Khái niệm bẫy thu nhập trung bình lần đầu tiên được Indermit Gill và Homi Kharas,chuyên gia về kinh tế phát triển của Ngân hàng Thế giới WB đưa ra để chỉ tình trạngsuy giảm tăng trưởng k
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
-*** -TIỂU LUẬN KINH TẾ PHÁT TRIỂN
ĐỀ TÀI: TÌM HIỂU BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH VÀ
LIÊN HỆ TỚI VIỆT NAM
Nhóm sinh viên thực hiện: NHÓM 15
Hà Nội, tháng 9 năm 2019
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I – TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 5
1.1 Nguồn gốc của bẫy thu nhập trung bình 5
1.2 Bẫy thu nhập trung bình từ năm 2005 8
1.3 Định nghĩa và phân loại 11
1.4 Những chuyển đổi cần thiết để vượt qua bẫy thu nhập trung bình 15
1.4.1 Bước chuyển thứ nhất: “Bước ngoặt Lewis” 15
1.4.2 Bước chuyển thứ 2: Nâng cao trình độ công nghệ 17
1.4.3 Bước chuyển thứ ba: Chuyển đổi từ chế độ chuyên chế sang chế độ dân chủ 19
CHƯƠNG II – LIÊN HỆ TÌNH HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM 21
2.1 Phân tích mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam hiện nay 21
2.2 Một số biện pháp phòng tránh bẫy thu nhập trung bình 22
2.2.1 Đổi mới và tái cơ cấu nền kinh tế 22
2.2.2 Chuyển dịch cơ cấu theo hướng hội nhập và định hướng xuất khẩu 22
2.2.3 Nâng cao hiệu quả các chỉ tiêu tăng trưởng 22
2.2.4 Hoàn thiện thể chế, tập trung vào thể chế kinh tế 23
KẾT LUẬN 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
Trang 3DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Hình 1: GDP bình quân đầu người, Đông Á, Mỹ Latinh và Trung Âu 8Hình 2: Biểu đồ xu hướng của Google về tiêu đề tin tức “bẫy thu nhập trung bình” 11
Trang 4Khái niệm bẫy thu nhập trung bình lần đầu tiên được Indermit Gill và Homi Kharas,chuyên gia về kinh tế phát triển của Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra để chỉ tình trạngsuy giảm tăng trưởng kinh tế xuất hiện tại những nước đang phát triển, khiến cho nhữngnước này sau một thời gian tăng trưởng với tốc độ cao đã vươn lên đạt đến mức thu nhậptrung bình thì không thể trở thành nước có thu nhập cao trong nhiều thập kỷ sau đó do tốc
độ tăng trưởng kinh tế suy giảm Bẫy thu nhập trung bình là một chướng ngại mà bất kỳquốc gia nào cũng phải trải qua trong quá trình phát triển kinh tế Các nước bị rơi vào bẫythu nhập trung bình thường có tỉ lệ đầu tư thấp, ngành chế tạo phát triển chậm, các ngànhcông nghiệp ít đa dạng và thị trường lao động kém sôi động Do vậy, việc tránh khỏi bẫythu nhập trung bình có ý nghĩa quan trọng đối với các quốc gia trên con đường phát triển
Việt Nam có thể đối diện với bẫy thu nhập trung bình gắn với nguy cơ tốc độ tăngtrưởng chậm lại vì các nhân tố tăng trưởng theo bề rộng đã tới giới hạn và các động lựcphát triển theo chiều sâu còn mờ nhạt, hoặc thiếu vững chắc Động lực mà những cải cáchtrước đây tạo ra đã không còn đủ mạnh và cần có thêm động lực mới Năng lực cạnh tranh
cả cấp vĩ mô và vi mô đều chậm được cải thiện Chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệuquả, các cân đối vĩ mô chưa vững chắc, chất lượng nguồn nhân lực… vẫn là điểm nghẽncản trở sự phát triển Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chưa đáp ứng được yêu cầu, đang bộc lộnhững hạn chế yếu kém của một nền kinh tế thiếu liên kết, năng suất và chất lượng thấp
Trang 5nguồn lực chưa hợp lý, trong khi tư duy quản lý còn chậm đổi mới, bị lợi ích nhóm trìkéo, bóp méo
Trong bối cảnh đó, nhận thấy được tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc nghiêncứu bẫy thu nhập trung bình ở các quốc trên thế giới, từ đó liên hệ tới Việt Nam, đề xuấtbiện pháp đúng đắn để tránh khỏi bẫy thu nhập trung bình, đạt được mục tiêu trong Chiếnlược phát triển kinh tế Việt Nam là đến năm 2030 thu nhập bình quân đầu người đạt 3.500
USD Nhóm quyết định lựa chọn đề tài: “Tìm hiểu về bẫy thu nhập trung bình và liên
hệ tới Việt Nam”.
