Hai bài tập đó có liên quan đến hai vấn đề là tổng lượng tiền gửi tại các tài khoản tiết kiệm ở ngân hàng và lượng cầu thịt lợn.. Giải thích tên các biến tại nước Mĩ là các khoản tiền g
Trang 1KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
**********
BÁO CÁO BÀI TẬP KINH TẾ LƯỢNG
Giảng viên hướng dẫn Thạc Sĩ: Thái Long Nhóm 24 – KTE309.5
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
**********
BÁO CÁO BÀI TẬP KINH TẾ LƯỢNG
Giảng viên hướng dẫn Thạc Sĩ: Thái Long Nhóm 24 – KTE309.5
Trang 3Mục lục
Trang
Bài 1 5
1 Giới thiệu 5
2 Giải thích các biến trong mô hình 5
2.1 Giải thích tên các biến 5
2.2 Dự kiến dấu và giải thích dựa theo các lý thuyết kinh tế 6
3 Xây dựng mô hình 8
3.1 Lựa chọn các biến tham gia vào mô hình 8
3.2 Hồi quy mô hình dự kiến 10
3.3 Kiểm định mô hình và sửa lỗi 11
4 Diễn giải mô hình 16
5 Kết luận 16
Bài 2 – Xây dựng mô hình lượng cầu thịt lợn 18
1 Giới thiệu 18
2 Giải thích các biến trong mô hình 18
2.1 Giải thích tên các biến 18
2.2 Dự kiến dấu và giải thích dựa trên các lý thuyết kinh tế 18
3 Xây dựng mô hình 19
3.1 Lựa chọn các biến tham gia vào mô hình 19
Trang 44.5 Kiểm định đa cộng tuyến 26
4.6 Kiểm định phương sai sai số thay đổi 27
4.7 Kiểm định tự tương quan 29
5 Sửa lỗi mô hình 30
6 Diễn giải cuối, lựa chọn mô hình hồi qui tốt nhất có được 31
7 Kết luận 35
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Kinh tế lượng (Econometrics) là một môn khoa học xã hội, trong đó các công cụ của lý thuyết kinh tế, toán học và suy đoán thống kê được áp dụng để phân tích các vấn đề kinh tế Kinh tế lượng sử dụng các công cụ phương pháp của thống kê toán để tìm ra bản chất của các số liệu thống kê, đưa ra kết luận về các số liệu thống kê thu thập được và từ đó có thể đưa ra các dự báo về các hiện tượng kinh tế
Từ khi ra đời, kinh tế lượng đã trở thành một công cụ sắc bén để giúp các nhà khoa học nghiên cứu nhiều lĩnh vực, không chỉ trong kinh tế học, mà kinh tế lượng còn
có ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội Kinh tế lượng đã trở thành một công cụ không thể thiếu trong sự phát triển của kinh tế và xã hội hiện đại.
Là những sinh viên đang theo học ngành kinh tế, chúng em nhận thấy sự quan trọng của việc học tập và nghiên cứu bộ môn này, đặc biệt trong việc ứng dụng kinh tế lượng trong thực tiễn.bởi vậy chúng em xin được xây dựng bài BÁO CÁO THỰC HÀNH KINH TẾ LƯỢNG dưới sự hướng dẫn của thầy giáo -thạc sỹ Thái Long Bài báo cáo
Studenmund (sách: Using Econometrics: A Practical Guide, Sixth Edition) Hai bài tập
đó có liên quan đến hai vấn đề là tổng lượng tiền gửi tại các tài khoản tiết kiệm ở ngân hàng và lượng cầu thịt lợn Đây đều là hai vấn đề có ý nghĩa thực tế cao và bổ ích trong việc ứng dụng các lý thuyết kinh tế đã học Qua bài thực hành này chúng em sẽ
cố gắng xây dựng mô hình kinh tế biểu diễn sự phụ thuộc của các biến trên với các nhân tố tác động Quy trình xây dựng mô hình tuân thủ theo các bước cần có trong
Trang 6em rất mong nhận được sự góp ý và phê bình của thầy để mô hình có thể hoàn thiện hơn.
