8 TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TỚI SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM .... Tác động chung của biến đổi khí hậu đến toàn ngành nông nghiệp ở Việt Nam .... 15 CÁC GIẢI PHÁP TRONG SẢ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
-*** -
TIỂU LUẬN HỌC PHẦN KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Hà Nội, tháng 12 năm 2018
Trang 27 Nguyễn Thùy Dung 1714420019
8 Nguyễn Văn Tiến 1714420094
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
1.1 Biến đổi khí hậu 3
1.2 Nông nghiệp 5
1.2.1 Vai trò của sản xuất nông nghiệp 5
1.2.2 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp 5
1.2.3 Các nhân tố ảnh hướng đến sản xuất nông nghiệp 6
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM 8
2.1 Tổng quan về tình hình sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam 8
2.2 Biểu hiện của biến đổi khí hậu ở Việt Nam 8
TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TỚI SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM 13
3.1 Tác động chung của biến đổi khí hậu đến toàn ngành nông nghiệp ở Việt Nam 13
3.2 Tác động cụ thể của biến đổi khí hậu đối với từng lĩnh vực trong nông nghiệp 15
CÁC GIẢI PHÁP TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP ĐỂ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM 22
4.1 Các phương pháp quản lí 22
4.2 Các giải pháp cụ thể trong các lĩnh vực để ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam 23
4.2.1 Trong lĩnh vực trồng trọt 23
4.2.2 Trong lĩnh vực chăn nuôi 26
4.2.3 Trong lĩnh vực lâm nghiệp 27
4.2.4 Trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản 28
KẾT LUẬN 31
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài Theo đánh giá của Tổ chức khí tượng thế giới (WMO) và Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC), Việt Nam là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng
nề nhất của biến đổi khí hậu (BĐKH) ở cả hiện tại và trong tương lai Việt Nam là nước nông nghiệp, với hơn 70% dân số sống dựa vào sản xuất nông lâm nghiệp, là nước có mật độ dân cư đông nhất trong số những nước nông nghiệp trên thế giới, khoảng 245 người/km2, gấp khoảng 5 lần so với mật độ dân số trung bình trên thế giới Chính vì vậy, mọi tác động xấu đối với nông lâm nghiệp sẽ ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của đại đa số đồng bào ta và tác động mạnh đến tăng trưởng kinh tế và
an ninh lương thực của quốc gia Dưới tác động của BĐKH, tần suất và cường độ các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng gia tăng trong những năm qua, gây nhiều tổn thất to lớn về người, tài sản, cơ sở hạ tầng và tác động tiêu cực đến các hoạt động kinh tế, xã hội ở Việt Nam Với điều kiện tự nhiên đa dạng, tỷ lệ dân cư sống dựa vào nông nghiệp và tỷ lệ đói nghèo còn ở mức tương đối cao, BĐKH được dự báo tiếp tục có những tác đông lớn đến kinh tế, xã hội tại Việt Nam trong các thập
kỷ tiếp theo và là nguy cơ hiện hữu đối với mục tiêu xóa đói giảm nghèo, mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của quốc gia Lĩnh vực nông nghiệp (hiểu theo nghĩa rộng bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản) luôn chịu tác động lớn bởi BĐKH Sự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan như lũ lụt, các đợt lạnh tăng cường ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ, xâm ngập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long và hạn hán ở Tây Nguyên cho thấy biểu hiện của biến đổi khí hậu ngày càng rõ rệt hơn ở Việt Nam và ngành nông nghiệp lại phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên Thấy được sự cấp thiết đó, nhóm chúng em quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài “Tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp ở việt nam và giải pháp ứng phó” nhằm góp phần ứng phó với BĐKH một cách hiệu quả hơn
Thực hiện bài tiểu luận này, chúng em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến giảng viên hướng dẫn ThS Nguyễn Thị Hải Yến đã giúp em hoàn thiện tốt nhất bài tiểu luận
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Trang 5Mục tiêu chính của đề tài là làm rõ sự tác động của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam Từ đó, chúng em đưa ra những giải pháp nhằm ứng phó với sự tác động của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp
3 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu đề tài Phạm vi không gian: nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, và nuôi trồng thủy sản
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề Biến đổi khí hậu đang là một trong những vấn đề đang được quan tâm hàng đầu của rất nhiều nhà khoa học, tác giả, các tổ chức, các quốc gia trên thế giới tìm hiểu và nghiên cứu Việt Nam là một trong năm quốc gia trên thế giới chịu ảnh hưởng nặng nề của BĐKH, nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này nên thời gian qua đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và đánh giá
5 Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu đề tài này, nhóm chúng em sử dụng các phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu và xử lý thông tin; phương pháp thống kê, phân tích và so sánh, …
6 Kết cấu của bài tiểu luận:
Nội dung chính của bài tiểu luận gồm các phần:
Chương 1: Cơ sở lí luận Chương 2: Tổng quan về tình hình sản xuất nông nghiệp và biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Chương 3: Tác động của biến đổi khí hậu tới sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam Chương 4: Các giải pháp trong sản xuất nông nghiệp để ứng phó với biến đổi khí hậu
ở Việt Nam
Trang 6NỘI DUNG
CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Biến đổi khí hậu
1.1.1 Khái niệm và biểu hiện của biến đổi khí hậu
Theo NASA (2014) biến đổi khí hậu là sự thay đổi thời tiết thông thường đã được hình thành ở một nơi, có thể là lượng mưa cuối năm hoặc nhiệt độ thông thường ở nơi đó trong một tháng hoặc một năm (NASA, 2017) Còn trong công ước khung Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu thì đây "là sự thay đổi của khí hậu mà hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp do tác động của hoạt động con người dẫn đến thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu và ngoài ra là những biến thiên tự nhiên của khí hậu được quan sát trên một chu kỳ thời gian dài” Nhưng để thống nhất và tổng quát nhất thì ta hiểu biến đổi khí hậu là những sự thay đổi trong hệ thống khí hậu bao gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển
và thạch quyển trong hiện tai và tương lai bởi những nhân tố tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định
Biểu hiện của biến đổi khí hậu như sau:
Sự nóng lên của khí quyển và trái đất nói chung
Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên trái đất
Sự dâng cao mực nước biển do tan băng dẫn tới sự ngập úng của các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển
Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của trái đất dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người
Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác
Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển (Nguyễn Hồng Sơn, 2017)
1.1.2 Nguyên nhân của biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu là kết quả của những nhân tố khách quan và chủ quan
Thứ nhất, nhân tố khách quan bao gồm:
Trang 7 Sự thay đổi trong cường độ ánh sáng Mặt Trời: Hầu hết các năng lượng ảnh
hưởng đến khí hậu trên Trái Đất đều bắt nguồn từ Mặt Trời Các nghiên cứu đã chỉ ra có khoảng 40 % năng lượng mặt trời bị chặn lại ở bầu khí quyển Tuy nhiên, Mặt trời được tạo thành cách đây 4,5 tỷ năm và cường độ ánh sáng Mặt trời hiện tại đã tăng lên 30% so với trước đây nên 60% năng lượng Mặt Trời mà mặt đất hấp thụ đang tăng về giá trị và ảnh hưởng trực tiếp lên khí hậu Trái Đất
Biến đổi về quỹ đạo Trái Đất gây ra những thay đổi về sự phân bố năng lượng
mặt trời theo mùa trên bề mặt Trái Đất và cách nó được phân bố trên toàn cầu
Hiện tượng núi lửa phun trào thải ra một lượng lớn khí CO2, bụi và tro vào bầu
khí quyển, có thể làm ấm bề mặt trái đất
Hướng chảy của dòng chảy hải lưu: đây là những dòng chảy mang nhiệt xung
quanh Trái Đất Hướng chảy của dòng chảy này có thể di chuyển gây ra sự những
biến động khí hậu ở nhiều vùng (Nguyễn Đức Ngữ,2009)
Thứ hai, nhân tố chủ quan đến từ các hoạt động của con người
Nồng độ khí CO2 đạt ngưỡng 411,24 ppm vào tháng 4 năm 2018
( Nguồn: đài quan sát Mauna Loa)
Viện hải dương khoa học Mỹ chỉ ra rằng trước cuộc cách mạng công nghiệp, nồng độ khí CO2 trong khí quyển chưa bao giờ đạt ngưỡng 300ppm trong 800.000 năm qua
Nhưng từ biểu đồ trên, chỉ trong 75 năm, nồng độ mỗi năm lại gia tăng nhanh chóng
Lịch sử loài người đã trải qua 4 cuộc cách mạng công nghiệp lớn, qua việc sử dụng các nhiên liệu hóa thách (dầu, than, khí đốt), một lượng lớn khí CO2 và CH4 được thải trực tiếp vào môi trường Những loại khí này giữ nhiệt trong bầu khí quyển gây nên hiện tượng hiệu ứng nhà kính và sự ấm lên toàn cầu, được coi là nguyên nhân trực tiếp của BĐKH
Trang 81.2 Nông nghiệp
Theo như định nghĩa của National Geographic Society, nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản Trong bài nghiên cứu này, chúng ta sẽ hiểu nông nghiệp theo nghĩa rộng có nghĩa nông nghiệp gồm các lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản
1.2.1 Vai trò của sản xuất nông nghiệp
- Sản xuất nông nghiệp cung cấp cho con người lương thực, thực phẩm Thông qua hoạt động sản xuất nông nghiệp, con người cơ bản tự cung cấp lương thực, thực phẩm thiết yếu như lúa gạo; thịt; rau quả cho mình và xã hội Ngày nay, dưới áp lực tăng dân số nên nhu cầu lương thực thực phẩm cũng gia tăng nhanh chóng Nếu sản xuất nông nghiệp không thể đáp ứng, thì ngay lập tức sẽ tác động xấu đến đời sống đại đa số người dân của nước đó
- Nông nghiệp cung cấp những đầu vào là các nguyên liệu sản xuất, tạo tiền đề để sản xuất công nghiệp phát triển đặc biệt là công nghiệp chế biến thực phẩm
- Đóng góp vào thu nhập quốc dân: Là một lĩnh vực của kinh tế, các hoạt động nông nghiệp cũng đem lại những nguồn thu nhập nhất định cho người dân Đối với nhiều quốc gia còn nghèo, tỷ lệ người dân làm nông nghiệp còn lớn như theo thống kê của Ngân hàng thế giới năm 2017, Bangladesh có 39% việc làm đến từ hoạt động nông nghiệp, Angola là 51% và ở Afghanistan con số này lên đến 62% nên dễ dàng nhận thấy nguồn thu nhập mà lĩnh vực này mang lại
- Bên cạnh sản phẩm của nông nghiệp còn tham gia vào xuất khẩu, đem lại nguồn ngoại hối lớn cho quốc gia Nhiều quốc gia có kim ngạch xuất khẩu nông sản lớn do việc xuất khẩu nông sản ra nước ngoài dễ dàng hơn việc xuất khẩu một hàng hóa công nghiệp, đặc biệt là với những đất nước đang phát triển
1.2.2 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
- Đất trồng là tư liệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế được: Đây là đặc điểm
quan trọng nhất để phân biệt nông nghiệp và công nghiệp Nếu trong công nghiệp, đất đai là nền móng để xây dựng nhà máy, công xưởng thì với nông nghiệp, đất đai trực
Trang 9tiếp tham gia vào quá trình sản xuất Bởi qua việc tác động vào đất đai, con người tạo
ra cây trồng và vật nuôi Hơn nữa, quy mô canh tác và phương thức sản xuất, mức độ thâm canh phụ thuộc nhiều vào đất đai Điều này đòi hỏi con người phải sử dụng hợp lí
và tiết kiệm đất, duy trì và nâng cao độ phì nhiêu cho đất,
- Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là vật nuôi và cây trồng: Mỗi vật nuôi, cây trồng
đều có một qui luật sinh học phát triển nhất định, chịu ảnh hưởng từ các yếu tố ngoại cảnh Để chất lượng giống cây trồng và vật nuôi trở nên tốt hơn thì phải có sự chọn lọc, lai tạo hay nhập nội những giống tốt phù hợp với từng địa phương
- Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ: Đây là nét điển hinh nhất trong sản xuất nông
nghiệp
Thời vụ về sản phầm: Với điều kiện thời tiết – khí hậu, mỗi loại cây trồng lại có
sự thích ứng nhất định với điều kiện đó, dẫn đến những mùa vụ khác nhau Từ
đó, người sản xuất nên đa dạng hóa sản xuất và tìm cách hạn chế sự phụ thuộc này bằng những tiến bộ khoa học – công nghệ hiện đại
Thời vụ về lao động: Dựa trên quy luật phát triển của từng sinh vật mà việc chăm sóc mỗi giai đoạn lại khác nhau, đòi hỏi người sản xuất phải thực hiện nghiêm
khắc những khâu công việc ở thời vụ tốt nhất (SGK Địa lý 10- Bài 27)
1.2.3 Các nhân tố ảnh hướng đến sản xuất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp là quá trình tác động của con người vào tự nhiên Vì thế, có hai nhân tố chi phối đến việc sản xuất là con người và tự nhiên
a) Nhân tố tự nhiên
- Tài nguyên đất: ảnh hưởng trực tiếp tới quy mô, cơ cấu và phân bố cây trồng vật nuôi,
năng suất cây trồng
- Tài nguyên nước và khí hậu: ảnh hưởng đến tính thời vụ, khả năng trồng xen canh,
gối vụ, tính ổn định hay bấp bênh của nền sản xuất
- Sinh vật: là cơ sở tạo nên giống cây trồng, vật nuôi; là cơ sở thức ăn tự nhiên cho gia
súc, cơ cấu vật nuôi và sự phát triển của chăn nuôi
b) Nhân tố kinh tế - xã hội
- Dân cư: là đối tượng trực tiếp tham gia vào sản xuất nông nghiệp, tác động đến năng
suất lao động Sự phân bố dân cư tác động đến cơ cầu và phân bố cây trồng vật nuôi
Đồng thời đây cũng là thị trường tiêu thụ, khích thích hoạt động sản xuất
Trang 10- Tiến bộ khoa học công nghệ: Có một câu hỏi đặt ra là “Tại sao nước Mỹ tỷ lệ lao động
trong nông nghiệp chỉ chiếm 1% trong tổng 232 triệu dân nhưng Mỹ luôn nằm trong top những nước xuất khẩu nông sản lớn nhất trên thế giới?” “Tại sao Nhật Bản luôn bị ảnh hưởng bởi thiên tai nhưng gạo Nhật lại được ưu chuộng nhất trên thị trường thế giới?” Đó là nhờ khoa học công nghệ giúp năng suất nông nghiệp tăng, giảm sự tham gia lao động của con người, giúp con người chủ động hơn trong sản xuất mà không phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên
- Những chính sách của chính phủ: Nếu hoạt động nông nghiệp gặp nhiều khó khăn
như do thiên tai, chi phí vận chuyển để tiếp cận khách hàng thì những chính sách của chính phủ sẽ giúp cho những nông sản tránh hiện tượng bị bán phá giá, thua thiệt về nông dân Hơn nữa, đường lối chính trị có thể tác động đến cơ cấu ngành nông nghiệp
- Cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật: Ở những khu vực mà nền nông nghiệp còn sử dụng
nhiều thiết bị nông nghiệp cơ giới thấp, năng suất nông nghiệp không cao vì chủ yếu người dân vẫn sử lý bằng tay Điều này liên quan trực tiếp đến chất lượng và sản lượng nông sản trong lĩnh vực sản xuất này
Trang 11TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM
2.1 Tổng quan về tình hình sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
Lãnh thổ Việt Nam trải dài trên 15 vĩ độ với đường bờ biển dài 3.260 km Phần lớn diện tích lãnh thổ là đồi núi, đặc biệt ở khu vực miền Bắc và miền Trung Khí hậu có sự phân hóa đa dạng từ bắc xuống nam Phía bắc có bốn mùa, phía nam có mùa mưa và mùa khô Dựa trên đặc điểm địa hình, đất đai và khí hậu, lãnh thổ trên đất liền của Việt Nam
có thể chia thành 8 vùng sinh thái nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp được chuyên biệt hóa theo đặc điểm vùng sinh thái nông nghiệp Trong khi sản xuất lúa gạo và chăn nuôi tập trung ở hai vùng đồng bằng (đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long),
đa số cây công nghiệp được sản xuất ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ Đông Bắc và Tây Bắc là khu vực miền núi với điều kiện giao thông khó khăn, hệ thống thủy lợi hạn chế và thị trường kém phát triển Sản xuất nông nghiệp ở các khu vực này chủ yếu phục
vụ nhu cầu của hộ, trừ những khu vực có điều kiện thuận lợi cho trồng rừng và phát triển cây công nghiệp như chè và cao su
2.2 Biểu hiện của biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng lớn của BĐKH Tình trạng ấm lên của khí quyển dẫn đến hiện tượng nước biển dâng và ấm lên, kéo theo sự thay đổi của 1 loạt hiện tượng thời tiết cực đoan như bão lũ, dông sét, lốc tố, hạn hán, mưa lớn Có thể nói tất cả các hiện tượng thời tiết cực đoan trên đều có xu hướng gia tăng về cường độ hoặc tần sốvà ảnh hưởng đến nước ta trong đó đáng chú ý là các đợt nóng dị thường, các đợt mưa cường độ lớn gây ra lũ lụt, lũ quét, các đợt khô hạn kết hợp nắng nóng kéo dài, các cơn lốc tố
Nhiệt độ trung bình tăng
Thế giới và Việt Nam đã và đang kinh qua việc gia tăng nhiệt độ trung bình Tuy nhiệt
độ trung bình gia tăng không nhiều lắm, khoảng 0,01-0,15°C/ thập kỷ, nhưng chính nhiệt độ thái quá (extreme temperature) có ảnh hưởng khốc hại vì đi kèm với sóng nhiệt (heat wave), bảo tố, lụt lội và hạn hán
Nghiên cứu dữ kiện khí tượng chi tiết của Sở Khí Tượng Việt Nam cho thấy trong vòng
30 năm qua, VN có khuynh hướng gia tăng nhiệt độ đáng kể, các tỉnh Miền Bắc gia tăng nhiều hơn Miền Nam, đặc biệt trong những tháng mùa hè với biên độ lớn hơn
Trang 12Biểu đồ xu hướng thay đổi nhiệt độ tại Việt Nam giai đoạn 2008-2016
Nước biển dâng cao
Theo đánh giá của các tổ chức nghiên cứu quốc tế có uy tín, như: Ngân hàng Thế giới (WB), Trung tâm Nghiên cứu các Hệ thống môi trường (CESR), Cơ quan Hàng không
và Không gian Mỹ (NASA), Việt Nam là một trong 05 quốc gia trên thế giới bị ảnh hưởng nghiêm trọng do nước biển dâng Các số liệu quan trắc tại các trạm hải văn ven biển nước ta giai đoạn 1993 - 2010 cho thấy, mực nước trung bình ở Biển Đông tăng khoảng 4,7 mm/năm; trong đó, riêng Việt Nam có mức tăng trung bình khoảng 2,8 mm/năm Gần đây, các dự báo cũng đều khẳng định, mực nước biển của nước ta có thể
Trang 13tăng thêm 33,3 cm vào năm 2050, 45 cm vào năm 2070 và khoảng 01 m vào năm 2100
Nếu kịch bản này diễn ra, nhiều khu vực đất liền ven biển và vùng đất trũng sẽ bị chìm trong nước; thậm chí, có khu vực sẽ bị ngập sâu vĩnh viễn Ví dụ, nếu nước biển dâng cao 1 m thì 4,4% lãnh thổ Việt Nam bị ngập vĩnh viễn, 10% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp và tỷ lệ các khu vực bị ngập nặng theo thứ tự là, đồng bằng sông Hồng: 17,57%, các tỉnh ven biển miền Trung (từ Thanh Hóa đến Bình Thuận): 1,47%, Thành phố Hồ Chí Minh: 17,84% và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là 4,79% Đặc biệt, đồng bằng sông Cửu Long sẽ là khu vực có nguy cơ ngập cao nhất (khoảng 39,40% diện tích); trong đó, tỉnh Kiên Giang có thể ngập đến 75% diện tích Các đảo có nguy cơ ngập cao nhất là: Vân Đồn, Côn Đảo và Phú Quốc (Bộ Tài nguyên và môi trường, 2016) Nếu mực nước biển dâng cao 1 mét, sẽ có khoảng 40% diện tích Đồng bằng Sông Cửu Long, nơi hiện sản xuất 12 triệu tấn gạo/năm (xuất khẩu 6 triệu tấn), khoảng 10-12% dân số Việt Nam bị ảnh hưởng trực tiếp và tổn thất khoảng 10% GDP
Biến đổi lưu lượng nước dòng sông
Nhiều dòng sông bị suy thoái, nước trong các ao, hồ cạn kiệt vào mùa khô; ô nhiễm, cạn kiệt trong khi nguồn nước ngầm ngày càng suy giảm Ngoài nguyên nhân khách quan do diễn biến theo quy luật tự nhiên của tài nguyên nước, do điều kiện khí hậu, thủy văn, do tác động của BĐKH, còn do tác động của con người, các dự án, công trình nhân tạo như chuyển dòng, đắp đập, thu hẹp bờ sông - mặt sông, bơm hút nước, khai thác đá cát ở lòng dẫn, … làm biến dạng và thay đổi quy luật thuỷ văn của hệ thống sông
Biến đổi khí hậu tác động trực tiếp và sâu sắc đến tài nguyên nước Việt Nam, nguồn nước mùa khô có xu hướng suy giảm, cạn kiệt nguồn nước kéo dài hơn, tồi tệ hơn, nhiều khu vực nước ngọt cũng sẽ bị xâm nhập mặn, ô nhiễm gia tăng do dòng chảy không còn khả năng tự làm sạch, khả năng chống chọi với thiên tai (Hoàng Minh Tuyển, 2016)
Nước mưa trên phần đất Lào cung cấp 35% lưu lượng nước sông Mekong Trong vòng
20 năm qua, vì nạn phá rừng, tuy lượng nước mưa giảm nhưng vì không có lực cản và giữ nước, bao nhiêu nước mưa hứng được trên vùng này chảy dồn tạo lưu lượng lớn trong thời gian ngắn, gây nên lụt lội trong mùa lũ, và thiếu nước trong mùa hạn ở hạ lưu tại Viet Nam Đồng thời gây nhiều xói mòn đất đai ở thượng nguồn, và nhiều trầm tích ở hạ lưu
Trang 14Tại Miền Bắc, sông Hồng và sông Thái Bình, cũng như sông Mekong, mặc dù có các
hồ chứa thuỷ điện Hoà Bình và Thác Bà, vào mùa lủ lụt thì nước tràn có thể phá vở đê điều gây lụt khốc hại như lũ lụt 1971, trong khi bắt đầu mùa khô thì nước rút cạn Năm
2005, nước sông Hồng cạn kiệt, nước các hồ chứa xuông thấp, chính phủ Việt Nam hy sinh nông nghiệp, chỉ dùng nước còn lại để tạo điện nhưng vẫn không đủ điện cung cấp cho Miền Bắc
Hạn hán – xâm ngập mặn có xu hướng tăng
Hạn hán xuất hiện với mức độ khốc liệt ngày càng nhiều và kéo dài Điển hình là đợt hạn – mặn năm 2015-2016 vừa qua đã gây thiệt hại nặng nề cho nền nông nghiệp của Việt Nam Tính đến cuối tháng 3/2016 (lúc ảnh hưởng của hạn - mặn gay gắt nhất), hạn hán ảnh hưởng đến tất cả 13 tỉnh ĐBSCL, trong khi xâm nhập mặn ảnh hưởng đến 9/13 tỉnh Ước tính thiệt hại trong đợt hạn - mặn 2015-2016 toàn vùng ĐBSCL có thể lên đến 5.500 tỷ đồng Trong đó, sản xuất nông nghiệp bị thiệt hại nặng nề nhất, với trên 160.000 ha đất canh tác (chủ yếu là lúa, ngoài ra còn có mía, cây ăn trái, rau màu ) bị nhiễm mặn (Kiên Giang và Cà Mau là 2 tỉnh bị tác động lớn nhất), thiệt hại khoảng 3.000 tỷ đồng; thiệt hại trong nuôi trồng thủy sản các loại khoảng 200 tỷ đồng và do thiếu nước sinh hoạt ước khoảng 500 tỷ đồng (khoảng 600.000 người dân bị thiếu nước sinh hoạt) (Chu Thi Thu Hường và nnk, 2010)
Số ngày nắng nóng cũng tăng lên đáng kể, song không rải rác mà thường hình thành những đợt nóng kéo dài nhiều ngày gây ra hạn hán nghiêm trọng Theo dự báo đến cuối thế kỷ này số ngày nắng nóng có thể tăng từ 10 đến 20 ngày Ngược với nắng nóng, số ngày lạnh có xu hướng giảm dần Tuy nhiên, những đợt lạnh cực đoan với nhiệt độ giảm sâu kèm theo mưa tuyết, băng giá lại có xu hướng gia tăng ở các tỉnh miền núi phía cực Bắc (T Bình, 2016)
Bão tố và lũ lụt xảy ra thường xuyên hơn và với cường độ ngày càng mạnh
Bão được coi là thiên tai đặc biệt nguy hiểm đối với vùng ven biển Việt Nam Toàn bộ vùng ven biển Việt Nam đối diện với trung tâm bão Tây bắc Thái Bình Dương – là ổ bão lớn nhất trên trái đất
Lũ lụt, lũ quét gia tăng là biểu hiện khá rõ ảnh hưởng của BĐKH ở Việt Nam Trên những hệ thống sông có đê thuộc Bắc và Trung Bộ thiệt hại tập trung chủ yếu ở các khu vực ngoài đê, nhưng những nơi đê vỡ thiệt hại sẽ rất lớn Các vùng núi cao thuộc các tỉnh ở Tây Bắc, Đông Bắc và Tây Nguyên hầu như năm nào cũng xảy ra lũ quét và sạt
Trang 15lở đất Thiệt hại về người và của cũng ngày một trầm trọng hơn Các trận mưa lớn dẫn đến các đợt lũ trên sông, suối đặc biệt lũ quét, sạt lở đất cũng có xu thế gia tăng chủ yếu trên phần lãnh thổ phía Bắc, có nơi tăng đến 100%
Dông, lốc thường gắn với hoạt động của các nhiễu động khí quyển như xoáy thuận nhiệt đới, gió mùa Đông Bắc, các vùng hội tụ gió nhất là hội tụ nhiệt đới, sự đốt nóng mạnh của lớp bề mặt gây ra dông nhiệt… Trong điều kiện gia tăng nhiệt lớp bề mặt do hiện tượng ‘nóng lên toàn cầu’ đã và sẽ góp phần gia tăng các nhiễu động dẫn đến khả năng tăng lên các hoạt động dông, lốc xoáy trên nhiều khu vực Trên thực tế, những thiệt hại
do lốc xoáy gây ra trong vài thập kỷ gần đây ở Việt Nam cũng cho thấy xu thế gia tăng này
Kết lại, nhìn lại năm 2016 và đầu năm 2017 sẽ thấy tính bất thường của thời tiết ngày càng gay gắt, xảy ra trên khắp cả nước Cụ thể với mùa khô 2016, nhiều nơi ở miền Nam và miền Trung khô hạn do lượng mưa thiếu hụt từ 30 - 40%, lượng dòng chảy trên các sông nhỏ dẫn đến tình trạng xâm nhập mặn đến sớm hơn 1 tháng ở các vùng cửa sông miền Trung và đặc biệt ở ĐBSCL, nhiều nơi mặn đã vào sâu 80 - 100 km hoặc hơn, bà con nông dân điêu đứng vì hạn mặn, thiếu nguồn nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất rất nghiêm trọng
Ở miền Trung mưa lũ đến muộn nhưng lại dồn dập, lũ chồng lũ kéo dài nhiều ngày vào những tháng cuối năm 2016, gây thiệt hại lớn về tài sản và người Miền Bắc đợt rét đầu tiên đến sớm so với bình thường, tuy nhiên người dân lại ít cảm nhận được không khí lạnh của mùa đông, do xen kẽ các đợt lạnh lại có những ngày nhiệt độ khá cao gây tiết trời oi nóng (Minh Quân, 2017) Các thảm họa thiên nhiên và sự thay đổi của mô hình thời tiết đang gây ra rủi ro lớn cho người dân, ngành nông nghiệp và cơ sở hạ tầng của Việt Nam Chương 3 sau đây sẽ trình bày cụ thể việc biến đổi khí hậu tác động như thế nào đến sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
Trang 16TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TỚI SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM
3.1 Tác động chung của biến đổi khí hậu đến toàn ngành nông nghiệp ở Việt Nam
Hình 1 Diễn biến thiệt hại do thiên tai của ngành nông nghiệp giai đoạn 1993-2007
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Cơ cấu thiệt hại trong nông nghiệp đối với tổng thiệt hại do thiên tai của tất cả các ngành
có xu hướng giảm trong giai đoạn 1996-2007 Kết quả phân tích tại hình 1 cho thấy thiệt hại thiên tai cho tất cả các lĩnh vực ngày càng tăng nhưng thiệt hại đối với nông nghiệp có xu hướng giảm Ví dụ năm 1996, thiệt hại của ngành nông nghiệp tương đương 2.463 tỷ đồng (31.6% tổng thiệt hại) thì đến năm 2007 chỉ còn 432 tỷ đồng tương đương 3.8% Kết quả này cho thấy đây là dấu hiệu đáng mừng của ngành nông nghiệp trong việc duy trì và áp dụng các biện pháp phòng chống thiên tai bởi lẽ cơ cấu của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế chỉ giảm nhẹ, 22.27% năm 1995 xuống 18,14%
năm 2008 (giảm 0,6% năm)
Trang 17Năm
Lĩnh vực nông nghiệp Tất cả các lĩnh vực
Tỷ lệ (%) 1 Triệu đồng Triệu
USD Triệu đồng Triệu USD
Cơ cấu thiệt hại trong GDP (%) 0.67 - 1.24
Bảng 1 Thiệt hại do thiên tai đối với nông nghiệp tại Việt Nam (1995-2007)
(Nguồn: Tổng hợp từ nguồn của MARD, 1995-2007)
Kết quả bảng 1 cho thấy thiệt hại do thiên tai của ngành nông nghiệp nước ta trung bình năm trong giai đoạn 1995-2007 là 781,74 tỷ đồng tương đương 54,9 triệu đô la Mỹ
Thiệt hại do thiên tai trung bình năm đối với sản xuất nông nghiệp chiếm 0,67% giá trị GDP ngành, trong khi tổng thiệt hại tất cả các ngành chiếm 1,24% Kết quả này cho thấy cơ cấu thiệt hại do thiên tai trong giá trị ngành nông nghiệp thấp hơn so với cơ cấu tổng thiệt hại trong GDP Tuy nhiên, do giá trị nông nghiệp chiếm tỷ trọng thấp trong GDP và lại là nguồn sống của trên 71, 41% dân số, do vậy bất cứ thiệt hại nào do thiên tai đối với nông nghiệp sẽ mang tổn thương nhiều hơn đối với nông dân nghèo và khả năng phục hồi sẽ khó khăn vì cần có thời gian dài hơn
Biến đổi khí hậu ngày càng biểu hiện rõ ràng hơn ở Việt Nam Kể từ năm 1971, nhiệt
độ trung bình ở Việt Nam tăng khoảng 0,26 độ C mỗi thập kỷ, gấp đôi so với mức trung bình toàn cầu (Nguyen DQ; Renwick J; McGregor J, 2013) Theo báo cáo cập nhật hai
1 Tỷ lệ thiệt hại của ngành nông nghiệp so với tổng thiệt hại của nền kinh tế quốc dân
Trang 18năm một lần của Việt Nam do UNFCCC ban hành năm 2014, mực nước biển dọc theo
bờ biển Việt Nam đã tăng 20 cm trong 50 năm qua Lượng mưa hằng năm giảm ở miền Bắc và tăng lên ở miền Nam, khiến cho tình trạng hạn hán diễn biến khác nhau ở các vùng khí hậu (vùng sinh thái nông nghiệp) khác nhau (Ministry of Natural Resouces and Environment, 2014) Xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long và hạn hán nghiêm trọng ở Tây Nguyên gần đây là ví dụ rõ ràng về tác động bất lợi của BĐKH đối với sản xuất nông nghiệp
3.2 Tác động cụ thể của biến đổi khí hậu đối với từng lĩnh vực trong nông nghiệp 3.2.1 Tác động của nhiệt độ trung bình tăng
Lĩnh vực trồng trọt
- Làm giảm năng suất cây trồng dẫn đến nguy cơ mất an ninh lương thực: Báo cáo đánh giá của IPCC về tác động của BĐKH lên cây lương thực cho thấy ở vùng nhiệt đới, nhiệt độ trung bình tăng lên sẽ ảnh hưởng xấu tới năng suất do ảnh hưởng trực tiếp đến thời kỳ nở hoa, thụ phấn (100 C đối với lúa mỳ và ngô, 200 C đối với lúa nước), nếu tăng lên 300 C sẽ gây ra tình trạng cực kỳ căng thẳng cho tất cả các loại cây trồng ở tất cả các vùng Nhiệt độ tăng 100 C sẽ làm giảm năng suất ngô từ 5 - 20% và có thể giảm đến 60% nếu nhiệt độ tăng thêm 400 C Tương tự, năng suất lúa có thể giảm 10% đối với mỗi độ tăng lên Các cây trồng khác cũng sẽ chịu tác động tương tự của BĐKH, nhất là các cây ăn quả nhiệt đới như vải, nhãn Năng suất các loại cây này có khả năng giảm đáng kể khi nhiệt độ mùa đông tăng cao
- BĐKH gây đảo lộn cơ cấu cây trồng: nhiệt độ tăng làm thay đổi thời gian sinh trưởng, phát triển của các loại cây trồng, làm thay đổi quy luật phân hóa mầm hoa và nở hoa và
do đó làm giảm khả năng luân canh, tăng vụ và đảo lộn cơ cấu các loại cây trồng, đặc biệt là những cây trồng ưa lạnh ở vụ đông và cây á nhiệt đới như đào, mận, mơ…
- Nhiệt độ tăng cao dẫn đến hạn hán, thiếu hụt nước cho cây trồng Trong điều kiện nhiệt độ tăng lên 1000 C thì nhu cầu tưới nước cho cây trồng sẽ tăng 10% làm cho năng lực tưới của các công trình thủy lợi như hiện nay không đáp ứng đủ (IPCC, 2007)
- Làm tăng nguy cơ xuất hiện các loài dịch bệnh BĐKH làm thay đổi điều kiện sinh sống của các loại sinh vật, làm mất đi hoặc thay đổi các mắt xích trong chuỗi thức ăn
và lưới thức ăn dẫn đến tình trạng biến mất của một số loài sinh vật và ngược lại xuất hiện nguy cơ gia tăng các loại thiên dịch Nhiệt độ tăng trong mùa đông sẽ tạo điều kiện cho nguồn sâu có khả năng phát triển nhanh hơn và gây hại mạnh hơn BĐKH cũng có