Một trong những đối tượng sở hữu trí tuệ được các doanh nghiệp chútrọng bảo hộ là quyền sở hữu công nghiệp, đặc biêt đối với bằng sáng chế và nhãnhiệu.. Chính vì thế,các doanh nghiệp cần
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
TIỂU LUẬN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
ĐỀ TÀI: QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI BẰNG SÁNG CHẾ
VÀ NHÃN HIỆU THÔNG QUA CASE STUDY AUTOPAINT
Sinh viên thực hiện Mã sinh viên Nguyễn Thị Gia Như : 1311110512 Nguyễn Thị Thu Huyền : 1311110325 Trần Thu Yên : 1311110777
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : ThS LỮ THU TRANG
Hà Nội, 2016MỤC LỤC
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
I Các vấn đề chung về sở hữu trí tuệ 3
1 Tầm quan trọng của việc bảo hộ sở hữu trí tuệ 3
2 Khái niệm sở hữu trí tuệ 3
3 Đặc điểm của sở hữu trí tuệ 4
4 Các đối tượng của quyền sử hữu trí tuệ 4
II Các vấn đề cơ bản về bằng sáng chế và nhãn hiệu 5
1 Bằng sáng chế 5
2 Nhãn hiệu 6
3 Các văn bản pháp luật điều chỉnh quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế và nhãn hiệu 8
CHƯƠNG II PHÂN TÍCH VỤ VIỆC AUTOPAINT 10
I Tóm tắt vụ việc 10
II Phân tích vụ việc 12
CHƯƠNG III LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 20
I Liên hệ với Việt Nam 20
1 Vì sao nên đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ dưới nhiều hình thức? 20
2 Tranh chấp tên miền liên quan tới nhãn hiệu 20
II Bài học kinh nghiệm 22
KẾT LUẬN 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ngày càng trở nên quan trọng trong việcthúc đẩy sự sáng tạo, phát triển nền kinh tế, văn hóa và trở thành điều kiện tiên quyếttrong hội nhập quốc tế của mỗi quốc gia Tài sản trí tuệ là một trong những yếu tố cơbản tạo nên giá trị và và tính cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị trường Nó ảnhhưởng đến quyết định của các nhà đầu tư và gián tiếp quyết định sự thành bại của mộtdoanh nghiệp Một trong những đối tượng sở hữu trí tuệ được các doanh nghiệp chútrọng bảo hộ là quyền sở hữu công nghiệp, đặc biêt đối với bằng sáng chế và nhãnhiệu Đây là hai vấn đề thường xảy ra tranh chấp do liên quan đến thương hiệu, uy tín,sức cạnh tranh và những quyền lợi khác của doanh nghiệp Để làm rõ hơn điều đó,
nhóm em lựa chọn phân tích một case study với tên đề tài: Quyền sở hữu trí tuệ đối
với bằng sáng chế và nhãn hiệu thông qua case study Autopaint.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những tranh chấp có liên quan đến bằng sángchế, nhãn hiệu và tên miền giữa hai chủ thể ở hai quốc gia khác nhau Luật áp dụng đểphân tích làm rõ vấn đề là các công ước quốc tế và các văn bản pháp luật của Việt Nam
về quyền sở hữu công nghiệp
Đề tài có sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau: Thu thập tài liệu,thông tin, phân tích, so sánh, trích dẫn,… Bố cục đề tài gồm 3 chương:
Chương I Cơ sở lý luận Chương II Phân tích vụ việc Autopaint Chương III Liên hệ với Việt Nam và bài học kinh nghiệm
Do hạn chế về thời gian và kiến thức nên bài tiểu luận của nhóm em còn nhiềuthiếu sót, rất mong nhận được đánh giá và góp ý từ cô và các bạn!
Chúng em xin chân thành cảm ơn giảng viên Lữ Thị Thu Trang đã tận tìnhhướng dẫn, giúp đỡ chúng em thực hiện đề tài này!
Trang 4CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN
I Các vấn đề chung về sở hữu trí tuệ
1 Tầm quan trọng của việc bảo hộ sở hữu trí tuệ
Bất cứ khi nào một sản phẩm mới vào thị trường và thu hút khách hàng thànhcông, không sớm thì muộn sẽ bị đối thủ cạnh tranh sản xuất các sản phẩm giống vàtương tự Trong một số trường hợp, đối thủ cạnh tranh sẽ hưởng lợi từ việc tiết kiệm vềquy mô sản xuất, khả năng tiếp cận thị trường lớn hơn, có quan hệ tốt hơn với các nhàphân phối chính hoặc tiếp cận với các nguồn nguyên liệu thô rẻ hơn, và do đó, có thểsản xuất một sản phẩm tương tự hoặc giống hệt với giá thành rẻ hơn, tạo áp lực nặng
nề lên nhà sáng tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ nguyên gốc Đôi khi, điều này sẽ đẩy nhàsáng tạo gốc ra khỏi thị trường, đặc biệt khi mà họ đã đầu tư đáng kể vào việc pháttriển sản phẩm mới thì đối thủ cạnh tranh lại hưởng lợi từ kết quả đầu tư đó và chẳngmất một xu nào cho thành quả sáng tạo và sáng chế của nhà sáng tạo gốc Chính vì thế,các doanh nghiệp cần phải cân nhắc sử dụng hệ thống sở hữu trí tuệ để bảo vệ sảnphẩm sáng tạo và sáng chế của mình nhằm đem lại cho họ các độc quyền sử dụng sángchế, kiểu dáng công nghiệp, thương hiệu, tác phẩm văn học nghệ thuật và các tài sản
vô hình khác Bảo hộ theo pháp luật sở hữu trí tuệ mang lại quyền sở hữu đối với tácphẩm sáng tạo hoặc đổi mới, do đó, hạn chế hành vi sao chép và bắt chước của đối thủcạnh tranh một cách đáng kể
2 Khái niệm sở hữu trí tuệ
Theo WIPO, sở hữu trí tuệ nhằm chỉ những sáng tạo của trí tuệ: sáng chế, tácphẩm văn học và nghệ thuật và những biểu tượng, tên gọi và hình ảnh được sử dụngtrong thương mại
Luật Việt Nam cũng như luật các nước không định nghĩa trực tiếp về sở hữu trítuệ mà định nghĩa gián tiếp thông qua quyền sở hữu trí tuệ Theo Luật Sở hữu trí tuệ
2005 của Việt Nam, quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản
Trang 5trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến tác giả, quyền sở hữu côngnghiệp và quyền đối với giống cây trồng.
3 Đặc điểm của sở hữu trí tuệ
SHTT có sáu đặc điểm chính: Độc quyền, tạm thời, lãnh thổ, vô hình, nguyêngốc và có khả năng trao đổi
Độc quyền: Chỉ có chủ sở hữu đối tượng sở hữu trí tuệ (hay còn gọi là chủ thể
quyền) mới có quyền ứng dụng các kiến thức của mình vào cuộc sống, có quyềnchuyển giao, phổ biến kiến thức của mình và bán những sản phẩm hình thành từ thànhquả lao động sáng tạo của họ
Tạm thời: Các đối tượng bảo hộ của quyền SHTT chỉ được bảo hộ trong một
khoảng thời gian nhất định tùy theo luật của mỗi quốc gia
Lãnh thổ: Quyền SHTT thường chỉ được bảo hộ trong lãnh thổ một nước hoặc
một khu vực – nơi đăng ký và nhận được sự bảo hộ
Vô hình: Quyền SHTT là quyền đối với các tài sản vô hình, các hàng hóa phi
vật chất
Nguyên gốc: Đối tượng được bảo hộ là kết quả lao động sáng tạo của chính tác
giả, chưa được những người khác biết đến một cách rộng rãi tại thời điểm tạo ra
Có khả năng trao đổi: Chủ sở hữu có thể chuyển nhượng hoặc chuyển giao
quyền sử dụng các sản phẩm sáng tạo của mình
4 Các đối tượng của quyền sử hữu trí tuệ
Theo Luật SHTT Việt Nam 2005, đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ bao gồm:
Quyền tác giả bao gồm các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học và các
quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình,chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá;
Quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế
bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn
Trang 6địa lý.
Quyền đối với giống cây trồng bao gồm giống cây trồng và vật liệu nhân giống.
II Các vấn đề cơ bản về bằng sáng chế và nhãn hiệu
1 Bằng sáng chế a) Khái niệm
Bằng sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằmgiải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên Các giảipháp này có tính mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có trình độ sáng tạo và cókhả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế xã hội
Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế là quyền của chủ sở hữu sáng chếđược độc quyền khai thác sáng chế của họ và ngăn cản người khác sử dụng sáng chế
có tính năng tương tự trong một thời gian nhất định và trên một lãnh thổ nhất định
b) Vai trò của bảo hộ sáng chế
Một là, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh: Tăng cường bảo hộ sáng chế sẽ
ngăn chặn việc sử dụng các sản phẩm khoa học công nghệ một cách bất hợp pháp, giúpchủ sở hữu có thể bảo vệ được thành quả sáng tạo của mình và tiếp tục đầu tư pháttriển sáng chế mới, khuyến khích nỗ lực sáng tạo của xã hội
Hai là, lợi nhuận đầu tư cao hơn: Việc nghiên cứu sáng tạo ra một giải pháp kỹ
thuật mới có độ rủi ro cao Người đầu tư công nghệ phải đầu tư một khoản kinh phí lớncông với thời gian và công sức để tạo ra sáng chế Nếu được bảo hộ thì không ai có thểkhai thác được sáng chế đó Khi đó, bằng sáng chế chính là phương tiện mang lại cho
họ thu nhập để bù đắp chi phí bỏ ra trong quá trình phát triển sáng chế của mình
Ba là, cơ hội bán hay li-xăng sáng chế: Nhà sáng chế còn có khả năng thu được
lợi nhuận từ việc chuyển nhượng bằng độc quyền sáng chế cho người khác, nghĩa là sửdụng bằng độc quyền sáng chế để thu phí bằng cách li-xăng sáng chế cho công ty khác
có năng lực thương mại hoá
Trang 7c) Đối tượng bảo hộ
Đối tượng bảo hộ của sáng chế có thể là:
Cơ cấu: Máy móc, thiết bị, dụng cụ, chi tiết, cụm chi tiết,
Chất: Dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm, vật liệu,
Phương pháp: Quy trình công nghệ chế tạo sản phẩm, quy trình điều chế chất,
d) Điều kiện bảo hộ
Điều kiện chung đối với sáng chế được bảo hộ:
Có tính mới: Sáng chế chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằngvăn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngàynộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên (nếu đơn đăng ký được hưởngquyền ưu tiên)
Có trình độ sáng tạo: Sáng chế đó là một bước tiến sáng tạo, không thể được tạo ra mộtcách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng
Có khả năng áp dụng công nghiệp: Sáng chế có thể thực hiện được việc chế tạo, sảnxuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nội dung của sáng chế
và thu được kết quả ổn định
Trang 8Nhãn hiệu là những dấu hiệu dùng phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại củacác cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau Nhãn hiệu được coi là một loại tài sản vôhình của người hoặc công ty thực hiện hoặc sản xuất và là một trong các đối tượng sởhữu công nghiệp được pháp luật bảo hộ.
b) Vai trò của bảo hộ nhãn hiệu
Là cơ sở pháp lý cho việc xác định chủ sở hữu đối với nhãn hiệu,logo, thương hiệu màdoanh nghiệp đang kinh doanh khi có bất kỳ một sự cạnh tranh nào với các đối thủkhác
Bảo đảm rằng khách hàng có thể phân biệt sản phẩm của các công ty khác nhau
Giúp cho các công ty tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm của họ
Tạo cho bạn một công cụ tiếp thị và là cơ sở để tạo dựng uy tín và hình ảnh của mộtthương hiệu
Tạo cơ hội để li-xăng và tạo nguồn thu nhập thông qua phí li-xăng
Có thể là một bộ phận quan trong hợp đồng nhượng quyền thương mại hoặc một bímật kinh doanh có giá trị
Khuyến khích các công ty đầu tư vào việc duy trì chất lượng sản phẩm để không lừadối người tiêu dùng
c) Điều kiện bảo hộ
Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, kể cả hình ba chiềuhoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc
Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch
vụ của chủ thể khác
d) Giới hạn bảo hộ
Trang 9Thời gian: Giấy chứng nhân đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10 năm
kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần 10 năm
Không gian: Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ
của quốc gia cấp bằng
e) Tranh chấp nhãn hiệu liên quan đến tên miền
Một trong những hành vi cạnh tranh không lành mạnh là đăng ký tên miền trùngvới nhãn hiệu hay tên thương mại của doanh nghiệp khác Tên miền là tên gọi của mộtchủ thể khi truy cập các trang web của chủ thể đó trên mạng
Tương tự tranh chấp về nhãn hiệu, nhiều người có ý đồ lợi dụng nguyên tắc “aiđến trước được đăng ký trước” đã cho đăng ký các tên miền với ý đồ ngăn cản chủnhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu của mình làm tên miền trong thương mai điện tử
Để giải quyết những tranh chấp về tên miền, pháp luật các nước thông thườngquy định rằng nếu người đăng ký tên miền không chứng tỏ được lý do chính đáng củaviệc đăng ký thì tên miền sẽ bị tước bỏ và trao lại cho chủ sở hữu nhãn hiệu Tuy tênmiền hiện nay chưa được coi là một đối tượng của sở hữu trí tuệ, tình trạng xâm phạmtên miền đã bắt đầu đến mức đáng quan tâm, yêu cầu các doanh nghiệp cần lưu ý đăng
ký và bảo hộ không kém gì nhãn hiệu
3 Các văn bản pháp luật điều chỉnh quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế và nhãn hiệu
• Công ước Paris về quyền sở hữu công nghiệp 1883
• Hiệp định về sáng chế (Patent Law Treaty-PLT), 1/6/2000: Quy định về quy trình vàthủ tục đăng ký sáng chế
• Hiệp định Nhãn hiệu (Trademark Law Treaty-TLT), 27/10/1994: Quy định về thủ tục
và quy trình đăng ký nhãn hiệu
• Thỏa ước Madrid về việc đăng ký nhãn hiệu quốc tế
• Hiệp ước Locarno về phân loại quốc tế về kiểu dáng công nghiệp
Trang 10• Thỏa ước Nice về Phân loại quốc tế về hàng hóa và dịch vụ vì mục đích đăng kýnhãn hiệu.
• Hiệp ước Strasbourg về phân loại sáng chế quốc tế
• Hiệp ước Vienna về phân loại quốc tế về các yếu tố hình của nhãn hiệu
• Luật Sở hữu trí tuệ 2005
• Các nghị định của Chính phủ, Thông tư của Bộ, quy định của UBND tỉnh, thành phố:
Nghị định 103/2006/ND-CP ngày 22/9/2006, chi tiết và hướng dẫn thi hành LuậtSHTT liên quan đến quyền SHCN - Thông tư 01/2007/TT-BKHCN Hướng dẫn thihành NĐ 103/2006/NĐ-CP
Nghị định 106/2006/ND-CP ngày 22/9/2006, xử phạt vi phạm hành chính về sở hữucông nghiệp
Trang 11CHƯƠNG II PHÂN TÍCH VỤ VIỆC AUTOPAINT
I Tóm tắt vụ việc
Frank Papadrovic là một người am hiểu về nghệ thuật Trước khi chuyển tớiCanada, Frank đã từng là một nhà kinh doanh nghệ thuật cao cấp khá thành công, vàgiờ đây, ông ta đang phải bắt đầu lại mọi thứ ở một đất nước mới
Vì có khá ít cơ hội để buôn bán những tác phẩm cao cấp ở Canada, Frank phảichuyển sang mảng thị trường nghệ thuật đại chúng Ông ta bán những tác phẩm nghệthuật trung bình với số lượng lớn cho các công sở, các khách sạn,…, những nơi thườngđặt hàng đến hàng nghìn sản phẩm một lúc Những bức tranh này thường được sảnxuất theo kiểu in phun tự động hoặc vẽ tay, nhưng chất lượng của chúng rất tệ, và vìthế cũng không thể bán được với giá cao như Frank mong muốn
Sau đó, tại một hội chợ thương mại, Frank đã gặp Charlie Wong và được giớithiệu về sản phẩm Autopaint của anh ta, một cỗ máy có thể tự động vẽ những bứctranh dầu chất lượng cao Trừ Frank, những người khác tham gia hội chợ không hứngthú lắm với Autopaint, vì giá thành của nó (200000USD), và vì những điều khoản của
hợp đồng – trong đó tuyên bố rằng: “Chiếc máy Autopaint đã được cấp bằng sáng chế
ở nhiều nước trên toàn thế giới Chiếc máy này có thể được sử dụng để làm ra những bức vẽ dành riêng cho người sở hữu nó chứ không được sử dụng với mục đích kinh doanh Bất cứ một trường hợp nào sử dụng với mục đích đó đều là xâm phạm đến quyền của chủ sở hữu bằng sáng chế.” Tuy vậy, Frank đã bỏ qua những chi tiết này và
ký hợp đồng đặt mua Autopaint
26 tháng trước khi diễn ra Hội chợ thương mại, Charlie Wong đã bắt đầu tiếnhành việc xin cấp bằng sáng chế thông qua Hiệp ước Hợp tác sáng chế Anh ta đã nộpđơn ở Mỹ, và nhiều nước khác bao gồm cả Canada Nhưng Charlie nói với Frank rằngviệc xin cấp bằng rất tốn tiền, và nếu anh ta không thể bán được nhiều máy ở Canada
và Mỹ, anh ta sẽ không theo đuổi quá trình xin cấp bằng ở những nước này nữa – đâycũng là lý do khiến Frank yên tâm hơn khi mua Autopaint
Trang 12Sử dụng chiếc máy này, Frank đã bán được hàng chục nghìn bức tranh, và cáckhách hàng cũng vô cùng hài lòng Vì Autopaint khiến việc kinh doanh ngày càngthuận lợi, Frank đã lập một trang web và đăng ký tên miền là www.autopaint.ca (doông ta thấy www.autopaint.com đã được đăng ký bởi một công ty xe hơi trước đó), vànhận được rất nhiều lượt truy cập.
Một thời gian sau, Frank nhận được một lá thư Một công ty luật ở Chica go doCharlie Wong thuê thông báo với Frank rằng việc sử dụng cỗ máy để sản xuất tranhmang đi bán của Frank đã xâm phạm quyền sáng chế của khách hàng họ, và rằng cáitên Autopaint đã được đăng ký nhãn hiệu Frank được yêu cầu phải ngừng lại việc sửdụng cỗ máy và tên miền
Frank khá là bối rối và buồn bã Ông ta không hiểu nhiều lắm về bằng sáng chếcũng như nhãn hiệu Việc kinh doanh ở Canada thì khá thuận lợi Còn ở Mỹ, mặc dùvẫn chưa bán được tác phẩm nào, ông ta vẫn nhận được rất nhiều sự quan tâm
Theo lời khuyên của trợ lý, Frank đã nhờ đến sự tư vấn của một luật sư chuyên
về sở hữu trí tuệ Mặc dù chưa thể gặp được Frank, luật sư này cũng cho ông ta một vàigiải pháp Ông này khuyên Frank nên tìm kiếm trên website của Cục Sở hữu trí tuệCanada (CIPO) và một trang web tương tự củ Mỹ (uspto) xem xem nếu có bất cứ mộtnhãn hiệu đăng ký hay bằng sáng chế nào cho cỗ máy Autopaint
Không hề có bất cứ ghi chép nào về bằng sáng chế hay nhãn hiệu của cỗ máyAutopaint hay Charlie Wong tại Canada Nhưng website của Mỹ lại có một đơn đăng
ký đang chờ xét duyệt cho sản phẩm này Công ty của Charlie cũng có đăng ký nhãnhiệu cho Autopaint với mô tả là “dịch vụ sáng tạo nghệ thuật tự động” Vị luật sư cũng
đề cập đến vấn đề người sở hữu nhãn hiệu thương mại có quyền ngăn chặn nhữngngười khác chiếm dụng tên miền đối với những nhãn hiệu này thông qua việc kiện tênmiền
Sau cuộc trao đổi với luật sư, Frank cũng có rất nhiều vấn đề khác cần tìm hiểu,
Trang 13II Phân tích vụ việc
Từ vụ việc này, ta có thể thấy:
Về phía Frank – chủ thể được cho là có hành vi xâm phạm đến quyền sở hữucông nghiệp về bằng sáng chế và nhãn hiệu:
Trong hợp đồng thương mại giữa Frank và Charlie có ghi: “ Chiếc máy Autopaint đã được cấp bằng sáng chế ở nhiều nước trên toàn thế giới Chiếc máy này
có thể được sử dụng để làm ra những bức vẽ dành riêng cho người sở hữu nó chứ không được sử dụng với mục đích kinh doanh Bất cứ một trường hợp nào sử dụng với
mục đích đó đều là xâm phạm đến quyền của chủ sở hữu bằng sáng chế.” Liệu Frank
có đúng không khi bỏ qua điều khoản này?
Thực chất, Frank đã không đúng khi không để tâm đến điều khoản này khi kíkết hợp đồng với Charlie Bởi: Trong Điều 4 Bộ luật Dân sự 2005 của Việt Nam có
nêu rõ: “Cam kết, thỏa thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên
và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng.” Hợp đồng là một loại giao
ước mà đặc điểm chung của chúng là sự thống nhất về ý chí Điều đó đồng nghĩa vớiviệc mọi điều khoản được kí kết trong hợp đồng đều được sự chấp thuân của cả haibên Vì thế, khi một bên thực hiện bất cứ hành động nào không đúng với các điềukhoản trong hợp đồng thì đều được coi là vi phạm hợp đồng và bị xử lý theo pháp luật
Như vậy, việc Frank kí kết hợp đồng này với Charlie có nghĩa rằng ông chấp nhận mọiđiều khoản trong hợp đồng và có nghĩa vụ thực hiện chúng và chịu trách nhiệm khi viphạm Frank cần nhớ rằng: Mọi điều khoản được đưa ra trong hợp đồng đều quantrọng và có giá trị pháp lý như nhau Chính sự bất cẩn này đã mang đến cho ông nhữngrắc rối sau này
Vậy Frank đã có thể làm gì khi mua chiếc máy để tránh gặp những rắc rối này?
Để tránh gặp phải những rắc rối này, đáng lý ra, trước khi kí kết hợp đồng,