Bài 1 Xây dựng mô hình tiền gửi tiết kiệm trong tài khoản sổ tiết kiệm của tổ chức S&L – tại Mỹ
1 Giới thiệu
Lượng tiền gửi tiết kiệm có kì hạn trong một ngân hàng luôn là một yếu tố được quan tâm Nó không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng vì nó là một trong các nguồn huy động vốn chủ lực mà nó còn có ý nghĩa với cả nền kinh tế bởi nó tạo vốn cho quá trình tái sản xuất Vậy tiền gửi tiết kiệm phụ thuộc vào những yếu tố nào Tác động của những yếu tố đó đến lượng tiền gửi tiết kiệm ra sao Phần bài tập dưới đây
sẽ giải quyết vấn đề này Trong bài tập này số liệu được cho là ở Mỹ, từ quý 1 năm
1970 đến quý 4 năm 1979 Ta sẽ xây dựng mô hình về tổng lượng tiền gửi tiết kiệm trong các ngân hàng ở Mỹ trong khoảng thời gian trên Việc xây dựng mô hình sẽ chú trọng đến việc giải thích, nghiên cứu lý thuyết để tìm được đúng các yếu tố tác động đến lượng tiền gửi Vì vậy một số biện pháp kĩ thuật sẽ được trình bày vắn tắt.
2 Giải thích các biến trong mô hình 2.1 Giải thích tên các biến
tại nước Mĩ (là các khoản tiền gửi tiết kiệm, có kỳ hạn, lãi suất thấp và không thể viết séc) ở quý t ( nói cách khác chính là các khoản tiền gửi có kì hạn ở ngân hàng)
của 4 giá trị thu nhập khả dụng của 4 quý trước) (đơn vị: triệu dollar)
Trang 7 QRDPASSt : lãi suất trung bình của các khoản tiền gửi có kì hạn trong ngân hàng ở quý t
khoản tiền gửi có kì hạn và tín phiêu chính phủ ở quý t)
+ Có giá trị bằng 0 nếu thời gian là trước quý III năm 1978 + Có giá trị bằng 1 nếu thời gian là sau quý III năm 1978
lạm phát ở quý trước
2.2 Dự kiến dấu và giải thích dựa theo các lý thuyết kinh tế
còn lại là các biến độc lập.
biến độc lập được xác định như sau:
nhập khả dụng tăng lên 1$ thì tiêu dùng sẽ tăng MPC$ còn tiết kiệm sẽ tăng MPS $
Khoản tiền tiết kiệm rất có thể sẽ được gửi vào ngân hàng Vì vậy nhìn chung, khi thu nhập khả dụng tăng lên thì lượng tiền gửi có kì hạn tại ngân hàng cũng sẽ tăng lên
Mối tương quan thuận chiều, dấu (+)
Trang 8 QRDPASSt: mang dấu dương (+), bởi theo lý thuyết kinh tế và trên thực
tế thì khi lãi suất tăng thì mọi người thường có xu hướng gửi tiền nhiều hơn vào ngân hàng
chính phủ chính là một hàng hóa thay thế cho tiền gửi ngân hàng, vì vậy khi lãi suất tín sphiếu tăng lên, mọi người sẽ mua nhiều tín phiếu hơn, giảm gửi tiền ở ngân hàng khiến cho lượng tiền gửi ở ngân hàng giảm xuống Mối tương quan nghịch chiều.
hàng với lãi tín phiếu Vì vậy khi SPREADt tăng lên , nghĩa là lãi tiền gửi ngân hàng tăng tương đối so với lãi tín phiếu, mọi người sẽ đầu tư tiền vào kênh này nhiều hơn, lượng tiền gửi sẽ tăng lên Mối tương quan thuận chiều.
nhánh ngân hàng thì mọi người sẽ có thể gửi tiền 1 cách dễ dàng hơn, nghĩa là chi phí giao dịch giảm xuống Điều này sẽ khuyến khích mọi người gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn Mối tương quan dương.
cho lãi suất thực tế của các khoản tiền gửi tiết kiệm giảm xuống Người ta sẽ rút tiền
ra khỏi ngân hàng để đầu tư vào các kênh khác khiến cho lượng tiền gửi giảm xuống
Mối tương quan nghịch chiều.
