1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Tiểu luận FTU) sự phát triển giáo dục ở singapore

47 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự Phát Triển Giáo Dục Ở Singapore
Tác giả Nguyễn Hà An, Mai Khánh Linh, Đinh Trung Nam, Phạm Thị Ngân Hà, Phạm Thị Thanh Tâm, Đỗ Thị Hương, Đỗ Thị Quỳnh Vân, Nguyễn Thùy Dương, Trịnh Ngọc Dung
Người hướng dẫn Ths. Hoàng Bảo Trâm
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong năm đầu tiên độc lập, chính phủ singapore đã quyết định sử dụng tới59% trong ngân sách cho giáo dục bậc tiểu học, 27% cho giáo dục bậc trung học cơ sở và 14% cho giáo dục các bậc c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ

Trang 2

Từ trước đến nay, một nền kinh tế muốn phát triển luôn luôn đòi hỏi phải cómột đội ngũ nguồn nhân lực, nguồn lao động dồi dào và có kĩ năng Không nhữngthế, bước vào thế kỷ 21, thế kỷ của những cuộc cách mạng khoa học và công nghệ,

sự ra đời của một loạt những thành tựu vĩ đại trong tất cả các lĩnh vực công nghệsinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ nano hay hơn thế nữa là sự bùng nổcủa Internet đã hình thành nên một nền kinh tế mới: kinh tế tri thức

Chính vì lý do đó, giáo dục ngày càng đóng một vai trò quan trọng trongviệc phát triển kinh tế ở tất cả các quốc gia, đã và đang phát triển

Trong tiểu luận này, nhóm lựa chọn đề tài “Sự phát triển giáo dục ởSingapore” nhằm nghiên cứu những đặc điểm và thành tựu nổi bật trong hệ thống

và chính sách giáo dục ở Singapore qua đó làm rõ vì sao Singapore từ một quốc gianhỏ bé không có lợi thế về tài nguyên thiên nhiên đã trở thành một trong nhữngquốc gia phát triển cả về kinh tế và giáo dục bậc nhất thế giới

Kết cấu tiểu luận gồm 3 phần:

Trang 3

NỘI DUNG

I.Tổng quan về Singapore

Singapore, tên chính thức là nước Cộng hòa Singapore, là một quốc gia vàquốc đảo của Đông Nam Á Đảo quốc Singapore nằm ngoài khơi mũi phía namcủa bán đảo Mã Lai và cách xích đạo 137 km về phía bắc Lãnh thổ Singapore gồm

có một đảo chính hình thoi, và khoảng 60 đảo nhỏ hơn

Về lịch sử hình thành, năm 1826 Singapore trở thành một trong Các khuđịnh cư Eo biển của Anh Quốc Với sự phát triển thương mại và vận tải biển, đếnnăm 1900, Singapore đã trở thành một thành phố quốc tế hiện đại và phồn thịnhnhất tại khu vực Đông Nam Á Singapore bị Nhật Bản chiếm đóng trong Chiếntranh thế giới thứ Hai và sau chiến tranh, Singapore tuyên bố độc lập từ Anh Quốcvào năm 1963, và hợp nhất với các cựu lãnh thổ khác của Anh Quốc để hình thànhMalaysia Tuy nhiên, Singapore bị trục xuất khỏi Malaysia hai năm sau Kể từ đó,Singapore phát triển nhanh chóng, được công nhận là một trong Bốn con hổ châuÁ

Singapore hầu như không có tài nguyên thiên nhiên, nguyên liệu đều phảinhập từ bên ngoài Singapore chỉ có ít than, chì, nham thạch, đất sét; không cónước ngọt; đất canh tác hẹp, chủ yếu để trồng cao su, dừa, rau và cây ăn quả Dovậy nông nghiệp ở đây không phát triển, hàng năm phải nhập khẩu lương thực,thực phẩm để đáp ứng nhu cầu ở trong nước Kinh tế Singapore từ cuối những năm

1980 đạt tốc độ tăng trưởng vào loại cao nhất thế giới: 1994 đạt 10%, 1995 là8,9% Tuy nhiên, từ cuối 1997, do ảnh hưởng của khủng hoảng tiền tệ, đồng đô la

Trang 4

1,3% Từ 1999, Singapore bắt đầu phục hồi nhanh: Năm 1999, tăng trưởng 5,5%,

và năm 2000 đạt hơn 9% Do ảnh hưởng của sự kiện 11 tháng 9, suy giảm của kinh

tế thế giới và sau đó là dịch SARS, kinh tế Singapore bị ảnh hưởng nặng nề:

Năm 2001, tăng trưởng kinh tế chỉ đạt -2,2%, 2002, đạt 3% và 2003 chỉ đạt 1,1%

Từ 2004, tăng trưởng mạnh: năm 2004 đạt 8,4%; 2005 đạt 5,7%; năm 2006 đạt7,7% và năm 2007 đạt 7,5% Năm 2009, GDP chỉ tăng 1,2% do tác động củakhủng hoảng kinh tế Tại Singapore, các ngành dịch vụ đóng góp chính vào tăngtrưởng kinh tế và chiếm tới 72% GDP trong đó quan trọng nhát là bán buôn và bán

lẻ (chiếm 18%GDP); dịch vụ kinh doanh (16%); tài chính và bảo hiểm (13%), vậnchuyển và lưu kho (10%) Lĩnh vực công nghiệp đóng góp 28% tổng sản lượng cònlại, trong đó công nghiệp chế tạo (21%) và xây dựng (5%) là những ngành quantrọng nhất

Singapore còn là một trong các trung tâm thương mại lớn của thế giới, với vịthế trung tâm tài chính lớn thứ tư và một trong năm cảng bận rộn nhất Theo sứcmua tương đương, Singapore có thu nhập bình quân đầu người cao thứ ba trên thếgiới Quốc gia này cũng xếp hạng cao trong các bảng xếp hạng quốc tế liên quanđến giáo dục, chăm sóc sức khỏe, sự minh bạch của chính phủ, và tính cạnh tranhkinh tế

Sự thành công của Singapore được biết đến như một câu chuyện vĩ đại vềviệc chuyển mình từ một quốc gia đang phát triển nhỏ bé hầu như không có lợi thế

về tài nguyên thiên nhiên trở thành một trong những nền kinh tế công nghiệp hiệnđại bậc nhất thế giới chỉ trong gần nửa thế kỷ Để đạt được những thành công đó,

có lẽ không thể không kể đến vai trò của giáo dục trong sự phát triển củaSingapore

Trong suốt những thập kỷ qua, hệ thống giáo dục ở Singapore vẫn được coi

là một trong những hệ thống giáo dục tốt nhất thế giới Năm 2015, trường đại học

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com

Trang 5

quốc gia Singapore được xếp hạng 26 trong số những trường đại học tốt nhất thếgiới và xếp thứ nhất trong khu vực châu Á vượt qua cả Nhật Bản và Hong Kong(Times Higher Education Supplement, 2015/2016) Mục tiêu của hệ thống giáo dục

Singapore chủ yếu là cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao, qua đó tạo ra

sức cạnh tranh cao Tầm nhìn này được ông Lý Quang Diệu phát triển ngay từ đầunhiệm kỳ thủ tướng của mình Đó cũng là một trong những bí quyết thành côngcủa Singapore mà ông Lý thường nhấn mạnh Vậy đâu là nguyên nhân thành côngcủa hệ thống giáo dục ở Singapore và bài học kinh nghiệm rút ra từ Singapore chocác quốc gia khác là gì Bài tiểu luận sẽ chia giáo dục ở Singapore ra 3 giai đoạnphát triển chính:

- Giai đoạn 1 (1959 – 1978): Giai đoạn giáo dục để tồn tại

- Giai đoạn 2 (1979 – 1996): Giai đoạn giáo dục lấy hiệu quả làm động lực

- Giai đoạn 3 (1997 – nay): Giai đoạn giáo dục lấy năng lực và đổi mới làm

động lực

II Sự phát triển giáo dục ở Singapore

1.Tổng quan về hệ thống giáo dục ở Singapore 1.1 Hệ thống giáo dục của Singapore từ năm 1959 đến 1978

Giai đoạn từ năm 1959 đến năng 1967 là giai đoạn mà giáo dục trở thànhmục tiêu sống còn của chính phủ Singapore vì thế đầu tư cho hệ thống giáo dụcluôn là ưu tiên hàng đầu Trước độc lập, ở Singapore chỉ có những người giàu có làđược hưởng nền giáo dục vì vậy sau khi Singapore trở thành một nước độc lập,bóng tối của nạn mù chữ và lao động kém kỹ năng đã bao trùm lên đất nước này

