Thậm chí, với hoạt động ngânhàng, hầu như không có loại nghiệp vụ nào, không có loại dịch vụ nào của ngân hàng là không có rủi ro bởi một lẽ là hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương
Trang 1KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
-
BÁO CÁO THỰC TẬP GIỮA KHÓA
Rủi ro và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động của ngân
Trang 21.2 Rủi ro tồn tại khách quan trong hoạt động ngân hàng 2
PHẦN 2: NHỮNG RỦI RO ĐẶC THÙ TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 4
2.1 Rủi ro tín dụng 5
2.1.1 Định nghĩa 5
2.1.2 Nguyên nhân rủi ro tín dụng 6
2.2 Rủi ro thanh khoản 9
2.2.1 Định nghĩa 9
2.2.2 Nguyên nhân rủi ro thanh khoản 9
2.3 Rủi ro ngoại hối 11
2.3.1 Định nghĩa 11
2.3.2 Nguyên nhân rủi ro hối đoái 11
2.4 Rủi ro lãi suất 12
2.4.1 Định nghĩa 12
2.4.2 Nguyên nhân rủi ro lãi suất 12
2.5 Tầm quan trọng của việc nghiên cứu rủi ro trong hoạt động ngân hàng 13 PHẦN 3: CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO 14
3.1 Biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng 14
3.2 Biện pháp làm giảm rủi ro lãi suất 16
3.3 Biện pháp làm giảm rủi ro hối đoái 16
3.4 Biện pháp làm giảm rủi ro thanh khoản 17
KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang 31 Hình 2.1: Các loại rủi ro trong ngân hàng 4
2 Hình 2.2 Các loại rủi ro trong ngân hàng 5
3 Hình 2.3: Các hình thức rủi ro tín dụng 8
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Sự ra đời hoạt động ngân hàng đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử phát triển
và tiến bộ của con người Lê Nin đã coi sự ra đời ngân hàng như “ Sự phát minh ralửa” hay “ Sự phát minh ra bánh xe” Vai trò to lớn của hoạt động ngân hàng đối với
sự phát triển nền kinh tế và xã hội được xuất phát từ chính những đặc trưng của nó
Hoạt động kinh doanh ngân hàng là một lĩnh vực kinh doanh đặc biệt bởi hàng hóatrong quá trình kinh doanh là tiền tệ - loại hàng hóa có tính nhạy cảm và sức cuốn hútđặc biệt Chính tính đặc biệt riêng có này của tiền tệ mà hoạt động kinh doanh ngânhàng vừa là một hoạt động đem lại hoạt động hiệu quả rất lớn đối với nền kinh tế, vừa
là một lĩnh vực mà khả năng xảy ra rủi ro cao
Nghiên cứu rủi ro trong hoạt động ngân hàng là một việc làm hết sức cần thiếtđối với hệ thống ngân hàng thương mại của Việt Nam Việc nghiên cứu này sẽ cho tathấy rõ được các loại rủi ro, nguyên nhân xuất hiện rủi ro và hậu quả của nó, và để từ
đó đề ra các giải pháp hữu hiệu, thiết thực nhằm hạn chế rủi ro, giảm thiểu tổn thất cho
hệ thống ngân hàng
Xuất phát từ những vấn đề trong lý thuyết cũng như thực trạng hoạt động của hệthống ngân hàng thương mại Việt Nam, em mạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Rủi ro và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động của ngân hàng ở Việt Nam”
Mặc dù đã có sự hết sức nhiệt tình về mặt khoa học cũng như tài liệu phục vụbài viết của thầy giáo TS Nguyễn Hải Ninh, nhưng do kiến thức còn hạn chế nên bàiviết của em sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót cần bổ sung Em rất mong nhậnđược sự góp ý của thầy cô và các bạn để bài viết được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Sinh viên: Phan Văn Long
Trang 5PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TRONG NGÂN HÀNG
1.1 Khái niệm rủi ro
Theo ISO/IEC Guide 73 :
“ Rủi ro được định nghĩa là tổ hợp tất cả các sự kiện có khả năng xảy ra
và hậu quả của nó” 1
Trong lĩnh vực kinh doanh, rủi ro là những thiệt hại vô hình và nằm ngoài khảnăng kiểm soát của đơn vị kinh doanh
1.2 Rủi ro tồn tại khách quan trong hoạt động ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh và rủi ro là hai phạm trù cặp đôi
Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN đã làm đa dạng hoá các thành phầnkinh tế, tạo sự bình đẳng trong hoạt động của các thành phần này và thúc đẩy sự cạnhtranh lẫn nhau một cách lành mạnh
Rủi ro tuy là sự bất trắc gây thiệt hại không mong đợi song lại là hiện tượngđồng hành với các hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường, trong quá trình cạnhtranh Rủi ro xuất hiện ở những điểm yếu, kém hiệu quả, mất cân đối trong phát triểnkinh tế Rủi ro vừa là nguyên nhân, vừa là hậu quả của những hoạt động kinh tế không
có hiệu quả Nó tạo tiền đề cho quá trình đào thải tự nhiên của các doanh nghiệp yếukém, thúc đẩy sự chấn chỉnh, thích nghi của các doanh nghiệp, tạo xu hướng phát triển
ổn định và có hiệu quả cho nền kinh tế
Trong điều kiện kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của các Ngân hàngThương mại cũng không nằm ngoài sự tác động trên Thậm chí, với hoạt động ngânhàng, hầu như không có loại nghiệp vụ nào, không có loại dịch vụ nào của ngân hàng
là không có rủi ro bởi một lẽ là hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mạitrong nền kinh tế thị trường là một hoạt động rất nhậy cảm, mọi biến động trong nền
1 “ Risk can be defined as the combination of the probability of an event and its consequences”.
Trang 6kinh tế-xã hội đều nhanh chóng tác động đến hoạt động ngân hàng, có thể gây nênnhững xaó trộn bất ngờ và dẫn đến hiệu quả của ngân hàng bị giảm sút một cách nhanhchóng Do vậy, hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại luôn chứa đựngnhững rủi ro “tiềm ẩn”, nó có thể xẩy ra bất cứ lúc nào.
Hoạt động kinh doanh ngân hàng là một lĩnh vực đặc biệt do hàng hoá của nó làtiền tệ-loại hàng hoá có tính nhạy cảm và sức cuốn hút rất lớn; vì vậy mà rủi ro trongkinh doanh ngân hàng cũng rất lớn và đa dạng
Do vậy, nhận thức rõ từng loại rủi ro, đề ra những biện pháp ngăn chặn phòngchống hữu hiệu để hạn chế thấp nhất rủi ro luôn là vấn đề cấp bách thường xuyên liêntục tồn tại song song với hoạt động của ngân hàng (Nguồn: thư viện học liệu mở ViệtNam)
Trang 7PHẦN2 : NHỮNG RỦI RO ĐẶC THÙ TRONG HOẠT ĐỘNG
NGÂN HÀNG
Theo cách phân loại của Matthews and Thompson
Hình 2.1: Các loại rủi ro trong ngân hàng
Nguồn: Matthews K and Jompson J et al.,p.210
Rủi ro
rủi ro thị trường
rủi ro lãi suất rủi ro vốn rủi ro hàng hóa rủi ro tiền tệ
rủi ro luật pháp rủi ro hoạt động rủi ro thanh khoản rủi ro tín dụng
Trang 8Theo cách phân loại của Besis (2002)
Hình 2.2 Các loại rủi ro trong ngân hàng
Nguồn: Besis J., 2002, P.12Rủi ro trong hoạt động của ngân hàng được Nguyễn Văn Tiến (2012) chia rathành: rủi ro lãi suất; rủi ro ngoại hối; rủi ro tín dụng; rủi ro thanh khoản; rủi ro hoạtđộng ngoại bảng; rủi ro công nghệ và hoạt động; rủi ro quốc gia và rủi ro khác
Tóm lại, trong hoạt động của mình, ngân hàng phải đối mặt với 4 loại rủi rochính: Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro ngoại hối và rủi ro lãi suất
2.1 Rủi ro tín dụng 2.1.1 Định nghĩa
Trong nền kinh tế thị trường, cấp tín dụng là chức năng kinh tế cơ bản của ngânhàng Rủi ro trong ngân hàng có xu hướng tập trung chủ yếu vào danh mục tín dụng
Đây là rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra (Bessis, 2002) Khi ngân hàng rơi vàotrạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng thì nguyên nhân thường phát sinh từ hoạtđộng tín dụng của ngân hàng
Trang 9Nếu tất cả các khoản đầu tư của ngân hàng được thanh toán đầy đủ cả gốc và lãiđúng hạn thì ngân hàng không hề chịu bất cứ một rủi ro tín dụng nào Trong trườnghợp người vay tiền phá sản, thì việc thu hồi gốc và lãi tín dụng đầy đủ là không chắcchắn, vì vậy ngân hàng có thể gặp rủi ro tín dụng.