Ở Mỹ sau cuộc khủng hoảng năm 1930, đã diễn ra một cuộc đại suy thoái
khiến cho hệ thống ngân hàng ở Mỹ sụp đổ Các chính khách Mỹ lúc đấy cho rằng nguyên nhân của cuộc việc sụp đổ chính là do các ngân hàng cạnh tranh với nhau quá gay gắt về lãi suất
Từ đó, các giới chức Mỹ đã đề ra điều luật Q với nội dung cơ bản như sau:
Không cho phép các ngân hàng trả lãi suất cho các khoản tiền gửi có thể viết sec ( Một hình thức tiền gửi không kỳ hạn) và buộc các ngân hàng giữ trần lãi suất với các khoản tiền gửi có kì hạn Điều luật này kéo dài đến năm 1980 mới bãi bỏ.
Trang 9 Vào năm 1960, tình trạng lạm phát cao diễn ra ở Mỹ khiến cho người gửi
tiền rút tiền ra khỏi ngân hàng để đầu tư vào các kênh khác có lợi hơn Vì vậy, các ngân hàng đã nghĩ ra một biện pháp để “lách” điều luật quy định về trần lãi suất là:
các ngân hàng sẽ lập ra các quỹ tương hỗ để huy động vốn trên thị trường tiền tệ Lãi suất ở các quỹ tương hỗ này không bị điều chỉnh bởi điều luật Q ( Bởi hình thức của các quỹ tương hỗ là cùng góp vốn để đầu tư chứ không phải là một nghiệp vụ huy động vốn – cho vay của ngân hàng) Lãi suất của các quỹ tương hỗ này điều chỉnh theo lãi suất thị trường.
Trước quý III năm 1978, lãi trung bình của thị trường ở mức thấp
(khoảng 5%) Các quỹ tương hỗ không đem lại nhiều lợi nhuận Tiền vẫn được gửi vào ngân hàng do an toàn hơn.
Sau quý III năm 1978, lãi trung bình của thị trường tăng đột biến lên
10% Lãi suất của các quỹ tương hỗ cũng tăng theo và cao hơn rất nhiều so với lãi ngân hàng (do lãi ngân hàng bị vướng vào trần lãi.
Chính vì vậy , người Mỹ đã rút tiền ra khỏi ngân hàng để đầu tư vào các quỹ tương hỗ khiến cho lượng tiền gửi vào ngân hàng giảm đột biến.
Suy ra, dấu của hệ số của biên giả sẽ là dấu âm Nghĩa là nếu biến giả
nhận giá trị là 0 ( trước quý III 1978) thì sẽ không có ảnh hưởng gì Còn nếu biến giả nhận giá trị 1 ( sau quý III 1978) thì dấu âm biểu hiện việc về mặt trung bình thì lượng tiền gửi sẽ giảm xuống.
3 Xây dựng mô hình
Trang 10phủ là 1 ví dụ) thì gửi tiền vào ngân hàng sẽ có lợi hơn, người ta sẽ gửi tiền vào nhiều hơn Như vậy biến SPREAD sẽ hợp lý hơn việc chỉ dùng biến QRDPASSt Vậy nếu ta sử dụng cả hai biến QRDPASSt và QRTB3Yt thì sao? Điều này sẽ dễ dẫn đến hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình hồi quy bởi 2 biến QRDPASSt và QRTB3Yt ( tức là giữa lãi tiền gửi ngân hàng và lãi tín phiếu chính phủ) có mối quan hệ với nhau, được điều chỉnh một phần bởi nhau và có thể biểu diễn một biến này bằng biến kia (đa cộng tuyến).