Bài tiểu luận được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Vũ Hoàng Nam
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành vẫn còn rất nhiều thiếu sót chúng em mongnhận được sự góp ý của thầy để tiểu luận này được hoàn chỉnh hơn
Trang 6CHƯƠNG I – TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU1.1 Nguồn gốc của bẫy thu nhập trung bình
Khoảng một thập kỷ trước, vào năm 2005, khi đang nghiên cứu phát triển kinh tế ởĐông Á, các nhà kinh tế nhận thấy rằng không có chiến lược tăng trưởng dễ tiếp cận nào
có thể đề xuất cho các nhà hoạch định chính sách ở các nền kinh tế có thu nhập trung bìnhtrong khu vực Các tài liệu phát triển kinh tế thịnh hành có nền tảng dựa trên mô hình tăngtrưởng Solow, nhấn mạnh tích lũy vốn vật chất và nhân lực hiệu quả là động lực chínhcủa tăng trưởng Tại Ngân hàng Thế giới, điều này đã được vận hành bằng cách quy địnhhướng tới sản xuất tập trung vào xuất khẩu để tận dụng lao động tương đối rẻ, kết hợp vớicác chương trình giáo dục và y tế để cải thiện kỹ năng Định hướng xuất khẩu sẽ đảm bảoviệc phân bổ đầu tư dựa trên giá thị trường được thiết lập trên phạm vi quốc tế và sự nângcao về vốn con người sẽ tạo ra sự tăng trưởng bình đẳng
Mô hình cơ bản này áp dụng phù hợp cho các nước thu nhập thấp Nhưng vào đầunhững năm 2000, các nhà kinh tế nhận thấy rằng nó không còn phù hợp ở Đông Á Tấtnhiên, khó khăn này là do sự xuất khẩu của Trung Quốc gia tăng mạnh và các nước thunhập trung bình khác ở Đông Á, đặc biệt là các nước ASEAN, lo ngại rằng họ không thểduy trì xuất khẩu khi đối mặt với cạnh tranh từ Trung Quốc Với mức lương đã tăng lên
do sự chuyển đổi thành công từ thu nhập thấp sang thu nhập trung bình, các quốc gia nhưPhilippines, Malaysia và Thái Lan khó cạnh tranh với Trung Quốc trong sản xuất thâmdụng lao động Đến năm 2005, thời hạn ba năm cho các hạn chế đối với các nhà đầu tưnước ngoài trong thỏa thuận gia nhập WTO của Trung Quốc đã chấm dứt và đầu tư trựctiếp nước ngoài (FDI) đã chuyển hướng từ Đông Nam Á sang Trung Quốc
Hiệp định về Dệt may cũng chấm dứt các hạn chế đối với thương mại hàng may mặc
mà đã chịu hạn ngạch kể từ Hiệp định MultiFibre năm 1974 Các nền kinh tế Đông Á đã
sử dụng các hạn ngạch này để tạo nên các ngành công nghiệp xuất khẩu của họ Nhưngđến năm 2005 họ đã nhận ra rằng chiến lược này cần một cuộc đại tu quyết liệt Thật vậy,
từ năm 2006 đến 2013, giá trị xuất khẩu hàng may mặc của Malaysia, Philippines và TháiLan giảm trung bình 2, 8 và 4% hàng năm
Trang 7Trong hoàn cảnh này, một chiến lược tăng trưởng dựa trên xuất khẩu thâm dụng laođộng không còn hữu ích cho các nước thu nhập trung bình trong khu vực.