Do đó rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng củangân hàng Theo Nguyễn Văn Tiến (2012) :
“ rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được
đầy đủ cả gốc lẫn lãi của khoản vay, hoặc là việc thanh toán gốc và lãi không đúng kỳ hạn”.
Hoặc có thể hiểu “rủi ro tín dụng là rủi ro về sự tổn thất tài chính ( trực tiếp hoặcgián tiếp) xuất phát từ người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo camkết hoặc mất khả năng thanh toán” ( theo quan điểm của Hồ Diệu , 2002)
2.1.2 Nguyên nhân rủi ro tín dụng
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng được Pavla Vodová (2003) chia ra làm 3nguyên nhân chính: nguyên nhân từ phía khách hàng, nguyên nhân từ phía ngân hàng
và các nguyên nhân khách quan khác từ môi trường bên ngoài
- Nguyên nhân từ phía khách hàng:
+ Khả năng quản lý doanh nghiệp kém: Hiện nay khách hàng của ngân
hàng vẫn còn một phần lớn là các doanh nghiệp nhà nước có tài sản thế chấp đủtiêu chuẩn nhưng lại có khả năng quản lý kinh doanh kém Không chỉ có cácdoanh nghiệp Nhà nước mà các doanh nghiệp quốc doanh cũng chưa có sự chútrọng đúng mức đến việc nâng cao trình độ của bộ máy quản lý Đây cũng làmột nguyên nhân không nhỏ dẫn đến nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng cho ngânhàng
+ Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch: Ngoài
việc ghi chép đầy đủ, chính xác các sổ sách kế toán vẫn chưa được các doanhnghiệp tuân thủ nghiêm ngặt Thêm vào đó tâm lý đối phó với ngân hàng khiến
Trang 10cho sổ sách kế toán mà các doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉmang tính chất hình thức hơn là thực tế Khi cán bộ tín dụng lập bảng phân tíchtài chính của doanh nghiệp cũng dựa trên số liệu do doanh nghiệp cung cấp nênthường thiếu chính xác.
+ Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay, cố tình lừa đảo ngân hàng: Khi đến xin vay vốn các doanh nghiệp
mang theo một phương án dự án kinh doanh khả thi và chi tiết Tuy nhiên thực
tế hiện nay cũng không ít trường hợp doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích,lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản hoặc dùng tiền vay vào các mục đíchkhông hiệu quả gây ra thua lỗ và cũng là gây ra rủi ro tổn thất cho ngân hàng
- Nguyên nhân từ phía ngân hàng:
+ Chính sách tín dụng không hợp lý: thể hiện ở chỗ ngân hàng quá đề cao
mục tiêu lợi nhuận mà không chú ý đến mục tiêu an toàn, hiệu quả và lành mạnh Hayngân hàng quá quan tâm đến lợi nhuận mà đơn giản hóa việc phân tích, đánh giá kháchhàng
+ Ngân hàng không thu thập đủ thông tin và tính chính xác về các số liệu
+ Công tác kiểm tra nội bộ trong các ngân hàng còn lỏng lẻo + Cán bộ thiếu trình độ chuyên môn nghiệp vụ
+ Thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay + Ngân hàng không có một bộ phận chuyên trách theo dõi quản lý rủi ro tín dụng, quản lý hạn mức tín dụng tối đa cho từng khách hàng, ngành nghề, sản phầm
địa phương khác nhau để phân tán rủi ro trong từng thời kỳ
+ Ngân hàng giải quyết không hợp lý mối quan hệ giữa nguồn vốn huy
động và nguồn vốn sử dụng, cụ thể là dự trữ vốn quá ít so với nhu cầu rút vốn nhiều
hoặc dự trữ quá nhiều gây ứ đọng vốn, lãng phí trong sử dụng vốn
Trang 11Các hình thức rủi ro tín dụng: theo quan điểm của Besis (2002), rủi ro tín dụngbao gồm rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục.2
Hình 2.3 Các hình thức rủi ro tín dụng
Nguồn: Joel Bessis, 2002, p 13-14
- Rủi ro giao dịch: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát
sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giákhách hàng
+ Rủi ro lựa chọn: Là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân
tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiêu quả để
ra quyết định cho vay
+ Rủi ro bảo đảm: Phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm, chủ thể bảo đảm,
cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo, chủ thể bảođảm, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo
+ Rủi ro nghiệp vụ: Là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay
và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng và
kỹ thuật xử lý và các khoản vay có vấn đề
2 “The view of credit risk differs for the banking portfolio and the trading portfolio”.