r = 0.8546> 0.8 giữu hai biến có tương quan cao
bởi nó là thu nhập cố định ( được tính bằng TB trướt của 4 quý trước đó nên đã san bằng các chênh lệch) Vì vậy biến QYPERMt sẽ ít có những biến động Vì vậy có thể nói tiền gửi vào ngân hàng trong ngắn hạn sẽ ít chịu tác động bởi thu nhập cố định QYPERMt Hơn nữa giữa hai biến thu nhập QYDUSt và QYPERMt có tương quan cao nên nếu cho cả hai vào mô hình sẽ dễ đẫn đến hiện tượng đa cộng tuyến.Vì vậy ta quyết định không cho biến QYPERMt vào mô hình.
r = 0.9994> 0.8 tương quan cao.
Trang 11 Như vậy ta hồi quy biến QDPASSt theo các biến QDUSt, SPREAD, EXPINFt, BRANCHt, MMCDUMt.
Trang 123.2 Hồi quy mô hình dự kiến 3.2.1.Hồi quy biến QDPASSt theo các biến QDUSt, SPREAD, EXPINFt, BRANCHt, MMCDUMt.
R 2 = 94,12 %, R 2 hiệu chỉnh = 93,25% cao, các biến độc lập ta chọn giải thích được nhiều cho sự biến động trong biến phụ thuộc.
Xét cặp giả thiết : H0: R2 =0 H1: R2 >0
Trang 13bởi khi có càng nhiều chi nhánh thì người ta dễ dàng gửi tiền hơn cũng đồng thời dễ rút tiền hơn Vì vậy xét về dài hạn biến BRANCHt không thực sự có tác động đến biến phụ thuộc → Bỏ biến BRANCHt
3.2.2.Hồi quy biến biến QDPASSt theo bốn biến QDUSt, SPREAD, EXPINFt và MMCDUMt
Trang 143.3 Kiểm định mô hình và sửa lỗi
Ta thấy sau khi bỏ biến BRANCHt:
thích được nhiều cho sự biến động của biến phụ thuộc.
Kiểm định cặp giả thiết : H 0 : R 2 =0
H 1 : R 2 >0
Có F ob = 126,49 > F(4, 35) ≈ 2,87 suy ra bác bỏ H 0 → Mô hình “phù hợp”
Kiểm tra giá trị P-value với mức ý nghĩa 5 % ta thấy tất cả các ước lượng của các
hệ số đều có ý nghĩa thống kê trừ duy nhất biến EXPINFt Như vậy việc bỏ biến BRANCHt đi là hợp lý vì từ 3 hệ số không có ý nghĩa thống kê đã giảm xuống còn một.
Tuy nhiên vấn đề đặt ra là có nên bỏ biến EXPINFt ra khỏi mô hình hay không Ta thấy ở mức ý nghĩa 5% thì hệ số của biến EXPINFt không có ý nghĩa thống kê, tức là ta
có thể bỏ biến này ra khỏi mô hình Tuy nhiên, theo ý kiến của nhóm thì ta sẽ không bỏ biến này khỏi mô hình bởi theo lý thuyết thì chắc chắn lượng tiền gửi sẽ phụ thuộc vào lạm phát Nếu tỉ lệ lạm phát biến động thì chắc chắn lượng tiền gửi vào ngân hàng sẽ biến động Nhóm đặt “niềm tin” vào biến EXPINFt.
Bây giờ ta sẽ kiểm định những khuyết tật của mô hình.
Sử dụng kiểm định RESET của Ramsey:
Lệnh ovtest
Trang 15Có P-value = 0,5942> 0.05 suy ra không đủ cơ sở bác bỏ H o , mô hình không thiếu biến
Mean VIF = 2,41 < 10 → mô hình không có hiện tượng đa cộng tuyến
Xem xét các giá trị Skewness và Kurtosis
H 1 : Phần dư không phân phối chuẩn Dùng lệnh sktest r
Trang 16Có P-value = 0.0224 < 0.05 suy ra bác bỏ H o → phần dư không phân phối chuẩn.
Lỗi này là do số liệu vì vậy ta không thể sửa được.
Dùng kiểm định Breusch – Pagan ( lệnh hettest) Cặp giả thiết : H o : Phương sai sai số không đổi
H 1 : Phương sai sai số thay đổi
Trang 17Có d=0,7364696 < d L ≈ 1,104 suy ra có tự tương quan dương
Trang 18Sửa lỗi tự tương quan
Trang 19Sau khi sửa lỗi tự tương quan ta thấy có đến ba hệ số không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5% là qydus, expinf, mmcdum Như vậy sau khi sửa thì mô hình còn có nhiều khuyết tật hơn Vì vậy ta quyết định sẽ không chọn mô hình sau khi sửa lỗi tự tương quan.
4 Diễn giải mô hình
QDPASSt = 30913,67 + 83,51995 QYDUSt + 2507,369 SPREADt – 344,9243 EXPINFt
Diễn giải mô hình :
gửi tiết kiệm tại S&L vẫn là 30913,67 triệu dollar + Hệ số góc ^β 1 = 83,51995: Khi thu nhập khả dụng tăng lên 1 triệu dollar thì lượng tiền gửi tiết kiệm tại S&L tăng trung bình 83,51995 triệu dollar , với điều kiện các yếu tố khác không đổi.
+ Hệ số góc ^β 2 = 2507,369: Khi chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và tín phiếu tăng thêm
1 % thì lượng tiền gửi tiết kiệm tại S&L tăng trung bình 2507,369 triệu dollar, với điều kiện các yếu tố khác không đổi.
+ Hệ số góc ^β 3 = -344,9243: Khi lạm phát tăng 1% thì lượng tiền gửi tiết kiệm tại S&L giảm trung bình 344,9243 triệu dollar, với điều kiện các yếu tố khác không đổi.
+ Hệ số góc ^β 4 = -21242,9: Sau quý 3 năm 1978 thì lượng tiền gửi tiết kiệm tại S&L giảm trung bình 21242,9 triệu dollar, với điều kiện các yếu tố khác không đổi.
Trang 20.
Trang 21Bài 2 – Xây dựng mô hình lượng cầu
thịt lợn
1 Giới thiệu
Ở bài tập này chúng em sẽ xây dựng mô hình về lượng cầu thịt lợn ở nước Mỹ Lý thuyết kinh tế đã rõ ràng, nhiệm vụ là sẽ phải xây dựng mô hình ấy như thế nào, chọn biến gì, khắc phục lỗi ra sao Các bước xây dựng sẽ được trình bày cụ thể ngay sau đây.
2 Giải thích các biến trong mô hình 2.1 Giải thích tên các biến
conpkt: Lượng thịt lợn trên đầu người Mỹ tại quí t (kg)
pripkt: giá của 100 pound thịt lợn (dollar)
pribft: giá của 100 pound thịt bò (dollar)
propkt: lượng thịt lợn được sản xuất trong quí t tại Mỹ (tỷ pound)
yduspt: thu nhập khả dụng trên đầu người Mỹ tại quí t (dollar)
lyduspt: logarit của thu nhập khả dụng trên đầu người Mỹ quý t
d i : là biến giả, có giá trị =1 nếu quan sát thu được ở quí i và bằng 0 nếu không thuộc quí i (i=1,2,3) Các biến giả thể hiện lượng thịt lợn tiêu thụ
chênh lệch tương ứng giữa các quý 1, 2, 3 so với quý 4
2.2 Dự kiến dấu và giải thích dựa trên các lý thuyết kinh tế
Theo lý thuyết kinh tế vi mô thì ta có hàm cầu về một hàng hóa X có dạng:
D(X)=f(P x ;P y ,I,Te,N,E) trong đó D(X) là lượng cầu hàng hóa X, P x là giá hàng hóa
Trang 22 di có thể đóng vai trò như Te vì có thể cho rằng tại các thời điểm khác nhau (các
quí khác nhau) thì thị hiếu của người tiêu dùng đến việc thiêu thụ thịt lợn có thể thay đổi.