Đồng thời, các lý thuyết về tăng trưởng nội sinh đã trở thành tư tưởng chủ đạo trongcác cuộc tranh luận chính sách Sau sự tiên phong của Romer (1986), Lucas (1988) vàmột thập kỷ sau là Aghion và Howitt (1996), các nhà kinh tế đã bắt đầu quan tâm tới lýthuyết ‘’Cải tiến khoa học công nghệ và Hàm sản xuất tổng hợp’’ (1957) của Solow
Cạnh tranh, khoa học và công nghệ có tiềm năng mở rộng đã thành xu hướng của lýthuyết tăng trưởng Những mô hình này dường như giải thích rõ hơn về hiện tượng hội tụnăng suất (Baumol, 1986) khi một nhóm các nước tiên tiến được lựa chọn thể hiện sự hội
tụ, ít nhất là về tốc độ tăng trưởng kinh tế nếu không xét về mức thu nhập bình quân đầungười, trong khi các quốc gia thu nhập thấp và trung bình, chỉ có một vài ngoại lệ, đã bị
bỏ lại phía sau (Pritchett, 1997) Và tất nhiên, những đột phá về công nghệ và định giátăng vọt của các công ty công nghệ cho thấy một nền kinh tế mới với các nền kinh tế cómức độ quan trọng đang diễn ra trong thế kỷ 21
Khu vực ASEAN đã bắt đầu quan tâm về việc chuyển đổi sang các nền kinh tế trithức Hàn Quốc đã thực hiện thành công điều này sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Ánăm 1997/98 Điều này sẽ sớm xảy đến với hầu hết các nước ASEAN có thu nhập trungbình, do chất lượng yếu kém của hệ thống giáo dục đại học và tỷ lệ nhập học thấp, thiếubằng sáng chế trong nước, mức độ đổi mới và khuếch tán công nghệ thấp, thiếu hụt hệsinh thái đầu tư mạo hiểm – Các công ty lắp ráp không di chuyển tới mức cao hơn trongchuỗi giá trị
Các cuộc họp thường niên của Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế được tổchức tại Singapore năm 2006 đã tạo cơ hội đánh giá lại các vấn đề mà các nước thu nhậptrung bình trong khu vực phải đối mặt, chủ yếu là các nước trong ASEAN
Mặc dù trong các bối cảnh và môi trường kinh tế xã hội khác nhau, các nền kinh tếđang phát triển nhanh chóng như Brazil đã đột nhiên bị đình trệ Công việc thực nghiệmcủa Easterly, Kremer, Pritchett và Summers (1993) đã cho thấy sự đảo ngược của tốc độtăng trưởng là phổ biến, do đó, Đông Á, với quá khứ tăng trưởng thành công không thểtiếp tục dự đoán tương lai của nền kinh tế theo kiểu phân tích kỹ thuật Hình 1 là phiên
Trang 8bản cập nhật của đồ thị trong nghiên cứu của Gill và Khara (2007), cho thấy năm nền kinh
tế ở Châu Mỹ Latinh Argentina, Brazil, Chile, Colombia và Mexico đã tăng trưởng nhanhchóng từ năm 1950 đến giữa những năm 1970, sau đó bị đình trệ Chúng tôi đã đối chiếukinh nghiệm này với mô hình tăng trưởng của 4 nước công nghiệp mới Đông Á và NhậtBản, cho thấy sự tăng trưởng ổn định liên tục, và con đường nào trong 5 quốc gia ĐôngNam Á sẽ đi theo
Trong Hình 1, chúng tôi cũng đã thêm 7 quốc gia thành viên mới của Liên minhchâu Âu, tập hợp các quốc gia mới nhất để duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh chóng ở mứctrung bình và trong trường hợp nhiều trong số đó đã đạt được tình trạng thu nhập cao