Rủi ro tín dụng
Rủi ro giao dịch
Rủi ro lựa chọn Rủi ro bảo đảm nghiệp vụ Rủi ro
Rủi ro danh mục
Rủi ro nội tại Rủi ro tập trung
Trang 12- Rủi ro danh mục: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát
sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chiathành 2 loại: Rủi ro nội tại và rủi ro tập trung
+ Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang
tính riêng biệt bên trong mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế Nóxuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vayvốn
+ Rủi ro tập trung: Là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá
nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt độngtrong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhấtđịnh hoặc trong cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao
2.2 Rủi ro thanh khoản 2.2.1 Định nghĩa
Rủi ro thanh khoản được định nghĩa ( Karaviti Stavroula, 2009) như sau:
“ Rủi ro thanh khoản liên quan tới việc ngân hàng không có khả năngcung ứng đầy đủ lượng tiền mặt cho các giao dịch hằng ngày”.3
Theo Nguyễn Văn Tiến (2012) : “ Rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàngkhông đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính một cách tức thời hoặc phải huy động vốn
bổ sung với chi phí cao hoặc phải bán tài sản với giá thấp” Rủi ro thanh khoản xảy rakhiên cho ngân hàng phải đình trệ hoạt động, gây thua lỗ, mất uy tín và nếu nghiêmtrọng có thể dẫn đến phá sản
2.2.2 Nguyên nhân rủi ro thanh khoản
Có 2 nguyên nhân chính dẫn đến ngân hàng đối mặt với rủi ro thanh khoản:
- Nguyên nhân tiền đề (Nguyễn Văn Tiến, 2012) bao gồm 3 nguyên nhân:
3 Liquidity risk is referred to the bank.s inability to make its daily money transactions.
Trang 13+ Thứ nhất, ngân hàng huy động và đi vay vốn thời hạn ngắn, sau đó cứtuần hoàn chúng để cho vay thời hạn dài hơn Do đó, nhiều ngân hàng phải đối mặt với
sự không trùng khớp về kỳ hạn đến hạn giữa tài sản có và tài sản nợ Thật hiếm khiluồng tiền ròng bên tài sản có lại vừa khít để trang trải luồng tiền ròng bên tài sản nợ
Trong thực tế, ngân hàng luôn có một tỷ lệ đáng kể tài sản nợ phải được hoàn trả tứcthời như tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn có thể rút trước hạn, do đó ngânhàng phải luôn sẵn sàng thanh khoản
+ Thứ hai, sự nhạy cảm của tài sản tài chính với thay đổi lãi suất Khi lãisuất tăng, nhiều người gửi tiền sẽ rút tiền ra tìm kiếm nơi gửi khác có mức lãi suất caohơn Những người có nhu cầu tín dụng với lãi suất thấp sẽ hoãn lại, hoặc rút hết số dưhạn mức tín dụng với lãi suất thấp đã thỏa thuận Như vậy, thay đổi lãi suất ảnh hưởngđồng thời đến luồng tiền gửi cũng như luồng tiền vay, và cuối cùng là đến thanh khoảncủa ngân hàng Ngoài ra, lãi suất thay đổi sẽ ảnh hưởng đến trị giá của tài sản mà ngânhàng đem bán để tăng thanh khoản và trực tiếp làm tăng chi phí đi vay trên thị trườngtiền tệ
+ Thứ ba, ngân hàng luôn phải đáp ứng nhu cầu thanh khoản một cáchhoàn hảo Những trục trặc về thanh khoản sẽ làm xói mòn niềm tin của dân chúng vàongân hàng
- Nguyên nhân hoạt động: Rủi ro thanh khoản có thể phát sinh từ hoạt động bêntài sản nợ hay bên tài sản có của ngân hàng ( Karaviti Stavroula, 2009)
+ Nguyên nhân bên tài sản nợ: Rủi ro thanh khoản có thể phát sinh bất cứkhi nào khi những người gửi tiền thực hiện rút tiền ngay lập tức Khi những người rúttiền đột ngột, buộc ngân hàng phải đi vay bổ sung hoặc phải bán bớt tài sản ( chuyểnhóa tài sản có thành dạng tiền mặt) để đáp ứng khả năng thanh toán
+ Nguyên nhân bên tài sản có: Rủi ro thanh khoản phát sinh liên quanđến các cam kết tín dụng Một cam kết tín dụng cho phép người vay tiến hành rút tiềnvay bất cứ lúc nào trong thời hạn của nó Khi một cam kết tín dụng được người vaythực hiện, thì ngân hàng phải bảo đảm có đủ tiền ngay tức thời để đáp ứng nhu cầu của
Trang 14khách hàng, nếu không ngân hàng sẽ phải đối mặt với rủi ro thanh khoản Tương tựnhư bên tài sản nợ, để đáp ứng nhu cầu thanh khoản bên tài sản có, ngân hàng có thểgiảm số dư tiền mặt, chuyển hóa các tài sản có khác thành tiền, hoặc đi vay các nguồnvốn bổ sung trên thị trường tiền tệ Khi phải bán một tài sản ngay lập tức thì giá của nó
có thể thấp hơn rất nhiều so với trường hợp có thời gian để tìm kiếm người mua vàthương lượng về giá Kết quả là, một số tài sản chỉ có thể chuyển hóa thành tiền ngaylập tức tại mức giá bán hóa giá rất thấp, do đó có thể đe dọa đến khả năng thanh toáncuối cùng của ngân hàng
2.3 Rủi ro ngoại hối
2.3.1 Định nghĩa
Trong môi trường toàn cầu hóa tài chính - tiền tệ - ngân hàng như ngày nay,kinh doanh ngoại hối là một trong những hoạt động của ngân hàng nhằm phục vụ chonhu cầu đa dạng của nền kinh tế, tạo điều kiện cho các nhà kinh doanh xuất nhập khẩuhoạt động thuận lợi Nhà quản trị ngân hàng hàng ngày càng phải đối mặt nhiều hơnvới rủi ro hối đoái
“ Rủi ro hối đoái là rủi ro phát sinh do sự biến động tỷ giá hối đoái và bắt nguồn từ sự không phù hợp giữa giá trị của các tài sản và nợ phải trả có gốc tiền
tệ khác nhau”(Grath, 2008).
2.3.2 Nguyên nhân rủi ro hối đoái
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro hối đoái (Nguyễn Văn Tiến, 2012):
- Về bản chất kinh doanh ngoại hối tự nó chưa đựng rủi ro rất cao Ngoài các rủi
ro thông thường mà các hoạt động khác cũng phải đối mặt như: rủi ro tín dụng, rủi rothanh khoản,… thì kinh doanh ngoại hối còn chịu thêm một rủi ro đặc biệt, đó là rủi ro
tỷ giá Do tỷ giá biến động thường xuyên và vô lối, nên rủi ro tỷ giá được xem là rủi rothường trực, gắn liền và trở thành rủi ro đặc trưng của hoạt động kinh doanh ngoại hốicủa các ngân hàng