pribf có thể đóng vai trò như P Y do thịt bò là một hàng hóa có thể thay thế cho thịt lợn, có liên quan đến mặt hàng thịt lợn
lydusp là logarit của thu nhập khả dụng ydusp nên cũng có thể coi lydusp đại
diện cho yếu tố I (thu nhập)
propkt là lượng cung thịt lượng thịt lợn được sản xuất ở quý t, chưa có lý
thuyết kinh tế kinh tế nào nói về ảnh hưởng của lượng cung một hàng hóa đến lượng cầu hàng hóa đó
Theo lý thuyết kinh tế ta sẽ có dấu các hệ số như sau:
(theo lý thuyết kinh tế) pribft (Dương) Vì khi giá hàng hóa thay thế tăng lên sẽ khiến lượng tiêu thụ
hàng hóa X tăng lên (theo lý thuyết kinh tế) yduspt
(Dương) Vì khi thu nhập khả dụng tăng lên, chi tiêu cho hàng hóa X sẽ tăng lên(theo lý thuyết kinh tế) Lyduspt (Dương) Vì khi phần trăm thu nhập tăng lên thì chi tiêu cho hàng hóa X
cũng sẽ tăng lên Propkt (chưa xác
( theo lý thuyết kinh tế ) D1 (chưa xác
thích: ydusp sẽ phù hợp hơn ldusp để xét ảnh hưởng của thu nhập đến lượng cầu một hàng hóa khá thiết yếu như thịt lợn Bởi lydusp là logarit của ydusp, nó đo phần trăm tăng lên của thu nhập Giả sử nếu cho lydusp vào mô hình với hệ số ước lượng được là
Trang 23bản thân thu nhập tăng lên bao nhiêu thì ta lại không xác định được, hơn nữa giá trị
cụ thể của thu nhập là bao nhiêu, cao hay thấp ta cũng không xác định được Giả sử lydusp cùng tăng lên 1 nghĩa là thu nhập cùng tăng lên 1%, ta hãy cùng xem ảnh hưởng của nó đến biến phụ thuộc:
Nếu thu nhập là rất cao việc tăng thu nhập thêm 1% đồng nghĩa với lượng tăng tuyệt đối là rất lớn và điều này cũng sẽ không ảnh nhiều đến lượng cầu thịt lợn vì nhu cầu thịt lợn của 1 người cũng chỉ có giới hạn ở một mức nào đó ( nhu cầu sinh học)
Lượng tăng thêm của thu nhập được dùng để mua thêm các hàng hóa khác xa xỉ hơn, hơn là dùng để mua thịt lợn.
Nếu thu nhập là ít hoặc tương đối việc tăng thu nhập thêm 1 % sẽ có ý nghĩa khá nhiều đến việc tăng tiêu dùng thêm thịt lợn Lượng tiêu dùng thịt lợn sẽ tăng lên bởi mọi người có thêm thu nhập dành cho việc ăn uống.
Như vậy cùng là việc biến lydusp tăng thêm 1 đơn vị, hay thu nhập tăng thêm 1 % thì ảnh hưởng của nó đến lượng tiêu thụ thịt lợn lại rất khác nhau Đó là lý do tại sao
ta chọn ydusp.
Không có lý thuyết kinh tế nào cho rằng lượng cầu của một hàng hóa lại phụ thuộc vào lượng cung của hàng hóa đó Thường thì người ta sẽ cung một hàng hóa theo nhu cầu của hàng hóa ấy Như vậy để xét các yếu tố ảnh hưởng đến lượng cầu một hàng hóa ta sẽ không cho lượng cung vào → Không cho biến propkt vào mô hình.
3.2 Hồi quy mô hình dự kiến