Điểm mấu chốt là không giống như các nền kinh tế tăng trưởng cao EA5, các quốcgia có thu nhập trung bình – các nước đang phát triển Đông Á, Trung Âu và Mỹ Latinh,cho ra các kết quả khác nhau Nhóm dẫn đầu đã tiếp tục phát triển nhanh chóng, cùng vớichâu Âu và châu Mỹ Latinh trở thành nền kinh tế có thu nhập cao trong những năm 2000,trong khi những nước đang phát triển Đông Á đã tăng trưởng chậm hoặc trì trệ, dườngnhư bị mắc kẹt trong thu nhập trung bình
Hình 1: GDP bình quân đầu người, Đông Á, Mỹ Latinh và Trung Âu
Trang 9Nguồn: Maddison (2003), Bolt and van Zanden (2014) and Conference Board Total
Economy Database
Hình minh họa cho thấy sự thay đổi trong thu nhập bình quân đầu người trong bốnnhóm khu vực: 5 nước Đông Á thu nhập cao (Hồng Kông, Trung Quốc; Nhật Bản, HànQuốc, Cộng hòa, Singapore, và Đài Loan, Trung Quốc), 5 nước Đông Á có thu nhậptrung bình (Trung Quốc; Indonesia; Malaysia; Philippines và Thái Lan), 5 nước châu MỹLatinh có thu nhập trung bình cao (Argentina; Brazil; Chile; Colombia; và Mexico: tối đa
và tối thiểu), và 8 nước thành viên mới của EU (Bulgaria; Croatia; Cộng hòa Séc,Hungary; Ba Lan; Romania; Slovakia Cộng hòa; và Slovenia: tối đa và tối thiểu) Trongnhóm cuối cùng, trước năm 1985, dữ liệu về Tiệp Khắc được hiển thị, thay vì Cộng hòaSéc và Slovakia
Sự mâu thuẫn giữa nền tảng lý thuyết và thực nghiệm này đã đưa ra thuật ngữ bẫythu nhập trung bình để mô tả các nền kinh tế với mức thu nhập trung bình đang bị ép giữacác đối thủ cạnh tranh Một mặt là nền kinh tế thu nhập thấp chi phối ( có tính cạnh tranhcao trong các khâu sản xuất yêu cầu tay nghề thấp, với mức chi phí thấp nhất có thể), mộtmặt là các nước thu nhập cao với sự cạnh tranh trong các ngành yêu cầu chuyên môn hóacao
Trang 10Về bẫy thu nhập trung bình Châu Á, trong khi đã có nhiều tiến bộ ở nhiều quốc gia,tăng trưởng đã chậm hơn so với trước cuộc khủng hoảng tài chính châu Á Trung Quốc đãtiếp tục phát triển nhanh chóng, tạo ra cả cơ hội cho các nước láng giềng cũng như mối đedọa đối với các ngành công nghiệp xuất khẩu của họ Liệu các nước ASEAN có thu nhậptrung bình như Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan hay Việt Nam có thể mong đợitái tạo kinh nghiệm tăng trưởng của EA5 hay sẽ đi theo quỹ đạo của Mỹ Latinh.
1.2 Bẫy thu nhập trung bình từ năm 2005
Năm 2004, tạp chí Foreign Affairs đăng bài Toàn cầu hóa thiếu vắng những nước
trung bình của GS Geoffrey Garrett, lúc đó đang dạy tại University of California, Los
Angeles Bài viết cho rằng các nước thu nhập trung bình bị mắc kẹt, một bên không cạnhtranh nổi với các nước giàu có công nghệ vượt trội, bên kia lại cũng thua các nước thunhập thấp vì giá nhân công thấp Vì thế trên thị trường kết nối toàn cầu hóa, các nướctrung bình này có tốc độ phát triển thua cả nước giàu lẫn nước nghèo
