Các yếu tố và thể chế làm ảnh hưởng tới các thư viện ở Nhật Bản Trước khi mô tả thực trạng của các thư viện đại học và thự viện công cộng ở Nhật Bản, cần lưu ý đến một yếu tố thiết yếu c
Trang 1HOAT DONG THƯ VIỆN NƯỚC NGOÀI
Những thay fiổi trang các thư vién céng cong
va thu viện fại lụt ở Nhật Bản
Bài viết mô tả những yếu tố và những thể chế ảnh hưởng đến các thư viện đại học và thư viện công cộng ở Nhật Bản, đồng thời mô tả cơ cấu tổ chức và những đặc điểm cơ bản của hai loại hình thư viện trên Vai trò và hoạt động của
Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ (gọi tắt là MEXT — Ministry of Education, Culture, Sports, Science and Technology), Vién Théng tin Quốc gia (NII - National Institute of Informatics), Thu vién Quéc hội Nhật (chức năng như thư viện quốc gia) (NDL - the National Diet Library) và Hội Thư
viện Nhật (JLA — Japan Library Association) đối với các thư viện Những vấn
đề mà các thư viện đang phải đối mặt là sự cắt giảm ngân sách, giá tài liệu tăng, thiếu kho chứa tài liệu, công tác phát triển vốn tài liệu, mượn liên thư viện
và trình độ của cán bộ thư viện Một số giải pháp cho các vấn đề nay
1 Các yếu tố và thể chế làm ảnh
hưởng tới các thư viện ở Nhật Bản
Trước khi mô tả thực trạng của các thư
viện đại học và thự viện công cộng ở
Nhật Bản, cần lưu ý đến một yếu tố thiết
yếu cố hữu đó là cơ cấu tổ chức (yếu tố
này định hướng các dịch vụ thư viện
cũng như các thể chế luôn đóng vai trò
quan trọng trong ngành Thư viện) Thư
viện đại học và thư viện công cộng phục
vụ những đối tượng người dùng khác
nhau, theo những cách khác nhau và
công tác phối hợp hoạt động giữa hai
loại hình thư viện này còn yếu kém, bởi
sự thiếu linh hoạt trong cơ cấu tổ chức
Hậu quả là số lượng và chất lượng dịch
vụ của các thư viện bị hạn chế, đôi khi
hiệu quả còn thấp
Các tổ chức trong phạm vi quốc gia có
mối quan hệ gần gũi và có ảnh hưởng tới
các hoạt động của các thư viện này, đó
là Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao,
Khoa học và Công Nghệ - MEXT, Viện
Thông tin Quốc gia - NII, Thư viện Quốc
hội Nhật (chức năng như thư viện quốc
gia) - NDL và Hội Thư viện Nhật - JLA
Tuy nhiên, cơ quan có ảnh hưởng nhiều nhất tới các dịch vụ thư viện là Viện Thông tin Quốc gia
MEXT luôn chủ động khuyến khích đẩy mạnh mọi hoạt động và dịch vụ
trong các thư viện đại học theo nhiều cách khác nhau Cơ quan này đã trích một phần trong ngân sách hoạt động
của mình cho các thư viện đại học và hỗ trợ về phương diện tài chính trong việc mua báo - tạp chí điện tử, đồng thời xây dựng các chính sách, kế hoạch và đề nghị các cơ quan cấp dưới (những cơ quan có khả năng về tài chính) hỗ trợ kinh phí một cách trực tiếp và gián tiếp nhằm thúc đẩy các thư viện phát triển MEXT còn lập một bộ phận quảng cáo trong Tiểu ban Khoa học của Hội đồng
Khoa học và Công nghệ trong đó các
chính sách về phát triển cơ sở hạ tầng
thông tin học thuật được chú tâm một
cách toàn diện Hội đồng này thực hiện việc nghiên cứu và thảo luận về những
vấn đề quan trọng liên quan tới công tác
phát triển khoa học và công nghệ, nhằm
Trang 2
76
đáp ứng những yêu cầu từ Bộ và phan
hồi lại những quan điểm, ý kiến của mình
tới Bộ
Không chỉ hỗ trợ các thư viện đại học,
MEXT cũng đã và đang đề ra và tham
gia các hoạt động liên quan đến việc đẩy
mạnh phát triển cho các thư viện công
cộng Cơ quan này đã biên soạn những
nguyên tắc chỉ đạo, đường hướng chỉ
đạo, đưa ra các ý kiến và đề xuất cũng
như nghiên cứu những vấn đề có liên
quan mật thiết tới các dịch vụ thư viện
công cộng Những hỗ trợ về tài chính cho
các thư viện đang phát triển sẽ được
giao cho chính quyền địa phương, nếu
các hoạt động của họ là vì mục đích thúc
đẩy phát triển thư viện sao cho phù hợp
với các kế hoạch mà MEXT đã đề ra
Ngoài ra, MEXT còn tiến hành tổ chức
các khóa đào tạo cho cán bộ thư viện
trên toàn quốc
Một số bộ và các tổ chức khác đôi khi
cũng tham gia vào công tác phát triển
thư viện Tuy nhiên, không có Vự, Cục
hoặc bộ phận xác định nào trong cấp
quản lý quốc gia chịu trách nhiệm giải
quyết các vấn đề giành riêng cho thư
viện, vì vậy rất khó để có thể nói rằng có
một chính sách thư viện hoàn thiện tại
Nhật Bản
Co quan Nii, mét viện nghiên cứu liên
đại học, với tên gọi cũ (được dùng cho
đến năm 2000) là Trung tâm Quốc gia về
các hệ thống thông tin khoa học (The
National Center for Science Information
Systems - NACSIS) da déng vai trò
quan trong trong phan bé théng tin hoc
thuật, khoa học trong phạm vi quốc gia
và quốc tế cũng như xây dựng cơ sở hạ
tầng xử lý loại thông tin này Chức năng
của NII còn là cung cấp thư mục tiện ích
cho các thư viện đại học ở Nhật Bản Tuy
nhiên, NII không mang lại nhiều lợi ích
cho các thư viện công cộng bởi mục tiêu
chính của nó là nhằm vào các thư viện
đại học
NDL có mối quan hệ rất gần gũi với các thư viện công cộng trong nước Sự đáp ứng của nó đối với những yêu cầu từ các thư viện công cộng nhằm hỗ trợ cho các dịch vụ thư viện cho cộng đồng dân
cư địa phương đã nhanh hơn trước đây
rất nhiều Tuy vậy, NDL không có quan
hệ gắn bó với các thư viện đại học Gần đây, NDL đã có những dự định phát triển nhằm thay đổi chính sách của mình để tăng cường các mối quan hệ với các thư
viện đại học
Mặc dù nhiệm vụ của JLA là đẩy mạnh sự phát triển của các loại hình thư viện ở Nhật Bản, song sự chú trọng trong các hoạt động của tổ chức này vẫn
hướng về các thư viện công cộng và hiện tại nó chỉ có một vài quan hệ với các thư viện đại học
Hệ thống thư viện đại học
Có 3 loại thư viện đại học ở Nhật Bản:
đại học quốc gia, đại học công cộng địa phương và đại học tư nhân Các trường đại học quốc gia ngày nay được gọi là
“Liên hiệp đại học quốc gia” Các trường
đại học công cộng địa phương được các
cấp quản lý địa phương thiết lập và cấp
ngân sách hoạt động Ba loại thự viện
của các trường đại học này đã hình
thành nên các Hội thư viện khác nhau,
đó là Hội các Thư viện Đại học Quốc gia, Hội Thư viện Đại học Công cộng và Hội các Thư viện Đại học Tư nhân Số lượng các trường đại học quốc gia, địa phương
và tư nhân cùng với các thư viện tương
ứng với nó được thể hiện như sau:
Loại hình | Số lượng | Số lượng |Số TV/
trường ĐHỊ thư viện | 1H
Tổng số 708 1314 1,9
Trang 3Bảng trên cho thấy, thư viện ở các
trường đại học quốc gia, tính bình quân
nhiều hơn thư viện đại học khác Thực tế
các thư viện đại học quốc gia là những
cơ quan nổi tiếng nhất, và chỉ có một vài
thư viện đại học tư nhân như Thư viện
Đại học Keio là có thể so sánh được với
nó Về trang thiết bị và chất lượng dịch
vụ của các thư viện đại học tư nhân nói
chung không được tốt, điều này cũng
tương tự với các thư viện của đại học
công cộng ở địa phương Vì vậy, có một
khoảng cách khá lớn cả về số lượng và
chất lượng giữa các thư viện giàu và thư
viện nghèo của các trường đại học và
hậu quả là hoạt động liên kết trong các
thư viện đại học không thực sự dễ dàng
và hiệu quả
Một sự kiện gây ấn tượng sâu sắc và
đáng ghi nhớ gây ảnh hưởng đến thư
viện các trường đại học quốc gia là sự
cải tổ, tái tổ chức và sự liên kết của chính
họ Từ tháng 4 năm 2004, thư viện các
trường đại học quốc gia được tái thiết lập
thành Liên hiệp Đại học Quốc gia Mục
đích chính của sự thay đổi cơ cấu và
thiết lập các liên hiệp này là để quản lý
các trường đại học theo cách tự quản, ví
dụ: về nhân sự và ngân sách Như thế,
mỗi trường đại học quốc gia yêu cầu
phải có khả năng quản lý tốt hơn trước
đây, và hệ quả là thư viện của các trường
này cũng phải có những thay đổi cho
phù hợp Điều này có nghĩa là các thư
viện phải cố gắng nỗ lực khi thực hiện
các chức năng, nhiệm vụ của mình sao
cho hiệu quả hơn trong môi trường mới
Những nét đặc trưng cơ bản của
các thư viện đại học
Hầu hết các thư viện đại học ở Nhật
Bản đều xây dựng các cơ sở dữ liệu nội
bộ của mình, tận dụng sử dụng nguồn
biên mục được chia sẻ NACSIS-CAT bởi
NII Một xu hướng mới trong biên mục
hiện nay là tìm kiếm dịch vụ bên ngoài,
Tạp ch: THƯ VIỆN VIỆT NAM
bằng hai cách: thứ nhất là thuê người biên mục theo hợp đồng, cách hai là mua biểu ghi từ các tổ chức bên ngoài Theo thống kê, có khoảng hơn 60%
tài liệu lưu trữ trong các trường đại học
của Nhật là những tài liệu được xuất bản bằng tiếng Nhật, phần còn lại là ngôn ngữ của các nước phương Tây và các ngôn ngữ khác Tài liệu được biên mục
theo 2 cach: Hau hết các thư viện sử dụng qui tắc biên mục Nippon - được xây
dựng bởi Ủy ban Biên mục của JjLA Qui
tắc biên mục này dùng cho tài liệu tiếng
Nhật và một vài tiếng khác ở châu Á; trong khi đó, khoảng 71% các thư viện
sử dụng qui tắc biên mục Anh - Mỹ đối
với các tài liệu là ngôn ngữ của các nước
phương Tây Bảng phân loại dùng phổ biến nhất là Bảng Thập phân Nippon được tạo ra bởi JLA Để mục chủ để hiếm khi được sử dụng bởi sự không sẵn
có một danh sách đề mục chủ đề ưu việt
ở Nhật
Có một vài loại sản phẩm của MARC được sử dụng ở Nhật, điển hình là Japan
MARC do NDL biên soạn ra, hay NS
MARC - được biên soạn bởi Dịch vụ
Toshokan Nippan va TR MARC, dudc biên soạn bởi Trung tâm Thokan Ryutsu
Các format MARC được sử dụng phổ biến nhất hiện nay ở Nhật là NC/MARC, Japan MARC và MARC21 NC/MARC - format đặc trưng của NACSIS-CAT, là
một format tương đối đơn giản được sử dụng bởi hầu hết các thư viện của các
trường đại học và các cơ quan học thuật
khác Japan MARC là format giống như UNIMARC được sử dụng cho các xuất bản phẩm trong nước, và MARC21 được dùng cho các xuất bản phẩm nước
ngoài
Các thư viện đại học của Nhật bắt đầu phát triển hệ thống lưu trữ quản lý của
mình từ những năm 80 Vào những năm
90, khi nhận thấy việc tiêu chuẩn hóa
ngày càng tăng trong các hoạt động thư
77
Trang 4viện, cụ thể là việc xây dựng các hệ
thống biên mục và hệ thống mượn liên
thư viện dưới sự bảo trợ của NII, cũng
như sự tiếp thị của của các gói hệ thống
thư viện đa dạng, nên các nhà cung cấp
gói thư viện đã xuất hiện và hầu hết
trong số họ là người Nhật vì thế việc xử
lý tài liệu tiếng Nhật khá phức tạp
Theo số liệu thống kê toàn diện năm
2004 được biên soạn bởi MEXT liên
quan đến các thư viện đại học: số lượng
nhân viên thư viện, cơ sở hạ tầng và diện
tích thư viện, vốn tài liệu, ngân sách cho
vốn tài liệu hàng năm được thể hiện ở
bảng sau (số liệu tính bình quân):
viện được xây dựng và được cấp ngân
sách hoạt động khác nhau, nên các dịch
vụ cung cấp cho người sử dụng mang tính độc lập mà không có sự hợp tác
đáng kể giữa các thư viện Dưới áp lực bị cắt giảm ngân sách trong khi yêu cầu công việc đòi hỏi phải hoạt động hiệu quả hơn, các thư viện phải tìm ra các giải pháp hợp lý để đương đầu với những khó khăn Vì vậy, việc phối hợp hoạt động đang trở thành vấn đề thiết yếu đối với các thư viện Đây là lý do chính giải thích tại sao ba loại thư viện đại học gần đây
đã thiết lập ủy ban liên kết Hiện nay,
chức năng của ủy ban này được coi là
nơi họ tiến hành trao đổi thông
Các đơn vị tính Loại hình các trường đạihọc | tỉn về những vấn để đang gặp
phải và cùng đề ra những biện Quốc Địa | Tư pháp tháo gỡ
gia | phương | nhân Môi trường của các thư
Số lượng cán bộ thư viện | 44 11 16 viện đại học
Tổng diện tích mặtsàn |10/633 |3,580 | 4,339 Các dịch vụ được cung cấp
Khả năng sức chứa của [976859 pw , |273750|378.204| điện tử, các dự án số hóa và ’ ’ Internet đã có ảnh hưởng vô
Sách (cuốn) 1,052,924| 235,763| 304,192| cac thư viện đại học ở Nhật
An phẩm định kỳ (cuốn)|46098đ |3,144 [3.401 | Chức năng của NII không chỉ
Bồ sung tài liệu hàng còn như một viện nghiên cứu,
Sách 10,529 |4,708 |7,154 | và máy tính Chuyển thành các
Ấn phẩm định kỳ 2,640 |556 |820 dịch vụ được đưa ra dưới đây
Chi phi hang nam cho | 272,711 | 51,885 | 90,838 những thư viện:
Các dịch vụ và hoạt động của thư viện
đại học được xếp thành hai nhóm Nhóm
thứ nhất gồm các dịch vụ được thực hiện
một cách độc lập, dựa trên cơ sở các
mục đích và chính sách của mỗi thư
viện Nhóm thứ hai gồm các hoạt động
được thực hiện thông qua sự phối hợp
giữa các thư viện Bởi vì ba loại hình thư
NACSIS-CAT/ILL (Dịch vụ thông tin thư mục)
NACSIS-CAT/ILL bắt đầu thực hiện dịch vụ từ năm 1984 và đến ngày 28 tháng 2 năm 2005 đã có 1.139 tổ chức,
thư viện của các đại học và 72 tổ chức
nước ngoài tham gia vào dịch vụ này Đến năm 2006, NACSIS-CAT/ILL có khoảng 8 triệu biểu ghi thư mục và hơn
Trang 582 triệu biểu ghi định vị đối với sách, gần
300.000 biểu ghi thư mục và hơn 4 triệu
biểu ghi định vị cho ấn phẩm định kỳ
NACSIS-CAT/ILL còn hỗ trợ hoạt động
mượn liên thư viện Tính đến tháng 8
năm 2005, có 967 cơ quan thực hiện
mượn liên thư viện với số lượng là 1,2
triệu đơn vị tài liệu Hiện tại NI! còn cung
cấp các dịch vụ của NACSIS-CAT/ILL tới
các thư viện ở Mỹ và Hàn Quốc
GeNii (Môi trường toàn cầu đối với
thông tín tri thức được kết nối)
GeNii là cổng nội dung học thuật,
cung cấp các hệ thống nghiên cứu mà ở
đó người sử dụng có thể truy cập tới một
số cơ sở dữ liệu như CiNii (báo, luận
án ), Webcat Plus (sách, tạp chí ),
Karen (các chủ đề nghiên cứu) và NII-
DBR (thông tin học thuật chuyên ngành)
NII-REO (nơi lưu trữ báo tạp chí điện
tử và ấn bản phẩm online)
NII-REO cung cấp cho các trường đại
học và các học viện khác nội dung của
các báo - tạp chí điện tử một cách đáng
tin cậy, liền mạch, không bị ngắt quãng
Báo điện tử và số hóa
Số lượng các thư viện đặt mua báo
điện tử gia tăng nhanh chóng kể từ năm
2002 Tổng số báo điện tử được các thư
viện trường đại học mua năm 2003 với
số lượng là 850.000 tên báo Bình quân
mỗi thư viện đại học quốc gia mua
khoảng 4.900 tên Một số trường đại học
mua tới 14.000 tên
Các dự án số hóa đang được chú
trọng vào sách hiếm, bản đồ cũ và các
tài liệu được sở hữu bởi các cơ quan học
thuật và thư viện các trường đại học như
Thư viện trường Đại học Ryukyu,
Kyoto Hiện tại, công chúng có thể truy
cập tới những tài liệu số hóa này theo
nhiều cách khác nhau nhưng trong
tương lai gần, có thể chúng sẽ được tổ
Tạp chí THƯ VIỆN VIỆT NAM
chức và sắp xếp lại thành một kho chứa tiện dụng
Internet
Sự phát triển của internet đã có những
ảnh hưởng mạnh mẽ, không chỉ với các
dịch vụ thư viện mà còn với cách thức
của người sử dụng khi tiếp cận thông tin Người dùng tin không nhất thiết phải tới các thư viện hữu hình mà chỉ cần nhấp chuột và sử dụng bàn phím tại máy tính được nối mạng ở nhà là xong Các thư viện dường như đang bị mất dần vai trò của mình khi nguồn lực thông tin luôn sẵn sàng trên internet?
Từ đầu năm 1999, một phương thức
mới mà nhờ đó người dùng tin của Nhật
có thể tiếp cận tới Internet thông qua điện thoại di động (phương thức này gọi
là i-mode) Một số thư viện đã đưa công nghệ này vào hệ thống OPAC của họ để
người sử dụng có thể truy cập thông qua điện thoại di động Năm 2000, Thư viện trường Đại học Toyama là nơi đầu tiên
ứng dụng đưa imode vào hệ thống OPAC; tiếp theo đó là Trường Đại học
Tokyo ứng dụng công nghệ này vào tháng 5/2001; Từ tháng 4 đến tháng 11 năm 2005, dịch vụ này có tới 8.526 lần truy cập Tới tháng 2/2006, có khoảng
90 thư viện bắt đầu tiến hành dịch vụ này Một khảo sát năm 1999 cho biết có
hơn 90% người dùng tin có điện thoại di
động Tuy nhiên, người sử dụng tìm kiếm thông tin qua điện thoại di động gặp phải
khó khăn là màn hình nhỏ nên rất khó để
có thể xem thông tin biên mục chỉ tiết Vì thế nhiều thư viện chỉ đưa tin tức và các thông tin chung liên quan đến dịch vụ thư viện thông qua i-mode, thay vì thông
tin biên mục đầy đủ từ OPAC
Những vấn đề và một số giải pháp
cho các thư viện đại học
Giảm ngân sách Nhân tố ảnh hưởng lớn nhất đến
79
Trang 680
tương lai của các thư viện đại học Nhật
Bản là tình trạng bị cắt giảm ngân sách
Ví dụ: Thư viện Đại học Keio, một trong
những Thư viện hàng đầu của Nhật cũng
trong tình trạng này Ngân sách mua
sách, báo - tạp chí dạng in và dạng điện
tử, mua các cơ sở dữ liệu và các loại tài
liệu khác bị giảm 4% từ năm 2004 đến
năm 2006, Ngân sách cho nhân sự cũng
bị cắt giảm Thực tế là không có thư viện
đại học nào tránh được áp lực này Điều
này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng
và số lượng cán bộ thư viện, mà còn ảnh
hưởng đến nguồn lực thông tin và vốn tài
liệu của các thư viện
Giá báo - tạp chí tăng
Hiện tượng giá thành các tạp chí học
thuật, chuyên ngành gia tăng là phổ biến
trên thế giới nói chung và với Nhật Bản
nói riêng Đặc biệt, giá các tạp chí ngoại
văn ước tính táng khoảng 10% mỗi năm
Điều này khiến các thư viện cũng phải
giảm lượng báo - tạp chí mua hàng năm
Để giải quyết vấn để này, các thư viện
đại học quốc gia và tư nhân phải hình
thành sự liên kết với nhau Tuy nhiên, sự
liên kết, phối hợp hoạt động giữa các thư
viện này về cơ bản vẫn còn yếu kém, rời
rạc; Thêm vào đó, việc đàm phán giữa
họ với các nhà xuất bản cũng bị hạn chế,
ít có hiệu quả
Khả năng sức chứa của khoang giá
Có thể nói rằng, giá để chứa sách mới
không còn, nhiều khi có tới hơn 70% giá
sách đã được sử dụng cho tài liệu hiện
có trong các thư viện Tuy nhiên, với các
thư viện đại học, tính bình quân có
khoảng 90% diện tích khoang giá đã
chứa đầy tài liệu Tình trạng này còn tồi
tệ hơn đối với một số thư viện, đó là
không còn khoang giá chứa tài liệu, kết
quả là sách nhập về phải để vào thùng,
túi hoặc chất đống và như vậy những
tài liệu này có thể được coi là “tài liệu
chết” vì khó mà tìm được chúng
Giải pháp cho sự quá tải của kho chứa tài liệu có thể phải tính đến cả
trường hợp tạo thêm các địa điểm ở rìa
khuôn viên của trường, thuê nơi để kho
tàng, chia sẻ kho tàng, sử dụng giá nén vận hành tự động :
Phát triển vốn tài liệu
Sự phổ biến của báo - tạp chí và sách
điện tử cũng như Internet dường như làm
mất đi khái niệm phát triển vốn tài liệu, theo cách truyền thống các thư viện đã quen thuộc trong một thời gian dài Ngày
nay, sự kết hợp mang tính liền mạch và
hệ thống của tài liệu in truyền thống và tài liệu số là rất cần thiết trong chính sách phát triển vốn tài liệu mới Điều này
có nghĩa là một số tài liệu dạng in có thể
bị thay thế bằng tài liệu số Hiện nay, công tác phát triển vốn tài liệu và các giải pháp về sức chứa khoang giá là những vấn đề có liên quan mật thiết với nhau
Sự đa dạng của các cơ sở dữ liệu thư mục số và toàn văn ở nhiều lĩnh vực khác nhau đã được các nhà nghiên cứu, học giả của các viện nghiên cứu, trường đại học tạo ra trong nhiều thập kỷ qua
nhưng các hệ thống và các sản phẩm cho việc duy trì và phát triển chúng một cách có hiệu quả và hợp thức vẫn còn yếu Việc tái tổ chức hoặc tích hợp các nguồn lực thông tin có giá trị này bởi các thư viện, sẽ có ý nghĩa quan trọng trong các kế hoạch phát triển vốn tài liệu khi các cơ sở dữ liệu trở nên dễ dàng hơn trong việc truy cập và sử dụng
Sự phối hợp thông qua NACSIS- CAT/ILL
Dịch vụ NACSIS-CAT/ILL được cung
cấp bởi NII ngày nay có thể được coi là chưa mạnh và chưa ổn định bởi sự cảm nhận và đánh giá chung là chất lượng dịch vụ đang giảm dần Một số thư viện
đã từ chối dịch vụ của NACSIS-CAT/ILL.
Trang 7Một trong những nguyên nhân quan
trọng ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ
của NACSIS-CAT/ILL là sự cắt giảm
nhân viên và cắt giảm ngân sách chỉ trả
cho nhân viên, trong khi khối lượng công
việc không hề giảm nếu không nói là
tăng Để giải quyết khó khăn này, một tổ
dự án đã được lập ra với các thành viên
của NIl và ủy ban liên kết của 3 loại thư
viện đại học Một kế hoạch hoạt động
được vạch ra là: lập ra một bộ phận đào
tạo nhằm nâng cao nghiệp vụ và tinh
thần trách nhiệm cho cán bộ thư viện,
đồng thời nâng cao chất lượng công tác
Trình độ cán bộ thư viện
Trình độ cán bộ thư viện cần phải
được nâng cao hơn trước đây, bởi môi
trường thư viện đã và đang thay đổi
nhanh chóng Đó là sự thay đổi từ
phương thức, kỹ thuật truyền thống và
dịch vụ công cộng sang công nghệ
thông tin hiện đại và các luật lệ (ví dụ
luật bản quyền), liên quan đến các sản
phẩm của tài liệu số Hiện nay, khoa
Thông tin - Thư viện của trường Đại học
Keio đã tiến hành đào tạo các khóa học
đặc biệt cho cán bộ thư viện nhằm cụng
cấp cho họ những kỹ năng, kiến thức mới
của ngành
Hệ thống thư viện công cộng
Cơ cấu tổ chức
Hệ thống thư viện công cộng ở Nhật
hoạt động theo 2 cấp độ khác nhau Cấp
thứ nhất được gọi là “thư viện tiên phong”
- hiện có gần 3.000 thư viện, những thư
viện này có nhiệm vụ cung cấp các dịch
vụ thư viện một cách trực tiếp tới cộng
đồng dân cư tại các thị trấn, làng mạc và
thành phố Một trong những thư viện
điển hình và dẫn đầu trong loại hình thự
viện này là Thư viện Trung tâm của
thành phố Yokohama Cấp thứ hai gọi là
“thư viện hỗ trợ”, gồm 64 thư viện, được
Tap chi THU VIEN VIET NAM
thành lập bởi chính quyền cấp quận (cấp hành chính này thường chỉ có ở Pháp,
Nhật ) Thư viện này đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các thư viện tiên phong, và bản thân nó cũng có chức
năng như là thư viện tiên phong đối với
các vùng nông thôn - nơi không có thu viện hoặc chỉ có một vài dịch vụ thư viện
cơ bản được cung cấp Loại hình thư viện
cấp thứ hai này còn hoạt động như điều
phối viên cho các thư viện trong vùng,
một vài thư viện hoạt động như các thư viện nghiên cứu Chúng hoạt động theo
cơ chế độc lập
Hầu hết sách được mua bởi các thư viện công cộng là sách tiếng Nhật Phần lớn nhụ cầu của người sử dụng là học tập, nghiên cứu kiến thức mới, tìm kiếm thông tin và giải quyết các vấn đề chỉ cần thông qua tài liệu tiếng Nhật Vì vậy, tài liệu ngoại văn trong vốn tài liệu của thư viện chiếm rất ít
Hiện tại, không có bộ hoặc cơ quan chính phủ cấp trung ương nào chịu trách
nhiệm riêng đối với hệ thống thư viện
công cộng của nước này, mà chỉ có một vài tổ chức, cơ quan chính phủ tham gia vào các hoạt động hỗ trợ các thư viện này, trong đó có MEXT Tổ chức các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Bộ Y tế, Lao
động và Phúc lợi cũng giúp đỡ các thư
viện công cộng bằng việc tạo cơ hội cho
họ có các tài liệu, thông tin về các hoạt
động kinh doanh và sức khỏe của người tiêu dùng Trong luật pháp quốc gia, Luật Thư viện được ban hành năm 1950 không có chính sách nào của quốc gia
đề cập đến vấn đề này
Môi trường của hệ thống thư viện
công cộng
Sự liên kết của chính quyền địa phương
Hiện nay, một số cấp quản lý chính
quyền địa phương đang liên kết với nhau
81
Trang 882
để trở thành những đơn vị lớn mạnh hơn
Và kết quả là, các thị trấn, làng mạc và
các thành phố được liên kết với nhau,
làm mất đi cấp bậc, địa vị của riêng mình
là những cơ quan hành chính độc lập
Thường thì mỗi thị trấn, mỗi thành phố
nên xây dựng ít nhất là một thư viện để
cung cấp dịch vụ tới cộng đồng dân cư,
nhưng số lượng thư viện và cách thức
hoạt động ra sao lại được xác định bởi
mỗi cơ quan quản lý địa phương Vì các
thư viện công cộng là một trong những
đơn vị hợp thành của chính quyền địa
phương, nên họ không thể tránh khỏi
việc phải chấp hành những quyết định
của chính quyền Việc cung cấp các dịch
vụ thư viện thường đòi hỏi phải có một
lượng kinh phí đáng kể, và một số chính
quyền địa phương không sẵn lòng đầu tư
cho họ Kết quả là, sự liên kết của các
cấp chính quyền địa phương đã làm
giảm đi các dịch vụ của thư viện công
cộng
Công nghệ thông tin
Tính chất đa dạng của công nghệ
thông tin đã ảnh hưởng sâu rộng vào hệ
thống thư viện công cộng Các thư viện
mới được xây dựng thường lắp đặt trang
thiết bị và cơ sở hạ tầng thông tin khá
hiện đại Một vài thư viện đã đảm nhận
nhiều dự án số hóa, trong đó phải kể đến
dự án “Ký ức của Thư viện Trung tâm
thành phé Yokohama” Thanh phố
Yokohama cé lich str dac biét vé quan hé
ngoại giao với nhiều nước trên thế giới
vào giữa thế kỷ 19, Yokohama có rất
nhiều tranh ảnh, bản đồ và các tư liệu
quý hiếm được Iưu trữ trong thư viện
Theo dữ liệu được cung cấp bởi JLA
năm 2006, có khoảng 1.009 thư viện
cung cấp OPAC trên Web, 497 thư viện
cung cấp dịch vụ bảo quản trên Web và
172 thư viện có dịch vụ i-mode, 84 thư
viện nhận và trả lời câu hỏi tra cứu thông
qua email Ngoài ra, tại nhiều thư viện,
thông tin về địa chí và tài liệu số cũng có thể được truy cập thông qua Internet Những vấn đề và giải pháp cho các
thư viện công cộng
Có rất nhiều vấn để và giải pháp trong
thế giới thư viện ở Nhật Bản Có những
vấn đề là phổ biến đối với tất cả các thư viện Tuy nhiên, dưới đây chỉ đề cập đến một số vấn đề chính
Cắt giảm ngân sách Việc bị cắt giảm ngân sách hoạt động tạo ra gánh nặng khó lường cho các dịch
vụ thư viện công cộng Ví dụ: ngân sách mua tài liệu cho các thư viện công cộng
năm 2006 với tổng số khoảng 30,7 tỉ yên (30,7 JPY) - bị giảm 4 tỉ yên so với năm
2000
Việc cắt giảm ngân sách đã buộc nhiều thư viện phải giao một số công
việc của họ cho các công ty thương mại làm (kinh phí chỉ trả sẽ rẻ hơn là tự các
thư viện làm lấy), điều này đã tạo ra một thị trường kinh doanh mới liên quan đến
hoạt động thư viện Mặc du chi phi cho
công việc này thường là thấp nhưng theo quan điểm đánh giá của cán bộ thư viện, hầu hết các trường hợp cho thấy chất lượng của các dịch vụ được cung cấp là không cao
Trình độ chuyên môn của cán bộ thư viện công cộng
Có thể nói rằng trong một thời gian dài
trình độ chuyên môn của cán bộ thư viện
ở Nhật còn thấp Và hiện nay, những phẩm chất, năng lực chuyên môn nào là
cần thiết khi trong một xã hội mà Internet
có ảnh hưởng rất lớn và có khả năng chỉ phối? Kiến thức và kỹ năng nào nên được cân nhắc để đáp ứng cho phù hợp? Một loạt dự án đã được xây dựng để giải quyết vấn đề này Ví dụ: dự án của Hội
Khoa học và Thông tin của Nhật được
báo cáo năm 2006 Dự án này đã đề xuất
Trang 9mở một khóa học hoặc một chương trình
giảng dạy và sẽ tiến hành một cuộc thi
chất lượng đặc biệt về khoa học thông tin
và thư viện Tuy nhiên, kết quả là không
xác định được câu trả lời thuyết phục bởi
cần phải làm sáng tỏ các vấn đề phức
tạp một cách hợp lý như nhận định của
các giáo viên và cơ quan tổ chức
Những thách đố ngoài khuôn khổ
truyền thống
Vấn đề bản quyền được coi là phức
tạp và đôi khi gây hại cho hiệu quả của
các dịch vụ thư viện Ví dụ như bất cứ khi
nào thư viện thực hiện ghi âm qua băng
hoặc đĩa từ sách cho người mù, hoặc
người khiếm thị đều nhất thiết phải xin
phép bản quyền Để giảm bớt thời gian
cho thủ tục này, JLA đã cố gắng can
thiệp nhằm giảm gánh nặng cho dịch vụ
thư viện và JLA đã thành công trong việc
thay đổi thỏa thuận với người sở hữu bản
quyền, và bây giờ họ cho phép các thư
viện tự do làm băng ghi âm sách (hay
còn gọi là làm sách nói) sau khi một
danh sách sách được soạn ra và có sự
biên soạn bởi các thư viện và người sở
hữu bản quyền Bên cạnh đó, các thư
viện cũng đang phát triển thêm các dịch
vụ mới, và cố gắng ứng dụng công nghệ
mới vào các dịch vụ đã và đang tổn tại:
Dịch vụ thông tin hỗ trợ các hoạt động
kinh doanh
Việc cung cấp thông tin thương mại
hiện nay ở Nhật Bản là xu hướng chủ
đạo trong các dịch vụ cơ bản của thư
viện Thực tế, rất nhiều cán bộ thư viện
có kinh nghiệm và kiến thức trong lĩnh
vực này Mục đích của dịch vụ cung cấp
thông tin thương mại nhằm thụ hút độc
giả đến với thư viện, ngoài ra họ còn tổ
chức các cuộc hội thảo để thúc đẩy dịch
vụ phát triển Tháng 12 năm 2000, dịch
vụ mới chỉ được một số thư viện tiến
hành nhưng đến nay đã có hơn 50 thư
viện cùng mở dịch vụ này Hiện tại, các
Tạp chỉ THƯ VIỆN VIỆT NAM
thư viện cũng chú trọng bổ sung tài liệu
là sách, báo - tạp chí thuộc lĩnh vực thương mại Dịch vụ cung cấp thông tin thương mại đã được công chúng đánh giá cao và được giới báo chí quan tâm
Dịch vụ thông tin y tế cộng đồng Loại dịch vụ này mới được bắt đầu trong thời gian gần đây Mục đích cũng tương tự như dịch vụ thông tin thương mại Hoạt động chính của dịch vụ là cung cấp tài liệu, hoặc dữ liệu liên quan đến thông tin y tế cộng đồng Các thư
viện thực hiện dịch vụ này thường có mối
quan hệ thân thiết với các viện, cơ quan
y tế Thư viện thành phố Tokyo và Thư vién quan Tottori là những ví dụ điển hình trong việc cung cấp dịch vụ thông tin y tế cộng đồng
Kết luận Việc đánh giá hoạt động và kết quả của các dịch vụ thự viện là công việc
chúng ta thường làm và nên làm Đây là
cơ hội tốt cho các thư viện thể hiện tầm quan trọng của họ, nhằm chứng tỏ
những đóng góp trong lĩnh vực nghiên cứu và giáo dục
Cả hai loại hình thư viện công cộng và thư viện đại học đang thực hiện chức
năng của mình trong bối cảnh xã hội và nhu cầu cộng đồng luôn thay đổi, vì vậy các dịch vụ thư viện đòi hỏi ngày càng phải tiến bộ hơn, tỉnh vi hơn và hiệu quả
cao hơn
Công nghệ thông tin đã phá vỡ những
rào cần của thư viện hữu hình như khoảng cách và thời gian đối với người
dùng tin Chúng ta đang ở trong kỷ
nguyên mà ở khía cạnh nào đó, biên giới dường như là biến mất - đó chính là sự thực của dòng chảy thông tin Vai trò của các thư viện truyền thống dường như đang giảm đi, dù vai trò như là các cơ
quan định hướng và cung cấp thông tin
Xem tiếp trang 93
Trang 10như thể nói một mình: “khi người ta nhiều
tuổi, thường nghĩ nhiều đến quá khứ, với
tôi là sách Những cuốn sách cũ chữ in
rất mờ, trên giấy đen sì, đọc mãi mới hết
một trang! “Sách để làm gì? Đương
nhiên để đọc!
Ông tâm sự: “Hình như sách cũng có
linh hồn Mình quý nó thì nó sẽ tìm mình”
Lúc đầu ông gặp rất nhiều khó khăn,
song ông cũng gặp may, nhiều người đã
tự tìm đến mua bán, trao đổi sách Kể cả
một số người tận miền Nam cũng cung
cấp sách cũ cho ông Họ quý ông vì
không chỉ bán sách, ông còn là người
đọc sâu, biết quý trọng sách Họ thêm
nể ông vì nhà sách không kinh doanh
theo kiểu thương mại mà được cất giữ
cẩn thận như thư viện đúng nghĩa Vì
vậy, đã có rất nhiều người tìm đến ông,
tặng ông rất nhiều sách, trong đó có các
nhà nghiên cứu, nhà khoa học tên tuổi
như: Đào Duy Anh, Trần Văn Giàu, Trần
Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Dinh Xuan
Lâm, Phan Huy Lê đã cảm động khi
được nhìn thấy những tác phẩm, công
trình khoa học của mình được ông lưu
giữ cẩn thận và trân trọng ngay trên giá
sách nhà mình Và rồi một số người
trong họ đã trở thành bạn tâm giao của
ông
Ngoài những quyển sách đặc biệt
không bán, ông Cảnh còn hai thứ ông
lưu giữ kỹ đó là cuốn thư mục sách do
chính mình biên soạn và bút tích, hình
ảnh những người đọc đáng kính Một
điều rất đặc biệt nữa tại nhà sách của
ông bởi có hàng trăm người bạn nước
ngoài từ Anh, Hàn Quốc, Pháp, Nga
tìm đến để tra cứu tài liệu phục vụ cho
việc nghiên cứu, làm nghiên cứu sinh
Trong đó, đáng chú ý là giáo sư người
Nhật Yao Takao lần đầu đến đây khi đó
vẫn còn là sinh viên, song ông đã tìm
thấy ở đây những cuốn sách văn hoá,
văn học cổ mình cần Đến nay đã 17
năm, dù đã là giáo sư, tiến sĩ, nhưng
Tạp chí THƯ VIỆN VIỆT NAM
năm nào ông cũng sang Việt Nam để tìm sách và gặp ông Cảnh-người bạn tri kỷ của giáo sư
Song có lẽ, hình ảnh in đậm trong tâm trí ông không bao giờ phai là hình ảnh
một cụ già khoảng ngoài 80 tuổi cất công từ ngoại thành Hà Nội tìm bằng được đến nhà ông vào tối mưa tầm ta tim hỏi sách Thấy thương cụ già, ông hỏi
cần sách gì để ông giúp nhưng cụ không
trả lời Rồi bất ngờ, cụ ôm lấy một quyển sách sờn ố và bật khóc nức nở: “Quyển sách này là của bố tôi Nó đã thất lạc từ hơn 30 năm rồi Tôi cứ đi tìm mãi mà không thấy.Thật may mắn cho tôi "- Ông Cảnh cảm động kể lại
Chia tay chúng tôi, ông Cảnh khẳng
định: Chính những người đọc đáng kính
đã giúp tôi quyết tâm duy trì nhà sách tới cùng, sẽ làm tất cả vì sách-vì kho báu trí tuệ của nhân loại Bạn đọc cần cảm ơn người nặng lòng với sách như ông Cảnh Ông là người đã trực tiếp bắc cầu tri thức
vô giá bằng sách cho bạn đọc
NHỮNG THAY ĐỔI TRONG
Tiếp theo trang 83 của họ đang ngày càng tăng Điều này
có nghĩa đòi hỏi bản thân mỗi thư viện
phải phát triển, mở rộng các khái niệm, chiến lược và kế hoạch mới trong các dịch vụ cung cấp thông tin của mình
Đã đến lúc chúng ta phải khép lại những bất hòa giữa các loại hình khác nhau của các hệ thống thư viện và làm việc có tỉnh thần hợp tác, có tính chất phối hợp để phục vụ người sử dụng theo
định hướng thông tín
MỸ DUNG, !ược dịch
Theo Ifla Journal www ifla.org http://ifl.sagepub.com/cgi/ content/abstrasc
93