Châu Phi hiện nayđang trải nghiệm sự phát triển lớn mạnh nhất của các tổ chức cũng nhưcác mặt hàng sản xuất mang tính thương mại công bằng được cấp chứngnhận.. Các bước đầu tiên được tri
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
BÀI THUYẾT TRÌNH HỌC PHẦN: THƯƠNG MẠI VÀ MÔI TRƯỜNG LỚP TÍN CHỈ: KTE420(2-1617).1_LT
ĐỀ TÀI: THƯƠNG MẠI CÔNG BẰNG ĐẾN GIỚI TÍNH
VÀ MÔI TRƯỜNG TẠI CHÂU PHI Giảng viên hướng dẫn: TS Mai Nguyên Ngọc
Danh sách sinh viên tham gia
Trang 2CHƯƠNG 17: THƯƠNG MẠI CÔNG BẰNG ĐẾN GIỚI TÍNH
VÀ MÔI TRƯỜNG TẠI CHÂU PHI
Tác giả: Laura T Raynolds và Jennifer A Keahey
Giới thiệu
Thương mại công bằng diễn tả một cách tiếp cận đầy hứa hẹn để giảmbớt đói nghèo và bảo vệ sự bền vững của môi trường ở nửa cầu Namthông qua chiến lược “thương mại chứ không viện trợ” Mô hình thươngmại công bằng mang tới cho các nông dân và nhân công trong ngànhnông nghiệp ở nửa cầu Nam một mức giá tốt hơn, các mối liên kết thịtrường bền vững và nguồn tài nguyên cho các dự án xã hội và môi trường
Ở nửa cầu Nam, thương mại công bằng cung cấp cho người tiêu dùngnhững loại sản phẩm khác nhau và đều được chứng nhận đạt được nhữngtiêu chuẩn cao về xã hội và môi trường, đồng thời ủng hộ tích cực đến cácchiến dịch củng cố thói quen tiêu dùng có trách nhiệm Với sự gia tăngtrong mức độ phổ biến, thương mại công bằng đã trở thành một điểm đốinghịch quan trọng phản đối lại mối quan hệ tiêu trừ giữa xã hội và môitrường trong hệ thống ngành thực phẩm truyền thống toàn cầu (Raynolds
et al., 2007)
Thương mại công bằng là một phần trong một loạt các sáng kiến đượcxây dựng trên cơ sở thị trường nhằm thúc đẩy mối quan tâm tới xã hội vàmôi trường thông qua việc mua bán các mặt hàng có tính thay thế, vàthường đã được chứng nhận Trong trường hợp này, thương mại côngbằng liên quan đến các chứng chỉ môi trường khác thường thấy rộng rãi ởcác mặt hàng thực phẩm, hàng lâm nghiệp và vải vóc, cũng như cácchứng chỉ xã hội đối với hàng may mặc, giày dép và các mặt hàng sảnxuất khác (Gereffi and Kaplinsky, 2001) Thương mại công bằng phân biệt
nó với các cách thức khác ở sự mở rộng kết hợp cả mối quan tâm về xãhội và môi trường cũng như đi sâu vào định hình thương mại và điều kiệnsản xuất (Raynolds, 2000; 2002) Mặc dù các sản phẩm mang tính thươngmại công bằng tiếp tục chiếm một phần nhỏ thị phần trên thị trường thếgiới, việc mua bán có chứng nhận đem lại giá trị hơn 1,4 tỷ USD và đangngày một tăng mạnh (FLO-I, 2006a) Hiện nay có hơn 569 tổ chức thươngmại công bằng đã được đăng kí xuyên suốt 54 quốc gia tại Mỹ La Tinh,châu Phi và châu Á, đại diện cho hơn một triệu nông dân và công nhân
Có hơn 18 mặt hàng mang tính thương mại công bằng có chứng nhậnđược bán tại 20 quốc gia khắp châu Âu, Bắc Mỹ và khu vực Thái BìnhDương (FLO-I, 2007a) và những thị trường mới mở đang phát triển ở cácquốc gia có thu nhập trung bình tại nửa cầu Nam như Mexico, Brazil vàNam Phi (Raynolds et al., 2007) Sự mở rộng mạnh mẽ của chứng nhậnthương mại công bằng tới các loại hàng hóa, vùng miền mới cũng như các
Trang 3mối quan hệ trong sản xuất mang theo đó nhiều cơ hội nhưng cũng kèmtheo nhiều thử thách có thể thấy rõ.
Chương viết này phân tích những ảnh hưởng của những nỗ lực thươngmại công bằng đến việc thu hẹp khoảng chênh lệch giữa hai nửa cầu Bắc-Nam, tập trung đặc biệt vào trường hợp của châu Phi Châu Phi hiện nayđang trải nghiệm sự phát triển lớn mạnh nhất của các tổ chức cũng nhưcác mặt hàng sản xuất mang tính thương mại công bằng được cấp chứngnhận Bởi châu Phi đại diện cho một trong những vùng khó khăn nhấttrên thế giới, nhu cầu về thương mại công bằng để tăng cường sự bềnvững của môi trường và công bằng xã hội cho người nông dân và nhâncông trong ngành công nghiệp là rất cấp thiết1 Như đã khẳng định,thương mại công bằng ở châu Phi có liên hệ gần gũi với những sáng kiến
về hữu cơ, trong nỗ lực kìm hãi suy thoái môi trường trong ngành xuấtkhẩu nông sản Sự ủng hộ của thương mại công bằng cho phía sản xuất
và cho việc trao quyền hành thuộc về các tổ chức có mối liên hệ mạnh mẽđến vấn đề bình đẳng giới, bênh vực tính ủy thác xã hội trong các hoạtđộng Mặc dù đó chưa phải là một thần dược giải quyết mọi vấn đề,chúng ta có thể kết luận rằng thương mại công bằng vạch ra một lộ trìnhquan trọng đối với việc giải quyết các vấn đề môi trường và xã hội nhứcnhối tại châu Phi ngày hôm nay
Các nguyên tắc trong thương mại công bằng và những giới hạn
Những bước tiến của thương mại công bằng bắt nguồn từ một nhóm cácsáng kiến ở Bắc Mỹ và châu Âu nhằm tìm kiếm cách chuyển đổi thươngmại hai vùng Bắc-Nam từ một phương tiện khai thác trở thành sự pháttriển bền vững (Renard, 2003) Các bước đầu tiên được triển khai đối vớingành làm đồ thủ công, các tổ chức thương mại thay thế hỗ trợ chonhững người sản xuất gặp bất lợi bằng việc mua các sản phẩm với giá caohơn mức thị trường và bán chúng trực tiếp cho những người tiêu dùng cóđạo đức Bằng cách này mạng lưới thương mại công bằng đã được thiếtlập để ‘rút ngắn khoảng cách’ giữa người sản xuất và người tiêu dùng(Raynolds, 2002) Suốt 25 năm vừa qua, thương mại công bằng đã mởrộng đến các mặt hàng thực phẩm chính yếu, cũng như các loại thựcphẩm được chứng nhận mang tính thương mại công bằng được bán tạinhững điểm bán lẻ thông thường hiện nay (Raynolds and Long, 2007)
Các tổ chức thương mại công bằng tập hợp dưới một tổ chức chung mangtên FINE2, xây dựng một định nghĩa chung về thương mại công bằng:
“Thương mại công bằng là một sự hợp tác thương mại dựa trên đàm phán,đảm bảo minh bạch và sự tôn trọng, nhằm tìm kiềm sự công bằng hơntrong thương mại quốc tế Nó xây dựng sự phát triển bền vững bằng cáchđưa ra những điều kiện trao đổi tốt hơn, để đảm bảo quyền lợi, cho những
Trang 4người sản xuất và nhân công bị gạt ra phía ngoài – đặc biệt tại các nướcphía Nam Các tổ chức thương mại công bằng (với sự hậu thuẫn từ phíangười tiêu dùng) tham gia tích cực vào việc ủng hộ người sản xuất, tăngcường nhận thức và gây dựng chiến dịch hướng đến sự thay đổi trong cácđiều luật và thông lệ của thương mại quốc tế truyền thống (FINE,2003).”
Theo ý của lời tuyên bố này, thương mại công bằng tạo ra cả sự “tuântheo và chống đối thị trường” Trong khi nó tối đa hóa các kênh thịtrường để tạo ra các mạng lưới hàng hóa mới đối với các sản phẩm sảnxuất dưới các điều kiện xã hội và môi trường tương thích hơn, thì thươngmại công bằng cũng chống lại những áp lực của thị trường truyền thống
đã hình thành và duy trì sự bất bình đẳng toàn cầu (Raynolds, 2000;
2002)
Tổ chức Nhãn hiệu Thương mại công bằng Quốc tế (Fairtrade LabelingOrganizations International – FLO), một tổ chức phi chính phủ, điều phốiviệc dán nhãn hiệu thương mại công bằng, hình thành tại 20 nước khắpchâu Âu, Bắc Mỹ và khu vực Thái Bình Dương Với nguồn thu hơn 1,4 tỷUSD mỗi năm, các sản phẩm được chứng nhận dưới hệ thống FLO chiếmphần lớn nhất trong thị trường thương mại công bằng3 Như đã chú thích
ở bảng 17.1, Mỹ là thị trường phát triển rộng lớn và mạnh mẽ nhất đối vớicác hàng hóa mang tính thương mại công bằng, với doanh thu hàng nămđạt 428 triệu USD và tỉ lệ tăng trưởng là 60% mỗi năm Anh, Switzerland,Pháp và Đức là các thị trường thương mại công bằng lớn tiếp theo Trongkhi ban đầu chỉ xuất hiện ở một vài cửa hàng thay thế nhỏ, các sản phẩmmang tính thương mại công bằng nay đã được bán bởi các nhà bán lẻ lớn
và thậm chí là các chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh (Raynolds et al., 2007)
Sự phát triển mạnh của mua bán thương mại công bằng càng được tăngcường do mối lo ngại ngày càng tăng của người tiêu dùng về những ảnhhướng tới môi trường và xã hội xoay quanh hoạt động thương mại toàncầu
Bảng 17.1 Doanh thu trên thị trường chính có chứng nhận thương mại công bằng (đơn vị: 1000 USD)
Trang 5Bảng 17.2 Tăng trưởng doanh thu tính theo lượng hàng hóa có chứng nhận thương mại công bằng (đơn vị: tấn)
Nguồn: FLO-I (2005a, 2006).
Hiện nay đã có 18 loại hàng hóa được chứng nhận thương mại công bằng,
và thêm các hàng hóa mới được giới thiệu qua từng năm Cà phê, mặthàng đầu tiên được chứng nhận thương mại công bằng, vẫn duy trì làhàng hóa chủ chốt, tạo ra một phần tư nói chung tổng thu nhập từ thươngmại công bằng (FLO-I, 2006a) Như đã chú thích ở bảng 17.2, các chứngnhận thương mại công bằng đối với cacao và chè cũng đã được tiến hành,với mức doanh thu ổn định và đang có sự tăng trưởng Chuối là loại hànghóa được dán nhãn thương mại công bằng có giá trị đứng thứ hai vớilượng mua bán ngày càng tăng mạnh (Raynolds et al., 2007) Ấn tượnghơn nữa chính là sự gia tăng doanh thu ở các mặt hàng mới được chứngnhận thương mại công bằng gần đây như hoa quả đã qua chế biến vànước hoa quả, và cả các loại quả tươi được thông qua thương mại côngbằng, như chanh, dứa, xoài, nho và táo
Tiêu chuẩn để xác thực thương mại công bằng đã hình thành những quytắc về sự công bằng và tính bền vững trong sản xuất và các quan hệthương mại4 Ban đầu chỉ với nhóm nhỏ những người nông dân, thươngmại công bằng đã mở rộng bao gồm cả các doanh nghiệp có thuê laođộng Tiêu chuẩn đối với các hộ nông dân nhỏ yêu cầu người sản xuất tổchức thành các hợp tác xã dân chủ để tạo điều kiện cho những mục tiêuphát triển tập thể, trong khi tiêu chuẩn với xưởng sản xuất yêu cầu côngnhân phải được đại diện bởi một tổ chức độc lập Bên cạnh đó, các xưởngsản xuất phải làm theo các quy ước chủ chốt của Tổ chức Lao Động Quốc
tế, bao gồm việc tự do liên kết, không phân biệt đối xử, cấm sử dụng laođộng cưỡng bức và trẻ em, và phải duy trì mức lương cơ bản, sức khỏenghề nghiệp và các điều kiện an toàn (FLO-I, 2007b; 2007c) Trên
Trang 6phương diện môi trường, các tiêu chuẩn đối với việc sản xuất mang tínhthương mại công bằng đã hình thành những tiêu chí cơ bản (bao gồm việchạn chế các chất hóa học nông nghiệp và phát quang đất trồng, cũng nhưủng hộ các kĩ thuật ủ phân và cải thiện đất tự nhiên khác) và nỗ lực đểduy trì những cải thiện nhiều hơn đến sinh thái thông qua khuyến khíchviệc chứng nhận hữu cơ Tiêu chuẩn với người mua duy trì sự công bằng
và bền vững thông qua khoản thanh toán bắt buộc đảm bảo một mức giáthấp nhất cũng như các phí bảo hiểm xã hội và cung ứng tín dụng cùngcác hợp đồng dài hạn (FLO-I, 2007b; 2007c) Trong khi mức tăng trưởnggần đây của thương mại công bằng có thể nới rộng hơn lợi ích cho ngườisản xuất, thì sức tăng trưởng mạnh mẽ đó cũng sẽ khiến việc bảo đảmcác dòng lợi ích này trở nên thử thách hơn
Ngành sản xuất mang tính thương mại công bằng
Do sự tăng trưởng doanh thu từ thương mại công bằng và sự gia tăngnhanh của những hàng hóa được chứng nhận , thương mại công bằngđang hợp nhất thêm nhiều nhóm nhà sản xuất ở tại nhiều vùng hơn Từnăm 1998 đến năm 2004, số lượng các nhóm nhà sản xuất được chứngnhận thương mại công bằng đã tăng từ 211 lên đến 433, với số quốc giasản xuất mở rộng từ 40 lên đến 53 (theo Raynolds và Long, 2007) Mỹ La-tinh là trung tâm truyền thống của sự sản xuất theo thương mại côngbằng, chiếm đến hơn 50 phần trăm trong tất cả các nhóm đã được chứngnhận theo FLO và hơn 75% giá trị và lượng doanh thu theo thương mạicông bằng Bảng 17.3 nêu bật lên tầm quan trọng của sản phẩm cà phêmang tính thương mại công bằng ở Mỹ La-tinh – vùng đồng thời sản xuất
số lượng lớn chuối và ca cao Ngược lại, Châu Á, nói một cách tương đối
là người tham gia phần nhỏ trong cuộc chơi thương mại công bằng, thìsản xuất chè, cà phê và đường
Bảng 17.3: Lượng sản xuất được xác thực thương mại công bằng phân theo các vùng năm 2004 (đơn vị: tấn)
Nước ép trái
Trang 7có 33 nhóm nhà sản xuất tham gia vào ngành sản xuất cà phê mang tínhthương mại công bằng, 17 nhóm ở ngành sản xuất chè và 4 nhóm ởcacao.
Châu Phi đã nổi lên như là nhà cung cấp chủ yếu về số lượng các mặthàng sản phẩm mới mang tính thương mại công bằng, và là những sảnphẩm duy nhất đã được chứng nhận trong vòng 5 năm qua Châu Phicung cấp phần lớn trái cây sạch mới được chứng nhận (nhiều hơn chuối),cung cấp các sản phẩm cả nhiệt đới và ôn hòa Có 40 nhóm nhà sản xuất
ở 7 quốc gia Châu Phi đang trồng những trái cây theo thương mại côngbằng mới này Nam Phi là nhà sản xuất dẫn đầu khu vực và thế giới, với
22 nhóm nhà cung cấp cam quýt, táo và nho được chứng nhận Quốc gianày cũng là nhà xuất khẩu hàng đầu về rượu được chứng nhận gần đây –loại rượu hiện được sản xuất bởi 22 hãng đã được đăng kí theo FLO
Thêm vào đó, Châu Phi là nhà sản xuất lớn nhất thế giới về các sản phẩmhoa cắt và thực vật trang trí5 mang tính thương mại công bằng mới đượcgiới thiệu, với các loại hoa được trồng phần lớn ở Kenya bởi 11 hãng sảnxuất đã được chứng nhận Điều đặc biệt ấn tượng trong sự tăng trưởngthương mại công bằng ở những khu vực hàng hóa mới ở Châu Phi là việchầu hết tất cả sự mở rộng này xảy ra ở khu vực đất đai rộng lớn Ví dụ, ởNam Phi, chỉ có 7% các hãng sản xuất mang tính thương mại công bằng
là nằm trong khu vực tiểu tá điền (Kruger và du Toit, năm 2007) Trongkhi xu hướng của sự mở rộng này đe dọa đến địa vị đứng đầu truyềnthống của những nhà sản xuất theo quy mô nhỏ trong thương mại côngbằng, nó lại có thể làm tăng mức sống của một lượng lớn những ngườicông nhân thiệt thòi được thuê ở các khu vực xuất khẩu kết hợp nôngnghiệp và trong một số trường hợp thì, những công nhân còn được trợcấp tiếp cận đất đai hoặc cổ phần trong những tổ chức kinh doanh nhàđất (Tallontire et al, năm 2005; theo FLO-I, 2006a) Ví dụ, ở Nam Phi, bấtđộng sản mang tính thương mại công bằng phải duy trì những chính sáchTrao quyền cho Kinh tế đen (BEE), điều này làm tăng quyền sở hữu đấtcủa người da đen (theo Kruger và du Toit, 2007)
Trang 8Bảng 17.4: Số tổ chức sản xuất được xác nhận thương mại công bằng ở châu Phi.
Cà phê Ca cao Chè Chu ối Trái cây
sạc h khá c
Nướ
c ép trái cây
Hoa Rượ
u Các sản
phẩ m khá c*
* Bao gồm mật ong, đường, bông, gạo, thảo dược, các loại rau và hạt
** Bao gồm cả các quốc gia không được liệt kê ở trên
Nguồn: FLO-Cert (2005).
Với các nhà sản xuất quy mô nhỏ ở Châu Phi, lợi nhuận trực tiếp nhất từthương mại công bằng đến từ giá cả được đảm bảo cao hơn Tầm quantrọng của những sự đảm bảo về giá này rõ ràng nhất ở trường hợp của càphê, nơi mà mức giá tối thiểu theo FLO đã vượt quá xa giá trên thị trườngthế giới trong hầu như 15 năm qua (theo Raynolds et al, 2007 vàTallontire, 2003) Giá sàn đã nói lên sự khác biệt giữa việc sống sót vàphá sản đối với nhiều người trồng cà phê quy mô nhỏ Bên cạnh việc bảo
vệ nhà sản xuất khỏi sự sụt giá thế giới, thương mại công bằng cung cấpnguồn bảo hiểm xã hội có thể dùng đầu tư vào các dự án cộng đồng Phíbảo hiểm từ thương mại công bằng hỗ trợ rất nhiều cho các dự án môitrường, sức khỏe, thực phẩm tự cung tự cấp và cải thiện trồng trọt củacác nhà sản xuất quy mô nhỏ Với những nhà xưởng lớn ở Châu Phi, giásàn theo FLO khiến cho nền kinh tế ổn định, nhưng chính phí bảo hiểm
xã hội là thứ đem lại lợi nhất cho công nhân Phí bảo hiểm xã hội này tài
Trang 9trợ cho việc mua cổ phần của đồn điền và hỗ trợ cho các dự án giáo dục,sức khỏe, giao thông vận tải cũng như nhà ở Ví dụ, khu đồn điền chèHerluku tại Tanzania đã tận dụng quỹ thương mại công bằng để sửa chữanhà của công nhân, cải thiện hệ thống thông gió của trưởng học, xâydựng trạm xá và xây dựng những cửa hàng mua bán thương mại côngbằng để công nhân có thể tiếp cận với những mặt hàng thực phẩm thiếtyếu ở mức giá bán sỉ (Transfair USA, 2007a) Nghiên cứu chi ra rằng cảcông nhân và người lao động nhỏ đều là người thu lợi nhất từ khoản hỗtrợ mà thương mại công bằng mang lại, cả chính thức và không chínhthức về nhiều mặt khi có sự nâng cao năng lực tổ chức (theo Raynolds et
al, 2004)
Một số nghi ngờ về những lợi ích của thương mại công bằng ở Châu Phiđược đưa ra, với việc chỉ ra sự phổ biến trong tính bất an toàn của thựcphẩm xét theo quy mô gia đình, khu vực và quốc gia Mặc dù mối quantâm với ngành sản xuất thực phẩm địa phương được thực hiện tốt, nhưngcần phải nhận biết được rằng đa số những nhà sản xuất châu Phi theoquy mô nhỏ đã sản xuất hoa màu theo thị trường, thường là để xuất khẩu,
và phụ thuộc vào doanh số này để duy trì sinh hoạt trong gia đình Chiếnlược kết hợp sản xuất thực phẩm và hoa màu dùng để bán khá phổ biếnđặc biệt là với các tá điền nhỏ Các tiêu chuẩn theo thương mại côngbằng yêu cầu rằng các nhà sản xuất phải được trả mức giá cao hơn chocây trồng họ đã xuất khẩu và hạn chế sự biến đổi đất trồng trọt cho mụcđích sản xuất hay phát quang vùng đất mới Như Barrat - Brown (2007)gợi ý, thương mại công bằng có thể khuyến khích sự an toàn thực phẩm ởchâu Phi một cách trực tiếp thông qua đầu tư hay phí bảo hiểm xã hội vàonhững dự án sản xuất thực phẩm thuộc về hộ gia đình hay về môi trường,
và trực tiếp thông qua sự trả giá cao hơn đối với xuất khẩu, giải phóngcác nguồn lực cho việc sản xuất cây trồng thực phẩm
Mặc dù những lợi ích xã hội và môi trường tiềm năng mà thương mạicông bằng mang lại ở Châu Phi, ví dụ như ở các vùng phía Nam địa cầu,
là rất đáng kể, nhưng sự trải rộng về địa lý tăng lên, sự đa dạng hóa sảnxuất và sự phân hóa các hãng trong mạng lưới được chứng nhận khiếnnhững lợi ích này trở nên khó nhận ra hơn Sự tăng trưởng của việc sảnxuất mang tính thương mại công bằng được chứng nhận ở Châu Phi cóthể mang lại những ích lợi xã hội đáng kể, đặc biệt nếu như sự chứngnhận này khuyến khích ngành sản xuất hữu cơ Sự mở rộng này có thểmang lại những cải thiện xã hội đáng kể tương ứng đặc biệt là khi thươngmại công bằng tiến vào những lĩnh vực hàng hóa nơi mà cả phụ nữ và cáccông nhân thiệt thòi chiếm ưu thế, vì vậy làm tăng cơ hội tiếp cận của họvới dòng chảy lợi ích từ thương mại công bằng
Thương mại công bằng đến môi trường
Trang 10Châu Phi là một vùng giàu tiềm năng cả về sinh thái và tài nguyên thiênnhiên Đời sống của đa phần người dân nơi đây phụ thuộc vào nôngnghiệp, tuy nhiên đất càng ngày càng giảm chất lượng, nạn chặt phárừng và sa mạc hóa ngày càng gia tăng, những điều nay đang đe dọa đếnmức sống hiện tại và khả năng sản xuất của người dân Châu Phi trongtương lai (Theo World Bank 2001) Theo như Chương trình Môi trườngLiên hợp quốc, sự nghèo đói của những vùng này có thể được loại trừthông qua những chính sách về tài nguyên môi trường hợp lí và dễ triểnkhai hơn (UNEP 2016) Mặc dù vậy, sự mở rộng trong hệ thống thựcphẩm toàn cầu thông thường, sự xuất khẩu bị thống trị bởi các ngànhkinh doanh nông nghiệp nước ngoài và các chính sách thương mại bất lợiđang đe dọa nguồn tài nguyên sinh học (Gibbon và Ponte 2005) Sự trảirộng của ô nhiễm hóa chất, các loài xâm hại và sinh vật biến đổi gen(GMOs) đang làm suy yếu hơn sự bền vững của nền nông nghiệp, dẫn đếnmột nút thắt ngay ở hiện tại cho sự suy giảm chất lượng môi trường.
Sự phát triển thương mại công bằng ở Châu Phi có thể bảo vệ nguồn tàinguyên môi trường trong ba cách chính Đầu tiên, các tiêu chuẩn đểchứng nhận thương mại công bằng yêu cầu những nhóm sản xuất nânglên các tiêu chuẩn môi trường nói chung một cách tổng thể, những tiêuchuẩn này hướng đến giải quyết mối quan tâm chính về sinh thái ở ChâuPhi6 Các tiêu chuẩn quản lí đất và nước sẽ ngăn cản sự xuống cấp củađất và hiện tượng sói mòn, giảm hiểm họa sa mạc hóa Luật cấm săn bắtnhững loài hoang dã làm giảm thiểu sự cạn kiệt nguồn tài nguyên thiênnhiên Những lệnh cấm chặt phá rừng nguyên sinh sẽ giảm nạn chặt phárừng, trong khi đó những yêu cầu về vùng đệm phục vụ cho việc bảo vệnhững khu vực tự nhiên Thêm vào đó, thương mại công bằng khuyếnkhích các tổ chức sản xuất cam đoan trong những dự án tái tạo lại môitrường Việc cấm những sản phẩm hóa nông và cấm sản xuất sản phẩmbiến đổi gen làm giảm nguy cơ ô nhiễm hóa chất và giảm sự xâm lấn mùamàng của thực phẩm biến đổi gen vào hệ thống sinh thái địa phương(FLO-I, 2007b; 2007c; 2007d; World Bank, 2001) Chẳng hạn như, trongdây chuyền xuất khẩu hoa tươi của Châu Phi- một ngành công nghiệpđược biết đến bởi việc sử dụng thuốc hóa nông mạnh mẽ và dẫn đếnnhững ảnh hưởng tiêu cực - sự giới thiệu của thương mại công bằng đãhạn chế việc sử dụng những chất hóa nông nguy hiểm, thiết lập nhữngyêu cầu về vùng đệm và luật về bảo hộ lao động cho công nhân (FLO-I,2007e)7
Cách thứ hai chính là thương mại công bằng có khả năng ảnh hưởng đếnviệc quản lí môi trường trong điều kiện thương mại Thương mại côngbằng vượt trước nhiều chứng nhận về sinh thái khác ở việc đảm bảo rằngngười sản xuất có nguồn tài chính và tổ chức để nâng cao tiêu chuẩn môitrường (Raynolds et al., 2007a) Trong khi những tiêu chuẩn môi trường
Trang 11có thể xuất hiện đáng khen ngợi trên giấy tờ, nếu nhà sản xuất không có
đủ tiền để đáp ứng những tiêu chuẩn đó, chúng có thể sẽ không có mộtảnh hưởng trực tiếp nào Nghèo đói có xu hướng gia tăng, sự xuống cấpcủa môi trường khiến người dân kiếm sống khó khăn bằng bất cứ thứ gì
họ có thể Bằng cách làm việc để đảm bảo rằng nhà sản xuất có nguồnthu an toàn và phù hợp, thương mại công bằng sẽ giảm nhu cầu củanhững hộ gia đình bần cùng ở Châu Phi đối với việc khai thác cạn kiệt tàinguyên thiên nhiên Bằng việc thúc đẩy khả năng cộng đồng của nhữngnhóm nhà sản xuất, thương mại công bằng sẽ nuôi dưỡng khả năng thuthập để giải quyết những vấn đề về môi trường Tầm quan trọng đặc biệtcủa thương mại công bằng đối với xã hội là thường xuyên đầu tư trực tiếpvào việc cải thiện môi trường (Raynolds, 2000) Thật sự trong những dâychuyển cacao và cà phê Châu Phi, thương mại công bằng định hình hệthống sản xuất và có những nỗ lực tái tạo rừng, cải thiện sói mòn và cungcấp môi trường sống hoang dã (FLO-I, 2007f; Transfair USA, 2007b;
2007c)
Cách thứ ba để thương mại công bằng bảo vệ tài nguyên môi trường làbằng việc hỗ trợ ngành sản xuất mĩ phẩm hữu cơ còn non trẻ ở Châu Phi,Mặc dù ngành thương mại hữu cơ thế giới đang bùng phát mạnh mẽ,Châu Phi hiện tại mới đang vạch đường cho các vùng trong việc cung cấploại mặt hàng này (Raynolds, 2004; Willer và Yussefi, 2006) Tổng thể,Châu Phi chỉ có một triệu mẫu đất được xác nhận hữu cơ Hai mươi quốcgia Châu Phi xuất khẩu mĩ phẩm hữu cơ và có thêm nhiều cơ hội tăngcường sản xuất xuất phát từ sự tin tưởng từ lâu của Châu Phi vào việctiêu tốn ít hơn nguyên liệu đầu vào và hạn chế sử dụng các chất hóa nông(Parrott et al., 2006)
Thương mại công bằng chứng minh sự chú trọng trong việc thúc đẩy sảnxuất mĩ phẩm hữu cơ ở Châu Phi nhờ nguồn tài chính, tổ chức, thông tincần thiết cho nhà sản xuất để tham gia vào hệ thống cầu Mặc dù nhà sảnxuất Châu Phi có thể thành lập trang trại trong điều kiện gần như hữu cơ,các chứng nhận sẽ phức tạp và quy trình là rất tốn kém (Barrett et al.,2001) Mạng lưới thương mại công bằng giúp các tổ chức đáp ứng môhình sản xuất cho phù hợp với các tiêu chuẩn chất lượng hữu cơ nghiêmngặt, điển hình là tài trợ cho những yêu cầu về cải thiện trong khu vựcnhư quản lí phân bón, hạ tầng hay vùng đệm…
Có thể quan trọng nhất, các hoạt động mang khả năng xây dựng củathương mại công bằng sẽ nuôi dưỡng khả năng quản lí cần thiết để thànhlập hệ thống kiểm tra nội bộ yêu cầu xác nhận mức độ đáp ứng các tiêuchuẩn chứng nhận hữu cơ Phí bảo hiểm xã hội từ thương mại công bằngthường sẽ chi trả mức giá duy trì của việc kiểm tra hữu cơ nội bộ và bênngoài (Raynolds, bản tạm xét) Như các nghiên cứu ở Châu Phi đã chỉ ra,