Để minh họa, bài viết sắp xếp các nền kinh tế theo GDP đầu người vào năm 1980,rồi chia thành ba nhóm: giàu, trung bình và nghèo Sau đó, tác giả so sánh tốc độ pháttriển của các nhóm trong vòng hai thập kỷ và phát hiện các nước trong nhóm trung bìnhthật sự phát triển chậm hơn so với hai nhóm còn lại Ba năm sau, Homi Kharas vàIndermit Gill thuộc Ngân hàng Thế giới trích dẫn bài này trong cuốn sách của họ rồi chế
ra cụm từ “bẫy thu nhập trung bình” - khai sinh một khái niệm được nhiều nhà lãnh đạo
các nước, rồi chuyên gia kinh tế, sử dụng trong nhiều tình huống
Cụm từ "bẫy thu nhập trung bình" ngay lập tức trở nên phố biến của với các nhàhoạch định chính sách và chuyên gia phát triển Ở Đông Á, cuộc suy thoái lớn năm 2008
đã làm rung chuyển niềm tin của các nhà hoạch định chính sách kinh tế và gây ra mộtcuộc tranh luận lớn về những bước đi tiếp theo Đến giữa năm 2009, các nhà hoạch địnhchính sách của Malaysia, bao gồm cả Thủ tướng Najib, đã bắt đầu sử dụng cụm từ nàytrong các bài phát biểu, thậm chí đã ra mắt Hội đồng tư vấn kinh tế quốc gia để xây dựng
kế hoạch thoát khỏi bẫy Tại Việt Nam, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã sử dụngkhái niệm “bẫy thu nhập trung bình" vào năm 2009, cũng chịu ảnh hưởng của Kenichi
Trang 11Ohno (2009) - người đang viết về một phiên bản bẫy riêng, đề cập đến việc thiếu nângtầm trình độ công nghiệp trong nền kinh tế Ở Trung Quốc, từ năm 2010, các quan chứcchịu trách nhiệm về việc chuẩn bị Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 từ 2011-2016, bao gồm Liu
He, bắt đầu tích cực tranh luận liệu rằng Trung Quốc có đang trở nên dễ bị tổn thươngtrước bẫy thu nhập trung bình
Khi các nhà lãnh đạo chính phủ, các học giả liên tục nhắc đến thuật ngữ này, sau đó
là các phương tiện truyền thông chính thống bắt đầu áp dụng nó Đến giữa năm 2011, đã
có các tiêu đề báo mỗi tháng sử dụng thuật ngữ "bẫy thu nhập trung bình" đủ để được ghidanh là xu hướng tìm kiếm của Google Sau khi ra mắt báo cáo ngân hàng thế giới củaTrung Quốc 2030 vào tháng 2 năm 2012, mà có đề cập đến bẫy thu nhập trung bình, đãlàm cho sự quan tâm của truyền thông tăng lên đáng kể Kể từ năm 2012 có một lượngtìm kiếm cụm từ "bẫy thu nhập trung bình” ổn định hàng tháng, điều đó được miêu tả ởbiểu đồ bên dưới:
Hình 2: Biểu đồ xu hướng của Google về tiêu đề tin tức “bẫy thu nhập trung bình”
Nguồn: Google Trends
Ngày càng có nhiều học giả quan tâm đến chủ đề này Tính đến tháng 5 năm 2015,một nghiên cứu của Google Scholar đã thống kê thuật ngữ "bẫy thu nhập trung bình"
được đề cập đến trong hơn 3000 bài viết và gần 300 bài sử dụng nó làm tiêu đề Tuynhiên, "bẫy thu nhập trung bình" không có một định nghĩa chung Thay vào đó, "bẫy thu
Trang 12nhập trung bình" được sử dụng một cách lỏng lẻo để mô tả các tình huống trong đó tăngtrưởng làm chậm kết quả từ các chính sách tồi tệ ở các nước thu nhập trung bình mà đượcchứng minh rằng khó có thể thay đổi trong ngắn hạn.
Phần lớn các tổ chức quốc tế cũng đã tiến hành nghiên cứu riêng của họ về bẫy thunhập trung bình Trong đó, ngân hàng thế giới là tổ chức sử dụng thuật ngữ này nhiều
nhất Ví dụ: Gill và Khara, 2007; Ồ, 2009; Agenor và Canuto, 2012; Agenor và cộng sự,
2012; Jimenez và cộng sự, 2012; Lin và Treichel, 2012; Gill và Raiser (2012); Agenor và Đinh, 2013A; Agenor và Đinh, 2013B; Robertson và Ye, 2013; Agenor và Canuto, 2014;
Falaen và cộng sự, 2014; Tôi và Rosenblatt, 2014; Bulman et al, 2014) Ngân hàng Phát
triển Châu Á là tổ chức sử dụng thuật ngữ này nhiều thứ hai (Felipe et al., 2012A; Felipe
et al., 2012B; Felipe et al.2014) OECD (Jankowska et al., 2012A; Jankowska et al., 2012B, Gurria, 2013, Koen et al., 2013, Pezzini, 2014; Tanaka, 2014) và Quỹ tiền tệ quốc
tế (Aiyar et al., 2013) đã phân tích bẫy thu nhập trung bình, IMF cũng đã sử dụng nó trong nhiều báo cáo và tóm tắt về các quốc gia (ví dụ: IMF, 2014)
Bẫy thu nhập trung bình cũng đã được sử dụng bởi Ngân hàng Phát triển Châu Phi
(Kaberuka, 2013A; Kaberuka, 2013B; Kaberuka, 2013C; Fraser-Moleketi, 2015;
Brixiova và Kangoye, 2013), Ủy ban Châu Âu (Bogumił và Wielądek, 2014) Ngân hàng
Tái thiết và Phát triển Châu Âu (Berglof, 2013, Berglof, 2014), Ngân hàng Phát triển Liên
Mỹ (Devlin, 2014) và Liên Hợp Quốc (UN, 2013a; UN, 2013b)
Trong phần còn lại của tiểu luận này, chúng tôi nhìn lại sự bùng nổ các nghiên cứu
và việc sử dụng thuật ngữ "Bẫy thu nhập trung bình" Chúng tôi xem xét các định nghĩathay thế, bằng chứng thực nghiệm, khái niệm và ý nghĩa chính sách
1.3 Định nghĩa và phân loại
Không hề có một định nghĩa chung nào cho hiện tượng ‘’Bẫy thu nhập trung bình’’,mặc dù có một số cách giải thích được đưa ra và trở nên phổ biến trong giới nghiên cứu
Điều này đôi khi gây nhầm lẫn trong việc xác định xem một nước đã rơi vào bẫy thu nhậphay chưa Ví dụ, Ba Lan đã rơi vào bẫy thu nhập theo nghiên cứu của Woo (2012), trongkhi đó Agenor và Canuto (2012) lại công bố rằng đất nước này đã tránh xa khỏi bẫy thu
Trang 13nhập Chúng tôi sẽ đưa ra các cách giải thich được chấp nhận rộng rãi trong giới nghiêncứu.
Từ quan điểm của Indermit Gill, chuyên gia kinh tế trưởng của WB, của HomiKharas ở Viện Brookings và của GS Kenichi Ohno, Viện Nghiên cứu chính sách quốcgia Nhật, có thể hiểu: Bẫy thu nhập trung bình là khái niệm chỉ tình trạng một quốc giathoát nghèo, gia nhập vào nhóm nước có thu nhập trung bình, với mức GDP trong khoảng1025-9.385USD người/năm nhưng mất nhiều thập kỷ vẫn không trở thành quốc gia pháttriển (nước có GDP trên 9.385 USD/người/năm và đạt các tiêu chí khác về phát triển côngnghệ, kinh tế - xã hội, khả năng viện trợ cho nước ngoài… Nói một cách khác ngắn gọn:
Bẫy thu nhập trung bình là tình trạng bất lực, không thoát ra khỏi mô hình kinh tế dựatrên lao động rẻ và phương pháp sản xuất công nghệ thấp
Thoát nghèo là cả một quá trình dài, phấn đấu không mệt mỏi của các quốc gia
Song, từ việc thoát nghèo đến thịnh vượng lại là một quá trình phức tạp, khó khăn hơnnhiều lần so với quá trình thoát nghèo Vào những năm 80 của thế kỷ XX, rất nhiều nước
có tốc độ tăng trưởng khá cao ở khu vực châu Á như: Indonesia, Malaysia, Philippines,Thái Lan và gần đây là Trung Quốc… hoặc ở Trung Đông và Mỹ La tinh nhưng đến naynhững nước này vẫn bị mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình (TS Đỗ Thị Đông, 2013,tr.272) Nguyên nhân cơ bản của tình trạng vướng vào bẫy thu nhập trung bình được mô
tả có thể bao gồm các vấn đề: (i) Sự suy giảm hiệu quả vốn đầu tư sau quá trình tăngtrưởng kinh tế; (ii) Tiếp tục tình trạng của một nền kinh tế gia công (nền kinh tế trongnước không đủ sức tạo ra giá trị gia tăng mới để tham gia vào chuỗi giá trị công nghiệptoàn cầu do chất lượng nguồn nhân lực thấp; (iii) Sự thống trị của các tập đoàn mangthương hiệu nước ngoài; và (iv) Sự phân hoá thu nhập đưa đến phân cực trong xã hội
Ohno (2009) và trước đó - Garrett (2004) là những người đã thực hiện một cách tiếpcận mô tả để xác định bẫy thu nhập trung bình Ohno tập trung vào sự cần thiết đối vớicác nước thu nhập trung bình phải nâng cao chuỗi giá trị và mô tả cái bẫy là sự phụ thuộcvào các chiến lược tăng trưởng có những giới hạn tự nhiên, chẳng hạn như dựa trên nguồntài nguyên thiên nhiên hoặc dòng vốn FDI Ông ủng hộ một chính sách công nghiệp chủđộng, với các nhóm chính phủ kỹ trị và các liên minh chiến lược với tiến trình thúc đẩykinh doanh Trong cấu trúc này, bẫy thu nhập trung bình là về nền tảng kinh tế vi mô của
Trang 14tăng trưởng Nó nhấn mạnh vào chính sách công nghiệp tích cực của chính phủ Trọngtâm của Garrett có phần khác biệt, mặc dù ông cũng nhấn mạnh vào sự cần thiết của tiến
bộ công nghệ và những khó khăn có thể gây ra bởi toàn cầu hóa và tự do hóa thương mạicho các nước thu nhập trung bình trong nỗ lực thúc đẩy chuỗi giá trị Điều phổ biến trongtất cả các định nghĩa mô tả là họ nhận ra rằng các đặc điểm cấu trúc của các nền kinh tế
có thể là động lực quan trọng của tất cả nhân tố của việc tăng trưởng hiệu suất và một khilợi ích ban đầu từ chuyển đổi cơ cấu lực lượng lao động từ nông nghiệp với năng suấtthấp sang sản xuất năng suất cao hơn và những dịch vụ để thực hiện quá trình đó, cácnguồn tăng trưởng mới sẽ cần thiết
Một định nghĩa thứ hai về bẫy thu nhập trung bình là dựa trên kinh nghiệm Nó dựatrên quan sát rằng nhiều quốc gia vẫn nằm trong một dải thu nhập hẹp trong thời gian dài
Spence (2011) có giải thích rõ ràng nhất về điều này đồng thời trở thành người đầu tiênđưa ra một mức cụ thể cho khái niệm này Ông cho thấy rằng có rất ít quốc gia đã đạtđược mức thu nhập bình quân đầu người trên mức [2005PPP] $ 10.000 kể từ năm 1975
Kết quả là, có một nhóm nhiều quốc gia có mức thu nhập từ 5.000 đến 10.000 đô la
Spence cho rằng các quốc gia đó đang ở trong giai đoạn mà việc nâng thu nhập trung bìnhlên mức cao là một việc vô cùng khó khăn
Một biến thể của phân tích của Spence đã được phát triển bởi Felipe và cộng sự(2012) Họ xác định hai nhóm thu nhập trung bình: một nhóm có phạm vi từ 2.000 đến7.500 đô la và nhóm còn lại có phạm vi từ 7.500 đến 11.500 đô la [1990 PPP] Nếu mộtquốc gia ở trong phạm vi thứ nhất dài hơn 28 năm hoặc dài hơn 14 năm trong phạm vi thứhai, quốc gia đó được phân loại là bị mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình Felipe vàcộng sự xác định 35 quốc gia có thu nhập trung bình đang bị mắc kẹt, trong số 52 quốcgia mà họ đã xem xét
Một số khác đã thực hiện một cách tiếp cận kinh tế lượng Eichengreen, Park vàShin (2013) đã sử dụng thuật ngữ này để khái niệm hóa một tình huống mà một quốc giaphải đối mặt với sự suy giảm đáng kể trong tăng trưởng kinh tế Họ đã đặt ra câu hỏi liệucác quốc gia có thu nhập trung bình có nhiều khả năng gặp phải tình trạng chậm tăngtrưởng hay không Họ kết luận rằng dường như có hai phạm vi của suy giảm tăng trưởng: