1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Tiểu luận FTU) tiểu luận thuế và HTT ở VN CHÍNH SÁCH THUẾ TIÊU THỤ đặc BIỆT ở TRUNG QUỐC, hàn QUỐC, NHẬT bản và bài học CHO VIỆT NAM

11 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 313,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHÍNH SÁCH THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT Ở TRUNG QUỐC, HÀN QUỐC, NHẬT BẢN VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM Đoàn Văn Sơn 1 Nguyễn Thị Huyền Anh 2 Nguyễn Thị Nga 3 Tóm tắt Bài viết nghiên cứu và tìm hiểu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

CHÍNH SÁCH THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT Ở TRUNG QUỐC, HÀN QUỐC, NHẬT BẢN VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

Họ và tên: Đoàn Văn Sơn

Lớp: Anh 16, KTĐN, K56; Mssv: 1711110598

Email: sonvandoan1999@gmai.com ; Sđt: 0366296329

Họ và tên: Nguyễn Thị Huyền Anh

Lớp: Anh 16, KTĐN, K56; Mssv: 1711110034

Email: huyenanhamaya101099@gmail.com ; Sđt: 0768993180

Họ và tên: Nguyễn Thị Nga

Lớp: Anh 15, KTĐN, K56; Mssv: 1711110475

Email: nguyenthinga0209.1999@gmail.com ; Sđt: 0963247428

Nhóm tác giả xin cam đoan bài viết chưa từng được công bố trên tạp chí nào trước đó, cam đoan không gửi bài đến các tạp chí khác trong thời gian chờ xét duyệt

Hà nội, tháng 9/2019

Trang 2

ĐÁNH GIÁ NHÓM

Leader, lên outline, tổng

1 Đoàn Văn Sơn 1711110598 hợp nội dung và trình bày 100%

tiểu luận Tìm hiểu chính sách thuế

2 Nguyễn Thị Huyền Anh 1711110034 TTĐB của 3 nước và đề 100%

xuất giải pháp cho Việt

Nam Tìm hiểu chính sách thuế

3 Nguyễn Thị Nga 1711110475 TTĐB của 3 nước và đề 100%

xuất giải pháp cho Việt

Nam

Trang 3

CHÍNH SÁCH THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT Ở TRUNG QUỐC, HÀN QUỐC, NHẬT BẢN VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

Đoàn Văn Sơn 1 Nguyễn Thị Huyền Anh 2

Nguyễn Thị Nga 3

Tóm tắt

Bài viết nghiên cứu và tìm hiểu về chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) của 3 nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc để hiểu sâu hơn về thuế TTĐB, đối tượng chịu thuế

và cách tính thuế mà 3 nước áp dụng Đó sẽ là những thông tin tham khảo hữu ích trong việc sửa đổi, bổ sung luật thuế TTĐB của Việt Nam trong thời gian tới, nhằm phát huy tốt hơn vai trò hướng dẫn sản xuất tiêu dùng, điều chỉnh có lộ trình để vừa đạt được mục tiêu của Nhà nước mà vẫn đảm bảo được sự thích ứng của các doanh nghiệp.

Từ khóa: Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế tiêu thụ, đối tượng chịu thuế, thuế suất.

Mã số: 369 | Ngày nhận bài: 01/09/2019 | Ngày hoàn thành biên tập: 14/09/2019 | Ngày duyệt đăng:

24/ 09/2019

Abstract

The paper researches and learns about special consumption tax policies of 3 countries China, Japan, and South Korea to gain a deeper understanding of this kind of tax, taxable subjects and tax calculation method applied by the three countries These will be useful references in the amendment and supplementation of the special consumption tax law

of Vietnam in the coming time, in order to better promote the role of guiding production and comsumption, adjusting the roadmap to achieve state objectives while ensuring the adaptation of businesses.

Keywords: special consumption tax, consumption tax, taxable subjects, tax rate.

Paper No.369 | Date of receipt: 01/09/2019 | Date of revision: 14/09/2019 | Date of approval:

24/09/2019

1Sinh viên Viện Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Trường Đại học Ngoại thương, Mssv: 1711110598

2 Sinh viên Viện Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Trường Đại học Ngoại thương, Mssv: 1711110034

3 Sinh viên Viện Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Trường Đại học Ngoại thương, Mssv: 1711110475

1 | T ạ p c h í K I N H T Ế Đ Ố I N G O Ạ

Trang 4

1 Đặt vấn đề

Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) bắt đầu được áp dụng ở Việt Nam từ năm 1990

Trong quá trình phát triển, hội nhập quốc

tế, để bảo đảm những quy định phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội mới, những mục tiêu, định hướng của nhà nước, Luật thuế TTĐB đã được sửa đổi và bổ sung nhiều lần Nghiên cứu chính sách thuế TTĐB của các nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản để thấy được họ đã quản lý loại thuế này hiệu quả như thế nào? Cách thức quy định, quản lý của 3 nước này có điểm

gì khác biệt và chúng ta sẽ rút ra được bài học được gì từ đó? Các gợi ý chính sách,

đề xuất để luật thuế TTĐB của Việt Nam phát huy được công dụng và mục đích của

nó một cát tốt nhất, hiệu quả nhất Đó là những câu hỏi sẽ được trả lời trong bài nghiên cứu này

2 Thuế tiêu thụ đặc biệt

Thuế TTĐB là loại thuế gián thu đánh vào một số hàng hóa và dịch vụ chưa thật cần thiết với nhu cầu thiết yếu của nhân dân, hoặc cần tiết kiệm, hướng dẫn tiêu dùng

Thông thường các nước đánh vào các mặt hàng mà nhà nước không khuyến khích sản xuất, không khuyến khích tiêu dùng hay lợi nhuận tương đối cao

2.1 Đặc điểm giống nhau giữa các nước

- Các loại hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt được pháp luật thuế các nước qui định hầu như giống nhau gồm : rượu, bia, thuốc lá, xe ô tô, xăng…; kinh doanh

cá cược, đua ngựa, đua xe, sòng bạc…

- Mức thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt được pháp luật thuế các nước quy định rất cao vì thuế đánh vào một số hàng hóa dịch vụ mang tính chất xa xỉ, chưa thật cần thiết cho nhu cầu thiết yếu hàng ngày của con

người và có ảnh hưởng đến sức khỏe của nhiều người trong xã hội

- Cách thu thuế tiêu thụ đặc biệt ở các nước cũng giống nhau, tức là nhà nước chỉ thu một lần ở khâu sản xuất, nhập khẩu hàng hóa hay kinh doanh các dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

2.2 Tầm quan trọng của thuế TTĐB

- Thuế TTĐB là công cụ rất quan trọng để nhà nước thực hiện chức năng hướng dẫn sản xuất và điều tiết tiêu dùng xã hội

- Thuế TTĐB cũng là công cụ để nhà nước điều tiết thu nhập của người tiêu dùng vào ngân sách nhà nước (NSNN) một cách công bằng hợp lý: ai tiêu dùng nhiều các hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB thì chịu thuế nhiều hơn người tiêu dùng ít hoặc không phải chịu thuế nếu không tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ đó

- Việc ban hành Luật thuế tiêu thụ đặc biệt

để điều chỉnh việc sản xuất, kinh doanh,lưu thông và tiêu dùng một số hàng hóa, dịch

vụ mang tính chất xa xỉ, chưa thật cần thiết cho nhu cầu xã hội thể hiện sự tăng cường quản lý, kiểm soát của nhà nước một cách tập trung, chặt chẽ đối với các loại hàng hóa, dịch vụ này

2.3 Vài nét về thuế TTĐB ở Việt Nam

Thuế TTĐB ở Việt Nam có tiền thân là thuế hàng hóa ban hành năm 1951, năm

1990 Luật thuế TTĐB được ban hành thay thế cho thuế hàng hóa áp dụng cho 6 mặt hàng: thuốc lá, rượu, bia, pháo, bài lá, vàng

mã Hiện nay, đối tượng chịu thuế của thuế TTĐB ở Việt Nam gồm có 11 nhóm hàng hóa và 6 nhóm dịch vụ 11 nhóm hàng hóa bao gồm: thuốc lá điếu, xì gà; rượu; bia; ô

tô dưới 24 chỗ; mô tô hai bánh có dung tích xi lanh lớn hơn 125 cm3; tàu bay; du thuyền; xăng các loại; điều hòa nhiệt độ

Trang 5

công suất dưới 90.000 BTU, bài lá; vàng

mã, hàng mã 6 nhóm dịch vụ bao gồm:

kinh doanh vũ trường; kinh doanh mát xa, karaoke; kinh doanh casino, trò chơi có thưởng; kinh doanh đặt cược; kinh doanh golf; kinh doanh xổ số

Hệ thống luật và văn bản pháp lý hiện hành quy định về thuế TTĐB ở Việt Nam:

- Luật thuế tiêu thụ đặc biệt số 02/VBHN-VPQH ngày 28 tháng 4 năm 2016

- Nghị định số 26/2009/NĐ-CP ngày 16/3/2009 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế TTĐB

- Nghị định 113/2011/NĐ-CP

- Thông tư số 05/2012/TT-BTC

- Nghị định số 108/2015/NĐ-CP ngày 28/10/2015

- Thông tư số 195/2015/TT-BTC ngày 24/11/2015

3 Chính sách thuế TTĐB của Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản

Thuế TTĐB của Trung Quốc hiện tại có tên là “thuế tiêu thụ”, được quy định tại Nghị định số 539 ngày 05/10/2008 ban hành Quy chế tạm thời về thuế tiêu thụ sửa đổi và có hiệu lực từ ngày 01/01/2009

Thuế TTĐB ở Hàn Quốc bao gồm: thuế tiêu thụ cá nhân, thuế rượu, thuế giao thông vận tải -năng lượng - môi trường, thuế ô tô (địa phương), thuế tiêu thụ thuốc lá (địa phương)

Thuế TTĐB ở Nhật Bản được trình bày theo đối tượng chịu thuế riêng biệt: thuế rượu, thuế thuốc lá, thuế thuốc lá đặc biệt, thuế xăng, thuế đường địa phương, thuế khí hóa lỏng dầu, thuế xe động cơ trọng tải, thuế nhiên liệu hàng không, thuế dầu khí

và than đá, thuế khuyến khích phát triển năng lượng tài nguyên

3.1 Đối tượng chịu thuế

Về cơ bản, đối tượng chịu thuế TTĐB chủ yếu là các mặt hàng có hại đến sức khỏe hoặc có tính chất cao cấp, xa xỉ cần hạn chế tiêu dùng

3.1.1 Nhóm mặt hàng thuốc lá

Thuế TTĐB đánh vào nhóm hàng này nhằm giảm tác động không tốt tới sức khỏe của chính người tiêu dùng, ảnh hưởng xấu tới xã hội, túi tiền của người dân và là một phần nguyên nhân gây ra nghèo đói Đối tượng chịu thuế thuốc lá ở Trung Quốc bao gồm thuốc lá điếu, xì gà và thuốc lá sợi

Đối tượng chịu thuế thuốc lá ở Nhật Bản

và Hàn Quốc gồm: thuốc lá điếu, thuốc lá tẩu, thuốc lá nhai, thuốc lá hít

3.1.2 Nhóm mặt hàng rượu, bia

Ở Trung Quốc, đối tượng chịu thuế trong nhóm này được chia ra làm 5 loại đơn giản, gồm 1 dòng thuế dành cho bia, 4 dòng thuế dành cho rượu, chia theo tính chất của rượu: rượu mạnh, rượu gạo và các loại khác Ở Nhật Bản, mặt hàng này chia thành

5 nhóm: rượu gạo, bia, Whisky và Brandy (40%), rượu mạnh (37%), Shochu nhóm A

và B (25%), với 10 loại cụ thể khác nhau

Bia được chia theo tỷ lệ mạch nha, rượu được đánh thuế theo từng loại rượu có tên

cụ thể Ở Hàn Quốc, thuế rượu bia cũng được chia theo tên cụ thể, còn Việt Nam thì rượu được chia làm 2 nhóm nhỏ: rượu trên

20 độ và rượu dưới 20 độ

3.1.3 Nhóm mặt hàng năng lượng

Nhóm mặt hàng xăng, nap-ta, chế phẩm tái hợp và chế phẩm khác để pha chế xăng:

việc đánh thuế TTĐB lên nhóm mặt hàng này nhằm hạn chế ảnh hưởng ngoại lai như

ô nhiễm môi trường, tai nạn, tắc nghẽn giao thông Hơn nữa, xăng dầu còn là mặt hàng chiến lược của quốc gia, thiết yếu đối với đời sống xã hội, tác động trực tiếp đến

Trang 6

sự phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng, là một trong những mặt hàng rất nhạy cảm trước những biến động của chính trị, kinh tế thế giới Đối tượng chịu thuế xăng dầu ở Trung Quốc bao gồm: xăng không chì, xăng pha chì, dầu diesel và nhiên liệu bay Nhật Bản sử dụng thuế xăng, thuế xăng địa phương, thuế dầu khí

và than (dầu thô) và thuế nhiên liệu bay, thuế khí hóa lỏng để kiểm soát các mặt hàng xăng, dầu thô, nhiên liệu bay, nhiên liệu sử dụng cho động cơ Ở Hàn Quốc, xăng, dầu diesel và dầu thay thế tương tự cùng lúc chịu 2 thuế: thuế giao thông vận tải-năng lượng-môi trường (trung ương) và thuế nhiên liệu động cơ (địa phương)

Riêng đối với Việt Nam thì thuế TTĐB chỉ đánh vào xăng các loại (xăng, xăng E5, xăng E10)

Các nước đánh thuế vào mặt hàng này nhằm giảm sự tiêu dùng lãng phí nguồn năng lượng và tăng quỹ phát triển nguồn năng lượng tái tạo Trong ba nước, chỉ có duy nhất Nhật Bản đánh thuế TTĐB vào mặt hàng điện với mục đích tạo nguồn thu phát triển tài nguyên năng lượng quốc gia

3.1.4 Nhóm mặt hàng ô tô

Mục đích đánh thuế TTĐB để giảm nguy

cơ gây ô nhiễm môi trường và bù đắp một phần chi phí sửa chữa tu bổ đường xá Ở đối tượng chịu thuế này, Trung Quốc phân loại các loại xe theo dung tích xi lanh; Nhật Bản phân chia theo trọng tải xe, thời gian của giấy chứng nhận kiểm định và mục đích sử dụng (thương mại hay phi thương mại); Hàn Quốc phân loại theo dung tích xi lanh, trọng tải xe và mục đích sử dụng

3.1.5 Nhóm mặt hàng xa xỉ và dịch vụ giải trí

Thuế TTĐB đánh vào những dịch vụ, hàng

hóa này vì đây là những mặt hàng xa xỉ không phải là những hàng hóa thiết yếu và nhằm mục đích điều tiết thu nhập, định hướng tiêu dùng Ngoài ra, loại hình dịch

vụ này mang tính nhạy cảm, rất dễ ảnh hưởng tới “đạo đức xã hội” nên cần phải có

sự điều tiết của Nhà nước

Đối tượng mặt hàng chịu thuế ở Trung Quốc bao gồm: mỹ phẩm, đồ trang sức, đá quý, đồng hồ đeo tay cao cấp, du thuyền, đũa gỗ dùng một lần Nhật Bản không đánh thuế trên nhóm mặt hàng này Hàn Quốc đánh thuế đối với máy slot, máy pin-pal và các máy giải trí tương tự khác, súng săn hoặc súng trường, đồ trang sức, nước hoa, máy ảnh sang trọng, đồng hồ cao cấp, da lông thú và sản phẩm điện tử, điện lạnh cao cấp

Về dịch vụ, Trung Quốc đánh thuế vào bóng golf và các vật dụng liên quan; Nhật Bản đánh thuế vào dịch vụ chơi golf; Hàn Quốc đánh thuế trên kinh doanh casino, đua ngựa, đua xe đạp, kinh doanh quán rượu, salon (khách sạn, vũ trường)

3.2 Cơ sở tính thuế và thuế suất

Trung Quốc và Hàn Quốc đánh thuế theo

cả hai phương thức thuế tuyệt đối và thuế tương đối cho từng hàng hóa, thậm chí kết hợp cả hai phương thức đánh thuế trong cùng một mặt hàng Nhật Bản chủ yếu áp dụng thuế tuyệt đối ở hầu hết các sản phẩm Tuy nhiên, cả ba nước đều có xu hướng áp dụng chủ yếu thuế suất tuyệt đối

Vì vậy, cơ sở tính thuế chủ yếu là đơn vị:

khối lượng, số lượng, dung tích xi lanh, thể tích đối với hàng hóa; số người, số ngày, doanh thu… đối với dịch vụ

Thuế suất tương đối áp dụng với hầu hết các mặt hàng: rượu, mỹ phẩm, đồ trang sức

và đá quý, pháo và pháo hoa, xe máy, ô tô,

Trang 7

các thiết bị chơi golf, đồng hồ đeo tay cao cấp, du thuyền, đũa gỗ dùng một lần và sàn

gỗ ván Thuế tuyệt đối áp dụng đối với sản phẩm xăng dầu Thuế kết hợp được áp dụng chủ yếu đối với thuốc lá điếu, rượu chưng cất, rượu gạo, bia

3.2.1 Nhóm mặt hàng thuốc lá

Thuế suất tuyệt đối của thuốc lá điếu và thuốc là tẩu của Nhật Bản gần như gấp đôi mức thuế suất của Hàn Quốc, mức thuế suất đối với xì gà, thuốc lá nhai và thuốc lá hít của hai nước là tương đương

Xét về mức thuế tiêu thụ đặc biệt được cấu thành vào giá trung bình, ở Trung Quốc:

thuế tuyệt đối chiếm 0,8%, thuế tương đối chiếm 25,12%, tức tổng thuế tiêu thụ chiếm 25,92% cấu thành giá; Ở Hàn Quốc, thuế tiêu thụ cấu thành vào giá chiếm 50,87%; Ở Nhật Bản, thuế TTĐB chiếm 58,46% trong cấu thành giá Ở cả ba nước, cấu thành của thuế TTĐB vào giá là chưa phù hợp với khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, từ 60 - 85%

3.2.2 Nhóm mặt hàng rượu, bia

Thuế suất thuế TTĐB của Nhật Bản và Hàn Quốc tương đối phức tạp nhưng có phần đơn giản hơn ở Trung Quốc Theo đó, thuế đánh vào đồ uống và cồn được chia thành 6 mức thuế suất chia làm 5 loại khác nhau Trong đó, rượu chưng cất được áp dụng theo thuế suất kết hợp; rượu gạo, bia

áp dụng thuế suất tuyệt đối; rượu áp dụng thuế suất tỷ lệ Ở Nhật Bản, mức thuế đối với rượu, bia dao động từ 20.000 yên cho đến 390.000 yên trên 1.000 lít Ngoài ra, ở Nhật Bản còn áp dụng thuế suất đối với mỗi 1% alcohol tăng thêm ở mỗi loại rượu,

ví dụ: Whisky và brandy (nồng độ cồn 40%): 40.000 JPY, Shochu nhóm A và B

(nồng độ cồn 25%): 25.000 JPY Ở Hàn

Quốc, ngoài rượu có nồng độ cồn mạnh áp dụng mức thuế tuyệt đối, các loại rượu, bia khác được áp thuế tương đối Ở cả ba nước, mức thuế áp dụng đối với rượu mạnh tương đối cao vì rượu này thường có nồng

độ cồn trên 85%, có thể dùng pha chế các loại rượu khác Đối với rượu vang, ở cả ba nước mức thuế suất tương đối thấp, vì nồng

độ cồn không cao, nếu biết sử dụng đúng cách, còn có lợi cho sức khỏe

Đối với bia, Trung Quốc áp dụng mức thuế suất cao nhất so với các loại đồ uống có cồn áp dụng thuế suất tuyệt đối (250 NDT/tấn); Hàn Quốc áp dụng mức thuế suất cao nhất so với các loại đồ uống có cồn áp dụng mức thuế suất tương đối (72%); Nhật Bản áp dụng mức thuế suất tương đối cao (220.000 yên/1.000 lít) so với các đồ uống khác, đứng thứ 3, sau rượu bột và rượu mạnh Đặc biệt, Nhật Bản còn

áp dụng thuế suất đối với mỗi 1% nồng độ cồn tăng thêm ở từng loại rượu Tỷ trọng thuế TTĐB trong giá bán: ỞTrung Quốc là 8% đối với bia, 10% đối với rượu vang và 25% đối với rượu mạnh; Ở Nhật Bản, tỷ trọng thuế TTĐB trong giá đối với rượu rất lớn, chiếm khoảng 46% Nhìn chung, thuế đánh vào bia ở Nhật Bản khá cao, được đánh giá là gấp đôi so với Anh và gấp khoảng 8 - 10 lần so với Mỹ

3.2.3 Nhóm mặt hàng năng lượng

Để khuyến khích sử dụng năng lượng thân thiện với môi trường ba nước đều áp dụng mức thuế suất TTĐB thấp hơn đối với xăng không chì so với xăng có chì Riêng đối với dầu diesel, mức thuế suất thấp hơn bởi

lý do dầu diesel được sử dụng chủ yếu là nhiêu liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp, nếu áp thuế cao vào sản phẩm này lớn, sẽ đẩy giá thành của các sản phẩm lên

Trang 8

cao, ảnh hưởng đến tình hình tiêu dùng trong nước

Thuế suất đối với xăng của Hàn Quốc và Nhật Bản gần như tương đương nhau Thuế xăng ở Nhật Bản là 48.600 yen/kilo lít, ở Hàn Quốc là 475 won/lít Cả hai mức thuế này đều xấp xỉ 0,4 USD/ lít Ở cả hai nước, thuế trung ương và thuế địa phương đều đánh trên xăng Ở Nhật Bản có thuế xăng (trung ương) và thuế xăng địa phương, Hàn Quốc có thuế giao thông vận tải - năng lượng - môi trường (trung ương) và thuế nhiên liệu động cơ (địa phương) Thuế suất đối với xăng, dầu ở Trung Quốc thấp hơn khoảng 10 lần so với Hàn Quốc và Nhật Bản Cụ thể: thuế suất thuế TTĐB trên xăng có chì là 0,28 NDT/lít, tương đương 0,05 USD/lít, xăng không chì là 0,20 NDT/lít tương đương 0,03 USD/lít

3.2.4 Nhóm mặt hàng ô tô

Ở Trung Quốc, thuế đối với ô tô áp dụng phương thức thu theo tỷ lệ phần trăm trên giá trị, còn Nhật Bản, Hàn Quốc áp dụng thuế suất tuyệt đối Ở cả ba nước, mức thuế suất TTĐB đối với ô tô có phân biệt theo loại xe và dung tích xi lanh Riêng ở Nhật Bản, còn phân chia đối tượng ô tô đánh thuế theo thời gian của giấy kiểm định và trọng lượng xe Ở Hàn Quốc, mức thuế đối với ô tô còn phân biệt theo mục đích sử dụng và khối lượng xe Tuy nhiên, ở cả ba nước, mức thuế suất đều không phân biệt theo số chỗ ngồi của xe như ở một số nước khác như Thái Lan, Anh

Để khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm, nhìn chung, các nước đều áp dụng mức thuế suất thuế TTĐB thấp hơn đối với các loại xe có dung tích xi lanh nhỏ Thuế suất đối với dòng phương tiện xe công

cộng như xe buýt, thuế suất tương đối thấp, mục đích để khuyến khích người dân sử dụng phương tiện công cộng thay cho phương tiện cá nhân, có lợi ích giảm diện tích chiếm chỗ, hạn chế tắc đường và tiết kiệm năng lượng Thuế suất áp dụng cho

xe có mục đích sử dụng kinh doanh nhỏ hơn so với xe không kinh doanh: hơn khoảng 1,4 đến 2 lần ở Nhật Bản và hơn 5 lần ở Hàn Quốc (80KRW-200KRW/cc đối với phương tiện phi thương mại và 18KRW-24KRW/cc đối với phương tiện thương mại)

Thuế suất đối với ô tô ở Trung Quốc tương đối thấp, dao động trong khoảng 1 - 40%, tuy nhiên đã có tới 6/8 mức thuế suất dưới 12% Mức thuế suất đối với dòng xe trên 2.500cc đến 3.000cc chỉ là 12%, trong khi

ở hầu hết các nước ASEAN mức thuế này

là trên 75%, ví dụ ở In-đô-nê-xi-a là 75%, Lào là 90%, Phi-líp-pin 100%

3.2.5 Nhóm mặt hàng xa xỉ

Trung Quốc đánh thuế đồng hồ đeo tay cao cấp với mức thuế suất 20%, mỹ phẩm 30%,

đồ trang sức 5% và 10% Đặc biệt, Trung Quốc còn đánh trên du thuyền, thuế suất 10% Nhật Bản không đánh thuế trên mặt hàng này Hàn Quốc đánh nhiều loại mặt hàng đối với đối tượng này với thuế suất cụ thể hơn, đánh thuế tương đối lên các mặt hàng máy chơi trò chơi điện tử, súng săn (20%), nước hoa (7%), trang sức, đá quý, máy ảnh và đồng hồ cao cấp, da lông thú,

đồ nội thất xa xỉ là 20% trên phần tăng thêm của giá bán lớn hơn 2.000.000 KRW

Hàn Quốc đánh thuế tuyệt đối lên các dịch vụ: đua ngựa là 500KRW/người, đua xe là 200KRW/người, kinh doanh ca-si-nô là 50.000KRW/ người

Trang 9

4 Gợi ý chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt

ở Việt Nam

4.1 Đối tượng chịu thuế

Nhìn chung, theo quy định của Luật Thuế TTĐB hiện nay, đối tượng chịu thuế TTĐB

ở Việt Nam so với Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản còn khá hạn hẹp, chỉ tập trung vào 11 loại hàng hóa, 6 loại dịch vụ Do vậy, thời gian tới có thể cân nhắc một số đề xuất như:

- Đưa thêm một số loại hàng hóa, dịch vụ vào diện chịu thuế như: (1) sản phẩm cao cấp: đồ trang sức và đá quý, đồng hồ đeo tay cao cấp, mỹ phẩm, nước hoa cao cấp, gạc nai, sữa ong chúa, sản phẩm từ da lông thú, thảm cao cấp hay đồ nội thất sang trọng; (2) sản phẩm điện lạnh, điện máy với mức tiêu thụ năng lượng lớn; (3) dịch

vụ cao nhấp như: salon, khách sạn Việc cụ thể hóa nhằm phát huy tốt hơn vai trò hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng, đảm bảo đánh thuế cao vào những mặt hàng cao cấp hoặc quá trình sản xuất và tiêu dùng có nhiều ngoại ứng tiêu cực cho xã hội, thúc đẩy tăng trưởng xanh và bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân và điều chỉnh có lộ trình để đảm bảo sự thích ứng của các doanh nghiệp

- Trong nhóm các đối tượng không thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt quy định trong Nghị định 26/2009/NĐ-CP có hàng

mã dùng để trang trí và hàng mã là đồ dùng dạy học Tuy nhiên, trên thực tế, rất khó phân biệt hàng mã dùng để trang trí với hàng mã thờ cúng, gây tranh cãi và khó khăn trong quá trình hành thu, việc quản lý thuế khó khăn trong khi sản xuất nhỏ lẻ, chi phí hành thu lớn

- Đưa dầu diesel và nhiên liệu hóa thạch

chạy động cơ trở thành đối tượng chịu thuế nhưng với mức thuế suất thấp để đảm bảo cho chi phí sản xuất không quá cao, mất năng lực cạnh tranh, mức thuế có thể tăng dần theo lộ trình để khuyến khích doanh nghiệp sử dụng những nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo, hướng đến phát triển xanh, bền vững

4.2 Thuế suất

Lựa chọn phương pháp đánh thuế tuyệt đối

sẽ giúp thuận lợi hóa và tiết kiệm chi phí trong quá trình hành thu Ta có thể thấy đánh thuế theo hình thức thuế tuyệt đối sẽ đơn giản và dễ quản lý vì đánh trên một khối lượng cụ thể nên dễ xác định hơn, vì vậy tránh khả năng thất thoát về thuế, làm tăng nguồn thu cho NSNN, giúp nguồn thu NSNN của Chính phủ mang tính ổn định

và dễ dự đoán hơn vì khối lượng hàng hóa tiêu thụ có thể dự đoán được dễ dàng hơn dựa trên các số liệu khảo sát hoặc thống kê

về người dùng Đặc biệt, đối với những loại hàng hóa, dịch vụ có giá cả biến động nhiều, nhất là mặt hàng xăng dầu thì việc tính toán thuế và việc đối chiếu giữa các kỳ nộp thuế trở nên phức tạp Nếu ta đánh thuế tính trên cơ sở đơn vị, việc tính thuế

sẽ đơn giản, đánh thuế trực tiếp trên từng đơn vị tiêu dùng lúc này có hiệu quả điều tiết cao hơn Nhà nước cũng dễ điều chỉnh mức thuế để khuyến khích hoặc hạn chế sản xuất, tiêu dùng một mặt hàng nào đó khi cần thiết, đồng thời khắc phục được nhược điểm về ảnh hưởng của yếu tố lạm phát Đối với từng loại mặt hàng ta nên có từng mức thuế suất khác nhau tùy theo phân loại và mục đích sử dụng để điều tiết thu nhập cá nhân và lượng cung – cầu

- Thuế đối với mặt hàng xe ô tô nên phân

7 | Tạp c h í K I N H T Ế Đ Ố I N G O Ạ I

Trang 10

biệt theo mục đích sử dụng (kinh doanh hay không kinh doanh), để điều tiết thu nhập cá nhân

- Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống ngày một nâng cao, các mặt hàng như trang sức, đá quý, đồng hồ cao cấp… nên được đưa vào đối tượng chụi thuế với mức thuế suất là tỷ lệ % trên phần tăng thêm của giá bán lớn hơn một mức cụ thể, giúp tăng thu NSNN, định hướng tiêu dùng

- Đối với mặt hàng rượu, nên áp dụng một dòng thuế riêng đối với rượu có nồng độ cồn từ 85% trở lên và áp dụng mức thuế suất thấp đối với rượu vang trái cây, vì sản phẩm này nếu sử dụng đúng mức sẽ có lợi cho sức khỏe của người tiêu dùng

- Đối với mặt hàng xăng, nên đánh mức thuế lớn hơn đối với xăng pha chì và mức thuế nhỏ hơn đối với xăng không chì.Với xăng sinh học thì nên áp dụng thuế suất thấp

- Đối với mặt hàng điều hòa nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống, thuế suất nên được điều chỉnh giảm dần phù hợp với điều kiện thời tiết của nước ta và nhu cầu

sử dụng ngày càng phổ biến của người dân

4.3 Giá tính thuế

Đối với sắc thuế tiêu dùng một giai đoạn có mức thuế suất cao như thuế tiêu thụ đặc biệt thì quy định giá tính thuế chặt chẽ và khả thi là yếu tố quan trọng nhất đảm bảo phòng chống tránh thuế hoặc trốn thuế

Ben J.M Terra (1996) cho rằng, có hai kiểu xác định giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt Kiểu thứ nhất, tính thuế từ khâu sản xuất Theo đó, giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nhà sản xuất là giá xuất xưởng

và đối với nhà nhập khẩu được tính bằng giá nhập khẩu cộng với thuế nhập khẩu

Kiểu thứ hai, tính thuế tiêu thụ đặc biệt bán

lẻ Mặc dù kiểu xác định giá tính thuế theo giá bán lẻ công bằng hơn và sát hơn với nguyên lý đánh thuế tiêu thụ đặc biệt, song các nước chậm phát triển hoặc đang phát triển có xu hướng áp dụng kiểu xác định giá tính thuế thứ nhất do dễ áp dụng hơn, phù hợp hơn với trình độ quản lý chưa cao

Hiện nay trình độ quản lý thuế nói riêng và quản lý kinh tế - xã hội của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam đã được nâng lên, các quy định pháp luật về quản lý kinh doanh đã hoàn thiện hơn thì việc chúng ta học hỏi các nước phát triển, chuyển dần sang áp dụng kiểu xác định giá tính thuế theo giá bán lẻ đối với một mặt hàng là hợp

lý và khả thi

Một là, về nguyên tắc, giá tính thuế tiêu thụ

đặc biệt càng sát với giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng thì càng đúng với bản chất của sắc thuế này, đảm bảo công bằng đối với cả hàng sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu, bởi do đây là thuế tiêu dùng và

nó do người tiêu dùng chịu

Hai là, ô tô và điều hòa nhiệt độ là những

mặt hàng có chuỗi cung ứng đặc thù với ít khâu trung gian và trong điều kiện quy định pháp luật về quản lý kinh doanh cũng như trình độ quản lý hiện nay ở Việt Nam hoàn toàn có thể kiểm soát tốt khâu bán lẻ mặt hàng này để tính thuế

Ba là, quy định như vậy sẽ ngăn ngừa có

hiệu quả hành vi tránh thuế thông qua chuyển giá của các doanh nghiệp nhập khẩu, góp phần chống thất thu ngân sách nhà nước nhưng bên cạnh đó cũng tạo ra một vài khó khăn: hoàn thiện hệ thống pháp lý, hoàn thiện bộ máy quản lý thuế của nhà nước

Ngày đăng: 11/10/2022, 09:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w