Nhiệm vụ cấp thiết lúc bấy giờ chính là phổ cập giáo dục càng rộng rãi và càngnhanh chóng càng tốt, đó cũng chính là nhiệm vụ sống còn của chính phủ

Trang 6

singapore Các trường học nhanh chóng được xây dựng nên, các giáo viên đượcchiêu mộ rộng rãi trên khắp cả nước

Trong năm đầu tiên độc lập, chính phủ singapore đã quyết định sử dụng tới59% trong ngân sách cho giáo dục bậc tiểu học, 27% cho giáo dục bậc trung học

cơ sở và 14% cho giáo dục các bậc cao hơn

Điểm nổi bật nhất trong giai đoạn này là chính sách giáo dục “bilingualism” Nhậnthức được tầm quan trọng của ngôn ngữ thứ 2 trong việc phát triển và hội nhập,việc học ngôn ngữ thứ 2 đã trở thành bắt buộc với cấp học tiểu học từ năm 1960 vàvới cấp trung học từ năm 1966 Tiếng Anh, tiếng Trung Quốc, tiếng Tamil là ngônngữ bắt buộc với học sinh ở Singapore sau tiếng mẹ đẻ Năm 1959, chính phủSingapore đưa ra kế hoạch 5 năm (1961-1965) cải biến hoàn toàn nền giáo dụcSingapore Đặc điểm chính của kế hoạch 5 năm chính là cung cấp miễn phí chươngtrình giáo dục bậc tiểu học cho học sinh Singapore Kế hoạch 5 năm cải biến hệthống giáo dục Singapore có những đặc điểm chính như:

- Thứ nhất: đảm bảo việc dạy song song cùng lúc 4 thứ tiếng Anh, TrungQuốc, Mã Lai, Tamil bằng việc xây dựng nên các trường học dạy bằng cácngôn ngữ khác nhau

- Thứ hai: Sự hình thành của tiếng Mã Lai như là quốc ngữ

- Thứ ba: Tập trung nâng cao việc giảng dạy các môn như toán hoc, khoa học

và công nghệ trong trường họcTuy nhiên, nhận thức được xu hướng hội nhập ra thế giới nên các vị phụhuynh đã gửi con em mình vào các trường dạy bằng ngôn ngữ tiếng Anh và tiếngTrung thay vì tiếng Mã Lai và Tamil Năm 1959, có 47% trên tổng số các em họcsinh bắt đầu bậc tiểu học của mình với trường Anh ngữ và 46% với trường Hoangữ 20 năm sau, năm 1979 thì hệ thống trường Anh ngữ được đa số các vị phụhuynh lựa chọn với 91% trên tổng số học sinh tiểu học và chỉ có 9% còn lại lựa

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com

Trang 7

chọn trường tiểu học Hoa ngữ Bằng kế hoạch 5 năm này, tới năm 1965 thìSingapore đã hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục bậc tiểu học.

Sau bậc tiểu học, học sinh Singapore sẽ được đánh giá khả năng học tập vàhọc tiếp 4 năm trong trường trung học cơ sở Các trường trung học cơ sở cũngđược xây dựng nhanh chóng để theo kip lượng học sinh ngày càng tăng nhanh

Nhận xét: Có thể thấy hệ thống giáo dục của Singapore đã có rất nhiềunhững cải biến mang tính cấp thiết và phù hợp trong giai đoạn này, tuy nhiên cũngkhôn thể phủ nhận chất lượng giáo dục trong thời kì này vẫn chưa thực sự đạt đượcnhư mong muốn Có thể thấy tương quan giữa lượng học sinh tiểu học và lượnghọc sinh trung học cơ sở là chênh lệch khá nhiều Từ năm 1959 đến 1961 tươngquan này là khoảng 1\5 , từ năm 1962 đến 1965 tức là giai đoạn thực hiện kế hoạch

5 năm thì tỉ lệ tăng lên xấp xỉ 1\4 và sau 1965 thì khoảng 1\3

1.2 Hệ thống giáo dục Singapore từ năm 1979 đến 1996

Có một thực tế là ở thời kỳ trước, hệ thống giáo dục vẫn còn dàn đều chưaphân cấp vì vậy dễ dẫn tới hiện tượng những học sinh thông minh hơn cảm thấynhàm chán do phải học cùng cấp độ với những học sinh yếu hơn và ngược lại, họcsinh trung bình cảm thấy khó khăn khi phải theo chương trình của học sinh học tốthơn Đấy là lý do tại sao trước thời kỳ này, chỉ có 71% học sinh tiểu học vào cấp 2

và 14% cấp 2 vào được cấp trước đại học

Để giải quyết tình trạng này, một hệ thống giáo dục mới được ra đời vàotháng 1 năm 1979 nhằm nâng cao tính hiệu quả trong việc giảng dạy, gọi tắt làNES (New education system) NES cung cấp 3 cấp độ học cho mỗi bậc tiểu họchoặc trung học cơ sở Như vậy học sinh có thể định hướng và chọn trình độ họcphù hợp với mình Vậy là với hệ thống mới này, Singapore có thể tối ưu hóa việc

Trang 8

Ở bậc trung học, học sinh được lựa chọn cho mình một trong ba kiểu trường trunghọc:

- Học kiểu thông thường: 5 năm bao gồm một năm ôn thi GCE level O sau khiđạt level N

- Học cấp tốc: 4 năm học và thi GCE level O luôn

- Khóa học dạy nghề: học sinh không có nhu cầu học văn hóa lên cao có thểhọc nghề và đi làm luôn khi đủ tuổi

Không chỉ có thế, một điểm mới trong giáo dục giai đoạn này đó là nhữnghọc sinh học chậm ở bậc tiểu học được cho phép học trong 8 năm để hoàn thànhchương trình học, trong khi học sinh trung học cơ sở có thể học trong 5 năm để đạtđược bằng GCE “O” và thêm 3 năm nữa cho bằng GCE “A Như vậy, mục tiêu củagiáo dục lúc này không chỉ là số lượng mà là chất lượng Học sinh có thể học baolâu tùy ý cho tới khi các em đủ kiến thức và khả năng để làm việc

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com

Trang 10

1.3 Hệ thống giáo dục ở Singapore 1997 – nay:

Để có được nền kinh tế tri thức cần có một hệ thống giáo dục tập trung vàonâng cao khả năng con người thay vì theo kiểu phổ cập

Học tập từ phía người Nhật, các nhà giáo dục Singapore muốn giữ lại tất cảnhững điều tốt cùng với đó thay đổi cải thiện những mặt còn hạn chế Ở giai đoạnnày, hệ thống giáo dục tiến tới hoàn thiện hơn, đầu tư tập trung ở mọi cấp bậc,không còn chỉ dừng lại ở giáo dục cấp tiểu học và sau tiểu học

- Chương trình giáo dục mầm non được thực hiện qua hệ thống các nhà trẻ,mẫu giáo và các trung tâm chăm sóc trẻ em với chương trình kéo dài 3 nămcho trẻ em từ 3 đến 6 tuổi Các nhà trẻ thuộc hệ thống giáo dục Singapore docác tổ chức doanh nhân và xã hội điều hành và đăng ký với Bộ Giáo dục

Các trung tâm nuôi dạy trẻ phải được Bộ Phát triển Cộng đồng và Thể thaocấp giấy phép hoạt động

- Trẻ em ở Singapore học 6 năm đối với chương trình tiểu học, trong đó có 4năm học chương trình cơ sở từ lớp 1 đến lớp 4 và 2 năm học tiếp theo làchương trình định hướng từ lớp 5 đến lớp 6

Trong giai đoạn nền tảng, chương trình học chính là tiếng Anh, ngôn ngữ mẹ

đẻ và toán với các môn phụ như âm nhạc, nghệ thuật, thủ công, thể dục vàcác môn xã hội khác Trong hệ thống giáo dục Singapore, môn Khoa họcđược dạy ngay từ lớp 3 Để phát huy tối đa tiềm năng của học sinh, các emđược xếp vào lớp theo khả năng của mình trước khi bước vào giai đoạn địnhhướng Giai đoạn cuối lớp 6, các em phải qua kỳ thi hoàn tất Tiểu học(Primary School Leaving Examination – PSLE)

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com

Trang 11

- Tiếp đó các em bước vào giai đoạn giáo dục cơ sở, được phân chia làm 2loại: học chương trình cấp tốc (4 năm) và học chương trình thường (5 năm).

Đây là điểm nổi bật, tích cực của hệ thống giáo dục Singapore được giữ lại

từ giai đoạn trước Nhờ đó mà các học sinh có thể tùy chọn lộ trình học phùhợp với khả năng của bản thân

Hệ đặc biệt và cấp tốc kéo dài trong 4 năm nhằm chuẩn bị cho các em thi lấybằng GCE “O” (Singapore – Cambridge General Certificate of Education

“Ordinary”) Học sinh theo học hệ bình thường có thể học chương trình vănhóa hay chuyên ngành kỹ thuật Cả hai chương trình này đều chuẩn bị chocác em thi lấy bằng GCE “N” ( Singapore – Cambridge General Certificate

of Education “Normal”) sau 4 năm học và sau khi kết thúc chương trình này,học sinh học thêm một năm nữa để thi lấy bằng GCE “O”

- Tại giai đoạn giáo dục sau cơ sở này, các học sinh/ sinh viên sẽ có nhiều sựlựa chọn hơn:

 Học dự bị đại học ( junior college/centralized institute) Sau khi hoàn thành kì thi chứng chỉ GCE ’O’, sinh viên có thể nộp đơn vào các trường gọi là “junior college” cho một khoá học 2 năm hoặc các

viện học tập trung (centralized institute) cho một khoá học 3 năm dự bịđại học Các trường và viện nói trên chuẩn bị cho sinh viên bước vào cáctrường đại học và đặt nền tảng cho giáo dục bậc đại học Chương trìnhgồm hai môn bắt buộc: Viết luận đại cương và tiếng mẹ đẻ, và tối đa 4chứng chỉ chung Singapore - Cambridge của bậc giáo dục GCE “A” (A –

“Advance”) từ các môn nghệ thuật, khoa học, hoặc thương mại Cuốimột khoá dự bị đại học sinh viên phải thi lấy chứng chỉ GCE “A”

Trang 12

Sinh viên nước ngoài được nhận vào học dự bị đại học tùy thuộc việccòn chỗ hay không.

 Các trường Bách khoa ( Polytechnics)

Các trường Bách khoa được thành lập tại Singapore để cung cấp chosinh viên chương trình theo hướng thực hành ở bậc cử nhân Hiện tại có

5 trường Bách khoa tại Singapore: TrườngBK Nanyang, Trường BKNgee Ann, Trường BK Republic, Trường BK Temasek, Trường BKTemasek Các trường này cung cấp hàng loạt các khoá học như là kỹthuật, kinh doanh, thông tin đại chúng, thiết kế và giao tiếp thông tin

Cũng có các khoá học chuyên ngành như là nhãn khoa, kỹ thuật hànghải, đại dương học, y tá, giáo dục tiểu học và điện ảnh cho những aimuốn theo đuổi một nghề nghiệp cụ thể

Sinh viên tốt nghiệp đã chứng minh việc họ được các nhà tuyển dụng ưathích vì họ nổi lên trong môi trường làm việc với những kỹ năng và kinhnghiệm phù hợp với nền kinh tế mới

 Các viện giáo dục kỹ thuật (Institute of Technical Education - ITE)

ITE là một lựa chọn sau giáo dục phổ thông cho những ai muốn pháttriển kỹ năng kỹ thuật và kiến thức trong các lĩnh vực công nghiệp khácnhau Bên cạnh việc cung cấp những khoá học chính qui (“full time”) vàcác chương trình thực tập cho những học sinh tốt nghiệp trung học, ITEcòn cung cấp những chương trình giáo dục chuyển tiếp cho những người

đã đi làm

- Tiếp sau đó các sinh viên bước vào việc học đại họcCác trường này cung cấp hệ thống giáo dục toàn diện với bằng cấp đượcquốc tế công nhận Những cơ hội về học bổng và nghiên cứu sau đại học

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com

Trang 13

cũng có sẵn cho sinh viên sau tốt nghiệp Singapore có 3 trường Đại họcdưới đây:

 Trường Đại học Quốc gia Singapore (NUS)

 Trường Đại học Công nghệ Nanyang (NTU)

 Trường Đại học Quản trị Singapore (SMU)Ngoài ra ở Singapore còn có các trường đại học quốc tế góp phần nâng caođẳng cấp và phạm vi giáo dục cấp trên phổ thông ở quốc gia này Các trườngđại học quốc tế hàng đầu liên kết với các trường đại học trong nước để hiệndiện tại Singapore gồm có:

 Viện Công nghệ Georgia (tại Singapore với tên The LogisticsInstitute, Asia Pacific)

 Trường Đại học Johns Hopkins (tại Singapore với tên Johns HopkinsSingapore)

 Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) (tại Singapore với tênSingapore MIT Alliance)

 Trường Đại học Thượng Hải Jiao Tong

 Trường Đại học Stanford (Mỹ) (tại Singapore với tên SingaporeStanford Partnership)

 Trường Đại học Wharton, Pennylvania (Mỹ) (tại Singapore với tênWharton SMU Research Centre)

 Trường Đại học Kỹ thuật Eindhoven (tại Singapore với tên DesignTechnology Institute)

Trang 15

Kết luận: Hệ thống giáo dục Singapore ở giai đoạn này đã có sự chuyểnbiến, thay đổi rõ rệt, từ định hướng đến cấu trúc Về định hướng, tất cả các côngdân, bên trong và bên ngoài trường học đều được khuyến khích sáng tạo, đổi mới

tư duy, không đi theo lối Ngoài ra người Sing còn được hỗ trợ nâng cao hiểu biếtcông nghệ thông tin, điều rất cần thiết trong nền kinh tế hội nhập toàn cầu Về cấutrúc, Singapore cho phép các trường học tự quyết định ngành dạy phù hợp, tự dotrong tuyển sinh Hệ thống các bậc học được phân chia rất nhỏ nhắm đến từng đốitượng riêng biệt (tùy theo trình độ, khả năng vốn có cũng như sở thích)

2 Thành tực đạt được

2.2.1 Giai đoạn 1959-1978

Năm 1957, tỷ lệ thất nghiệp ở mức 5% và tăng lên 9,2% trong năm 1966, rõràng vấn đề giải quyết tình trạng thất nghiệp, phát triển nguồn lực của đất nước làvấn đề hết sức quan trọng Vì vậy, một hệ thống giáo dục có thể hỗ trợ sự pháttriển kinh tế và đạo tạo kỹ thuật cho lực lượng lao động đã được đưa ra – hệ thốnggiáo dọc được xem là điều kiện quan trọng cho sự sống còn của nền kinh tế

- Tỷ lệ biết chữ ở Singapore giai đoạn 1959-1979 tăng lên rất nhanh từ52,6% lên đến 80,2%, trong đó tỷ lệ biết chữ ở nam giới tăng từ70.3% đến 89.8% và ở nữ giới tăng từ 32,8% đến 70,4%

Trang 16

Nguồn: Singapore department of statistics.

- Về tuyển sinh: trong giai đoạn này, tuyển sinh trong tiểu học và trung học đãtăng lên nhanh chóng Từ năm 1959 đến 1972, số lượng học sinh nhập học ởbặc tiểu học tăng từ 272,254 đến 354,936 và đạt max năm 1968 với 379,828học sinh Còn bậc trung học tăng từ 48,723 học sinh năm 1959 lên đến161,371 học sinh năm 1972

Học sinh nhập học ở Tiểu học và Trung học

Trang 17

1967 373,437 144,448

Nguồn: Yearbook of Statistics Singapore, qua các năm.

- Tương ứng với sự gia tăng trong tuyển sinh các cấp, số lượng giáo viên củadịch vụ giảng dạy cũng tăng nhanh từ 10,590 giáo viên năm 1959 đến16,986 vào năm 1965 và 19,261 năm 1968 Bên cạnh đó, từ năm 1959 đếnnăm 1965, tổng số 83 trường học mới đã được hoàn thành, tỉ lệ vào khoảngmột trường học trong vòng một tháng

- Tập trung nâng cao việc giảng dạy bộ môn khoa học kỹ thuật: Để bắt kịp với

sự phát triển nhanh chóng trong khoa học kỹ thuật, chương trình giáo dụcnghề nghiệp, đào tạo giáo viên mở rộng và đào tạo lại được thực hiện Sốlượng giáo viên bộ môn tăng từ 425 năm 1968 đến 1,950 giáo viên trongnăm 1972 Trong năm 1968, 4000 giáo viên được đào tạo về kim khí, baogồm cả linh kiện và tấm kim loại, cơ khí, lắp đặt điện… Đến năm 1976,gần 20% số học sinh trung học đã được nhận sự giáo dục về khoa học kỹthuật Từ năm 1969 đến năm 1979, số lượng sinh viên đăng kí học vềchuyên ngành này đã tăng từ 2,800 đến 14,000 học sinh

2.2 Giai đoạn lấy hiệu quả làm động lực: 1978-1997

Vào cuối những năm 70 của thế kỷ 20, nền kinh tế của Singapore đang trên

đà phát triển đòi hỏi phải có khối lượng nhân công có tay nghề tốt, trình độ chuyênmôn cao, do đó vấn đề giáo dục ngày càng được quan tâm hơn Nhìn ra được vấn

đề đấy, đồng thời xác định được muốn có trò giỏi thì phải có thầy tốt, chính phủ

Trang 18

Việc nhận ra đúng vấn đề và giải quyết nó giúp cho Singapore sớm có một nềngiáo dục tân tiến, và phát huy tối đa lợi thế về lao động.

- Về tỷ lệ biết chữ, từ năm 1979 đến năm 1997, tỷ lệ biết chữ tăng 9,9% (từ81,6% đến 91,5%) Qua biểu đồ trên, ta có thể thấy trong giai đoạn này sựchênh lệch giữa tỷ lệ biết chữ của nam và nữ đã giảm đi đáng kể, đến năm

1997 độ chênh lệch chỉ còn 9,9% so với năm 1979 là 18,5% và năm 1959 là37,5%

Nguồn: Singapore department of statistics.

- Việc đưa vào hệ thống giáo dục mới cũng đã cho thấy những sự cải thiệntrong giáo dục Trước khi áp dụng hệ thống mới, hơn 60% học sinh đãkhông vượt qua được kỳ thi kết thúc bậc tiểu học (PSLE) và kỳ thi lấy bằngGCE “O” ở cả một hoặc hai ngôn ngữ Đến năm 1984, tỉ lệ phần trăm họcsinh vượt qua kỳ thi kết thúc bậc tiểu học bằng tiếng Anh và ngôn ngữ thứhai đã tăng lên một cách đáng kể lần lượt tương ứng là 85,5% và 98,7% Tại

kỳ thi lấy bằng GCE “O” bằng tiếng Anh, tỉ lệ học sinh vượt qua cũng đạttrên 90%

Số học sinh nhập học bậc Trung học

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com

Trang 19

Nguồn: Singapore department of statistics.

- Đồng thời trong thời kỳ này, tỉ lệ bỏ học cao ở giai đoạn tiểu học và trunghọc của giáo dục được ghi nhận trong Goh Report năm 1978 cũng đã giảmmột cách đáng kể Trong năm 1986, chỉ có 3772 học sinh (tương đương với1% số học sinh dưới độ tuổi 16) rời trường học mà không có ít nhất 10 năm

đi học

- Ở bậc đại học, đi cùng với những nỗ lực của chính phủ nhằm mở rộng nguồnnhân lực liên quan đến khoa học kỹ thuật và tầm nhìn về tổng thể nền kinh tếnhằm đưa Singapore trở thành một nước phát triển, số lượng học sinh thi vàocác trường địa phương và trường đại học tại quốc gia này đã tăng lên hơn200% từ 20305 sinh viên năm 1980 đến 62683 sinh viên năm 1992

- Ngoài ra, lượng sinh viên tốt nghiệp các ngành khoa học và kỹ thuật cũng

tăng ổn định và liên tục trong những năm 1980 Đáng kể nhất là số lượngsinh viên tốt nghiệp ngành kỹ thuật đã tăng gấp đôi giữa 2 thời kỳ 1980-85

và 1986-89 Đây là một thành công lớn của chính phủ Singapore trong kếhoạch về nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế với việcnguồn lao động được đào tạo ở tất cả các cấp

Trang 20

Number of Degrees Awarded by Singapore Universities, 1981 - 89

Số lượng các nhà nghiên cứu và kỹ sư (RSEs)

Năm Số lượng Lực lượng lao

Nguồn: Singapore – National Science and Technology Board 1992

Có thể nói, thành công trong việc cắt giảm sự lãng phí trong giáo dục đãcung cấp cho Singapore một lượng lao động được đào tạo đủ để đáp ứng nhu cầutăng trưởng nhanh của nền kinh tế

2.3 Giai đoạn giáo dục lấy năng lực và đổi mới làm động lực từ 1997 đến nay

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com

Trang 21

- Tỷ lệ biết người dân biết chữ trên độ tuổi 15 trong giai đoạn này tiếp tục giatăng Đến năm 2015, tỷ lệ biết chữ là 96,8% trong đó nam giới là 98,6%, nữgiới là 95,2%.

Nguồn: Singapore department of statistics.

- Với việc tăng cường thêm số lượng giáo viên, tỉ lệ học sinh trên một giáoviên cũng giảm một cách đáng kể từ 25 học sinh trên 1 giáo viên ở cấp tiểuhọc năm 1997, đến năm 2014 tỉ lệ này chỉ còn ở mức xấp xĩ 16 học sinh trên

1 giáo viên

Tỉ lệ số học sinh trên 1 giáo viên

Trang 22

2010 19,28225 16,10605

Nguồn: Singapore department of statistics.

- Theo kết quả bài thi PISA(*) được cập nhật năm 2012 và TIMSS (**) năm

2011, Singapore giữ vững vị trí top đầu danh sách các quốc gia có học sinhđạt kết quả tốt nhất tốt nhất, đặc biệt ở môn Toán:

Dưới đây là bảng kết quả top 5 quốc gia đạt kết quả cao nhất trong chươngtrình đánh giá PISA (theo OECD) và TIMSS (theo The InternationalAssociation for the Evaluation of Educational Achievement - IEA)

Top 5 quốc gia đạt kết quả cao nhất trong chương trình đánh giá PISA 2012

So sánh với kết quả của chương trinh đánh giá này năm 2009

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com

Trang 23

Nhận xét: Chỉ sau 3 năm (từ 2009 đến 2012) Singopore đã vươn lên từ vị trí

thú 5 lên vị trí thứ 2 trong bảng xếp hạng các quốc gia có điểm số cao nhấttheo chương trình đánh giá PISA

Top 4 quốc gia có kết quả bài thi TIMSS 2011 cao nhất:

So sánh với kết quả của bài thi này năm 2007:

Toán học Khoa học

(*) PISA là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Programme for International Student Assessment – Chương trình đánh giá học sinh

quốc tế” do Hiệp hội các nước phát triển (OECD) khởi xướng và chỉ đạo, nhằm tìm kiếm các chỉ số đánh giá tính hiệu quả – chất lượng của hệ thống giáo dục của mỗi nước tham gia, qua đó rút ra các bài học về chính sách đối với giáo dục phổ thông PISA được thực hiện theo chu kì 3 năm một lần (bắt đầu từ năm 2000) Đối tượng đánh giá là học sinh trong độ tuổi 15, độ tuổi kết thúc giai đoạn giáo dục bắt buộc ở hầu hết các quốc gia (15 năm 3 tháng đến 16 năm 2 tháng – độ tuổi PISA) PISA hướng vào các trọng tâm về chính sách, được thiết kế và áp dụng các phương pháp khoa học cần thiết để giúp chính phủ các nước tham gia rút ra các bài học về chính sách đối với giáo dục phổ thông.

Ngày đăng: 11/10/2022, 08:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

-Gọi 1 số HS lần lượt lên bảng làm, cả lớp làm vào vở. - (Tiểu luận FTU) sự phát triển giáo dục ở singapore
i 1 số HS lần lượt lên bảng làm, cả lớp làm vào vở (Trang 17)
Dưới đây là bảng kết quả top 5 quốc gia đạt kết quả cao nhất trong chương trình   đánh   giá  PISA   (theo   OECD)   và   TIMSS   (theo   The   International Association for the Evaluation of Educational Achievement - IEA) - (Tiểu luận FTU) sự phát triển giáo dục ở singapore
i đây là bảng kết quả top 5 quốc gia đạt kết quả cao nhất trong chương trình đánh giá PISA (theo OECD) và TIMSS (theo The International Association for the Evaluation of Educational Achievement - IEA) (Trang 22)
thú 5 lên vị trí thứ 2 trong bảng xếp hạng các quốc gia có điểm số cao nhất theo chương trình đánh giá PISA - (Tiểu luận FTU) sự phát triển giáo dục ở singapore
th ú 5 lên vị trí thứ 2 trong bảng xếp hạng các quốc gia có điểm số cao nhất theo chương trình đánh giá PISA (Trang 23)
- Bên cạnh đó, cùng với việc hình ảnh của Viện giáo dục kỹ thuật (ITE) được cải thiện, sự thành công của các sinh viên sau khi tốt nghiệp đã mang đến một làn gió mới, tạo động lực cho học sinh sau khi rời trung học - (Tiểu luận FTU) sự phát triển giáo dục ở singapore
n cạnh đó, cùng với việc hình ảnh của Viện giáo dục kỹ thuật (ITE) được cải thiện, sự thành công của các sinh viên sau khi tốt nghiệp đã mang đến một làn gió mới, tạo động lực cho học sinh sau khi rời trung học (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm