của chúng
govhealth WorldBank Các ước tính chi phí y tế được Tổ chức Y tế
Thế giới chuẩn bị theo khuôn khổ của Hệ thống Tài khoản Y tế 2011 (SHA 2011)
waterpol WorldBank Dữ liệu về nước uống, vệ sinh được tạo ra bởi
Chương trình giám sát chung của WHO và UNICEF dựa trên các nguồn hành chính, các cuộc điều tra quốc gia và khảo sát hộ gia đình trên toàn quốc WHO / UNICEF định nghĩa một dịch vụ nước uống cơ bản là nước uống từ một nguồn được cải thiện, với điều kiện thời gian thu gom không quá 30 phút cho một chuyến đi khứ hồi Các nguồn nước được cải thiện bao gồm nước máy, lỗ khoan hoặc ống dẫn nước, giếng đào được bảo vệ, suối được bảo vệ và nước được đóng gói hoặc giao
anemia WorldBank Dữ liệu về thiếu máu được WHO biên soạn và
dùng một mô hình thống kê để ước tính xu hướng
outschfe WorldBank Dữ liệu về giáo dục được Viện Thống kê
UNESCO thu thập từ các phản hồi chính thức cho khảo sát giáo dục hàng năm Được đối chiếu theo Phân loại Giáo dục Tiêu chuẩn Quốc
tế (ISCED) để đảm bảo tính tương đương của các chương trình giáo dục ở cấp quốc tế Dữ
Trang 14liệu dân số được rút ra từ Phòng Dân số Liên Hợp Quốc Sử dụng một nguồn duy nhất cho dữ liệu dân số chuẩn hóa các định nghĩa, ước tính
và phương pháp nội suy, đảm bảo phương pháp nhất quán giữa các quốc gia và giảm thiểu các vấn đề liệt kê tiềm năng trong các cuộc điều tra quốc gia
3 Mô tả thống kê các biến và tương quan giữa các biến:
quan sát
Giá trị trung bình
Độ lệch chuẩn
Giá trị nhỏ nhất
Giá trị lớn nhất
ratedead 149 3.074104 2.934941 0.23 11.77 govhealth 149 849.6839 1496.86 3.988242 7776.915 log(govhealth) 149 5.243504 1.954361 1.383351 8.958915 waterpol 149 87.53931 14.83725 37.61983 100 anemia 149 35.08103 18.67699 7.2 86.7 outschfe 149 9.859902 10.60961 0.10522 62.80702
Nhận xét:
● · Biến ratedead:
Với các giá trị trong bảng mô tả và biểu đồ tần suất bên dưới cho thấy tỉ lệ
số trẻ em dưới 5 tuổi tử vong trên 100 trẻ có những khu vực rất lớn (11.77%) trong khi hầu hết các nơi khác là rất nhỏ (0.23%) Bên cạnh đó tỉ lệ này là không đồng đều giữa các quốc gia trên thế giới ( = 2.924941) Tuy nhiên nhìn chung, tỉ
lệ này là tương đối thấp khi xét trung bình trên toàn thế giới (3.074104%)
Trang 15Biểu đồ thống kê tần suất của biến ratedead
·
Với các giá trị trong bảng mô tả và biểu đồ tần suất bên dưới cho thấy chi tiêu công cho y tế từ các nguồn trong nước trên bình quân đầu người là rất khác biệt giữa các quốc gia Trong đó có những quốc gia rất chú trọng đến điều này (7776.915$/người), tuy nhiên hầu hết các quốc gia con số này là rất bé (3.988242$/người) Trung bình các quốc gia trên thế giới chi ra 849.6839 USD hỗ trợ y tế cho người dân Độ lệch chuẩn tương đối lớn ( =1496.86) cho thấy sự phân tán là rất mạnh quanh giá trị trung bình
Biểu đồ thống kê tần suất của biến govhealth
·
Với các giá trị trong bảng mô tả và biểu đồ tần suất bên dưới cho thấy khi lấy logarit tự nhiên các giá trị của biến govhealth ta có giá trị lớn nhất là 8.958915,