Hiện tượng này là thách thức với các lý thuyết truyền thống về thương mại quốc tế cho rằng: Việc trao đổi hàng hóa giữa các nước là do sự khác nhau về nguồn lựchoặc nhân tố sản xuất.. Tó
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
-*** -TIỂU LUẬN KINH TẾ HỌC QUỐC TẾ II
ĐỀ TÀI: PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI NỘI NGÀNH VIỆT
NAM VÀ CÁC NƯỚC CHÂU Á
Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 13
Nguyễn Quang Huy 1514420052 Đinh Phúc Hiệp 1514420044
Lê Thu Thảo 1514420105 Hoàng Anh 1510420145 Trần Thị Hà Phương 1514420090 Phạm Tú Uyên 1514420139
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Bình Dương
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THƯƠNG MẠI NỘI NGÀNH 3
1.1 Khái niệm thương mại nội ngành 3
1.2 Đo lường thương mại nội ngành 4
1.3 Phương pháp phân loại thương mại nội ngành 4
1.3.1 Thương mại nội ngành theo chiều ngang 4
1.3.2 Thương mại nội ngành theo chiều dọc 5
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI NỘI NGÀNH CỦA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC CHÂU Á 7
2.1 Khái quát chung về tình hình thương mại nội ngành ở Việt Nam 7
2.2 Thương mại nội ngành nhóm hàng SITC 2 (Nguyên liệu thô, hàng phi lương thực, trừ nhiên liệu) 10
2.3 Thương mại nội ngành nhóm hàng SITC 3 (Nhiên liệu, dầu mỡ nhờn và vật liệu liên quan) 14
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI NỘI NGÀNH CỦA VIỆT NAM VỚI CHÂU Á 17
3.1 Đánh giá thương mại nội ngành ở Việt Nam 17
3.2 Giải pháp nhằm phát triển thương mại nội ngành Việt Nam – Châu Á 18
KẾT LUẬN 20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Giá trị xuất nhập khẩu của các nhóm hàng lớn của Việt Nam với các nước châu Á năm 2015 8
Bảng 2.2 Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với một số nước châu Á năm
2015 của nhóm hàng nhỏ trong SITC 2 10
Bảng 2.3 Giá trị xuất nhập khẩu các mã hàng trong nhóm SITC 3 năm 2015 14
Biểu đồ 2.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam với một số nước châu Á năm
2011-2015 7 Biểu đồ 2.2 Biểu đồ thương mại nội ngành các nhóm hàng lớn của Việt Nam với các nước châu Á năm 2015 9 Biểu đồ 2.3 Thương mại nội ngành các nhóm hàng thuộc SITC 2 của Việt Nam năm 2015 11 Biểu đồ 2.4 Thương mại nội ngành nhóm hàng số 3 năm 2015 14
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ trêntoàn thế giới, tạo điều kiện cho các quốc gia mở rộng thương mại, Việt Nam cũngkhông nằm ngoài xu hướng đó như một điều kiện tất yếu trong công cuộc phát triển
Sau khi mở cửa nền kinh tế, Việt Nam bước vào phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế
Trong đó thương mại Việt Nam giữ vai trò, quan trọng, gắn kết các hoạt động trongnước với thế giới thông qua các hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng gia tăng vàkhông ngừng mở rộng Danh mục hàng hóa, cơ cấu và chất lượng hàng hóa xuất nhậpkhẩu được cải thiện theo hướng gia tăng cả về số lượng và chất lượng, song song làchuyển biến theo cơ chế thị trường Đóng góp to lớn vào sự tăng trưởng mạnh mẽ củathương mại quốc tế hiện nay chính là thương mại nội ngành Việt Nam đang có nhiềutiềm năng và lợi thế để phát triển thương mại nội ngành nhằm tăng năng lực cạnh tranh
và cải thiện nền kinh tế, đặc biệt là trong khu vực Châu Á Nhiều hiệp định thươngmại đã được ký kết và có hiệu lực như: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA),Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam - Nhật Bản ,Khu vực mậu dịch tự do Việt Nam –Hàn Quốc, Điều này một mặt, sẽ tạo thêm xung lực mới cho phát triển kinh tế - xãhội, đặc biệt là trong thu hút đầu tư và thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam với các nềnkinh tế trong khu vực, mặt khác tạo ra nhiều thách thức về quy mô, cơ cấu tổ chức củanền kinh tế cũng như nguồn lực lao động và công nghệ sản xuất
Hiện tại Việt Nam đang thực hiện hoạt động thương mại như thế nào với cácnước thuộc khu vực Châu Á và chính phủ cần phải làm gì để tăng sức cạnh tranh chohàng hóa trong nước, tăng đầu tư và kích thích xuất khẩu Để làm rõ những vấn đề nàynhóm chúng em xin chọn nghiên cứu đề tài: “Phát triển thương mại nội ngành của ViệtNam với các nước Châu Á”
Kết cấu của bài tiểu luận gồm ba chương:
Chương 1 Cơ sở lý thuyết về thương mại nội ngànhChương 2 Thực trạng phát triển Thương mại Nội ngành giữa Việt Nam và cácnước Châu Á
Chương 3 Giải pháp phát triển Thương mại nội ngành của Việt Nam và các nướcChâu Á
Trang 5Do sự hạn chế về mặt thời gian cũng như về kiến thức chuyên môn, trong quátrình thu thập số liệu và phân tích, đánh giá chúng em không tránh khỏi những sai sót.
Chúng em rất mong nhận được những nhận xét và góp ý của cô để bài tiểu luận củachúng em được hoàn thiện hơn
Chúng em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới cô Nguyễn Bình Dương
đã hướng dẫn, giúp đỡ chúng em hoàn thành bài tiểu luận này
Trang 6CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THƯƠNG MẠI NỘI NGÀNH
1.1 Khái niệm thương mại nội ngành
Trong hơn hai thập kỷ vừa qua, đã có nhiều lý thuyết mới được xậy dựng để bổsung cho các lý thuyết thương mại quốc tế cổ điiển và tân cổ điển Theo lý thuyết củaHeckscher-Ohlin, khác biệt về sự dồi dào các yếu tố sản xuất là nguồn gốc của lợi thế
so sánh Trong khi đó, lợi thế so sánh là một yếu tố quyết định đến thương mại quốc
tế Do vậy, thương mại quốc tế dựa trên lợi thế so sánh là thương mại liên ngành Tuynhiên, trên thực tế mô hình của Heckscher-Ohlin đã không giải thích được hiện tượngthương mại giữa các quốc gia tương đồng nhau với sự dồi dào các yếu tố sản xuất nhưnhau Đây chính là điểm xuất phát của lý thuyết thương mại mới, thương mại nộingành (IIT) Leontief đã công bố bài báo chứng minh về mặt thực nghiệm định lý củaHeckcher-Ohlin, cho rằng: Nước nào có lợi thế về vốn sẽ xuất khẩu hàng hóa sử dụngnhiều vốn như sắt, thép, ô tô,… nước nào có lợi thế về lao động sẽ xuất khẩu hàng hóa
sử dụng nhiều lao động như giầy dép, quần áo… Sử dụng bảng đầu vào, đầu ra năm
1947 của Mỹ, ông muốn kiểm định giả thuyết rằng nước Mỹ có lợi thế so sánh đối vớihàng hóa sử dụng nhiều vốn và do đó sẽ xuất khẩu hàng hóa sử dụng nhiều vốn vànhập khẩu hàng hóa sử dụng nhiều lao động Kết quả thật đáng ngạc nhiên: Hàng hóaxuất khẩu của Mỹ sử dụng nhiều lao động hơn so với hàng nhập khẩu, điều này tráivới mô hình Heckcher- Ohlin
Hiện tượng này là thách thức với các lý thuyết truyền thống về thương mại quốc
tế cho rằng: Việc trao đổi hàng hóa giữa các nước là do sự khác nhau về nguồn lựchoặc nhân tố sản xuất Bằng chứng thực tế chỉ ra rằng các nước có trang bị nguồn lựctương tự nhau nhập khẩu và xuất khẩu đồng thời các sản phẩm tương tự thuộc mộtngành Để giải thích hiện tượng này các lý thuyết thương mại mới ra đời trong đó có
lý thuyết thương mại nội ngành (Intra Industry Trade- IIT) Theo Grubel và Lloyd(1975), IIT là việc mua bán đồng thời hàng hóa giống nhau hoặc tương tự nhau Nó cóthể xảy ra trong cùng một ngành và có thể ở cùng một giai đoạn sản xuất hoặc có thể ởcác giai đoạn sản xuất khác nhau Phan Tú Anh và các đồng nghiệp (2014) cho rằngIIT là việc đồng thời xuất khẩu và nhập khẩu những loại hàng hóa thuộc cùng mộtngành hay là nhóm hàng theo phân loại tiêu chuẩn hàng hóa
Trang 7Tóm lại, thương mại nội ngành được định nghĩa là thương mại hai chiều, là việcxuất khẩu và nhập khẩu đồng thời các sản phẩm trong cùng một ngành dựa trên phâncấp hàng hóa theo tiêu chuẩn phân loại hàng hóa quốc tế.
1.2 Đo lường thương mại nội ngành
Chỉ số Grubel và Lloyd (Grubel, Herbert G.; Lloyd, Peter J (1975)) là chỉ số
được sử dụng phổ biến nhất để đo lường IIT và được coi là phương pháp đánh giáthích hợp về cơ cấu thương mại tại một thời kì:
Xi, Mi lần lượt là giá trị xuất khẩu và nhập khẩu của ngành i
Phần còn lại là tỷ trọng thương mại liên ngành:
∫¿i=1−IITi¿Chỉ số IIT nằm trong khoảng từ 0 đến 1:
IIT= 1: giá trị xuất khẩu bằng giá trị nhập khẩu, toàn bộ giá trị thương mại làthương mại nội ngành
IIT= 0: Chỉ có thương mại một chiều
1.3 Phương pháp phân loại thương mại nội ngành
Có rất nhiều lý thuyết về thương mại nội ngành và có thể chia chúng thành hailoại là thương mại nội ngành theo chiều dọc (HIIT) và thương mại nội ngành theochiều ngang (VIIT)
1.3.1 Thương mại nội ngành theo chiều ngang
Thương mại nội ngành theo chiều ngang (Horizontal Intra Industry Trade –HIIT) thể hiện sự trao đổi sản phẩm với các đặc tính khác nhau (các sản phẩm khácnhau về chiều ngang) được sản xuất với sự chuyên sâu về yếu tố giống nhau, mô tảchất lượng sản phẩm tương tự và bán tại mức giá như nhau Thương mại nội ngànhtheo chiều ngang liên quan đến sản phẩm tương tự xuất khẩu và nhập khẩu đồng thờitại cùng một giai đoạn của quá trình sản xuất và chủ yếu là do sự khác biệt về mặt sảnphẩm
Trang 8Thương mại nội ngành theo chiều ngang xảy ra khi thị trường cạnh tranh hoànhảo với sự khác biệt hóa sản phẩm để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng và
sử dụng tính kinh tế nhờ quy mô hay nói cách khác HIIT xuất hiện khi đồng thời xuấtkhẩu và nhập khẩu hàng hoá trong cùng một ngành và trong cùng giai đoạn sản xuất
Cụ thể, việc xuất khẩu và nhập khẩu đồng thời điện thoại di động của Hàn Quốc tronggiai đoạn cuối cùng là một ví dụ cho thương mại nội ngành theo chiều ngang Bởi vìnhững chiếc điện thoại di động này được sản xuất sử dụng công nghệ tương tự nhau vàcung cấp các chức năng cũng tương tự nhau, chúng được phân loại cùng một ngành
Tuy nhiên, điện thoại Samsung được xuất khẩu thì có một vài sự khác biệt trong hìnhdáng và đặc điểm sản phẩm so với điện thoại Nokia được nhập khẩu
1.3.2 Thương mại nội ngành theo chiều dọc
Thương mại nội ngành theo chiều dọc (Vertical Intra Industrial Trade – VIIT)liên quan đến thương mại của sản phẩm khác nhau về chất lượng, về công nghệ vàkhác nhau về một số các yếu tố khác, vì vậy các sản phẩm cũng được bán ở các mứcgiá khác nhau Cụ thể hơn, thương mại nội ngành theo chiều dọc liên quan đến việcxuất nhập khẩu hàng hóa đồng thời trong cùng một ngành, nhưng tại các giai đoạn sảnxuất khác nhau, và chủ yếu là do sự chuyên sâu về nhân tố trong một ngành
Thương mại nội ngành theo chiều dọc bắt nguồn từ thị trường cạnh tranh độcquyền từ việc chuyên môn hóa sản xuất theo công đoạn, như việc Trung Quốc có lợithế nhân công nên đã nhập khẩu linh kiện máy tính từ nước ngoài, sau đó lắp ráp thànhmáy vi tính hoàn chỉnh và xuất khẩu trở lại cho các nước, trong khi Mỹ có lợi thế vềvốn và kỹ thuật cao nên tập trung nghiên cứu, thiết kế và sản xuất linh kiện máy tính
Ngoài ra, thương mại các sản phẩm có chất lượng khác nhau cũng gây ra thương mạinội ngành theo chiều dọc, trường hợp Ý nhập khẩu quần áo chất lượng thấp nhưng lạixuất khẩu quần áo có chất lượng cao
Các nhà kinh tế học quốc tế đã bỏ ra nhiều công sức để phân rã thương mại nộingành thành theo chiều dọc và theo chiều ngang Đáng chú ý nhất là phương phápKandogan (2003) Ông lập luận rằng sự khác biệt giữa HIIT và VIIT dựa trên chấtlượng, được thể hiện bởi giá Do đó, ông đề xuất phương pháp phân rã thương mại nộingành thành VIIT và HIIT dựa trên kim ngạch xuất nhập khẩu tại các mức khác nhaucủa việc gộp mà không cần dữ liệu lượng xuất khẩu và nhập khẩu Mức gộp cao hơn
Trang 9xác định các ngành và mức gộp thấp hơn xác định các sản phẩm khác nhau trong mỗingành
Bằng cách sử dụng mức độ gộp cao hơn (tại cấp ngành), tổng thương mại nộingành (IIT) được tính bằng kim ngạch xuất khẩu tương xứng với nhập khẩu Thươngmại nội ngành theo chiều ngang được tính bằng kim ngạch thương mại tương xứngtrong mỗi sản phẩm của một ngành bằng cách sử dụng mức gộp thấp hơn (tại cấp sảnphẩm) Phần còn lại của thương mại nội ngành là thương mại nội ngành theo chiềudọc, là thương mại của các sản phẩm khác nhau hoặc các sản phẩm ở các giai đoạnkhác nhau trong một ngành Phần không tương xứng của tổng thương mại (TT) trongngành được coi là thương mại liên ngành (INT) Cụ thể như sau:
Tổng thương mại: TTi = ∑p(Xip + Mip) = Xi + MiThương mại nội ngành: IITi = TTi – |Xi – Mi|
Thương mại liên ngành: INTi = TTi – IITi
Thương mại nội ngành theo chiều ngang: HITi = ∑p (Xip + Mip - |Xip –Mip|)
Khi đó thương mại nội ngành theo chiều dọc: VIITi = IITi – HIITi
Trang 10CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI NỘI NGÀNH
CỦA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC CHÂU Á
2.1 Khái quát chung về tình hình thương mại nội ngành ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập toàn cầu có tácđộng rất lớn đối với nền kinh tế thế giới, đặc biệt tạo điều kiện cho thương mại quốc tếphát triển cả về bề rộng lẫn bề sâu Không nằm ngoài xu hướng này, Việt Nam vẫnđang tích cực mở rộng hợp tác quốc tế, tăng cường thương mại tự do giúp cho nềnkinh tế nội địa liên tục tăng trưởng Đóng góp vào sự phát triển đó không thể không kểđến vai trò to lớn của thương mại nội ngành
Trước hết ta tìm hiểu kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với một số nướcChâu Á tiêu biểu có tỷ trọng thương mại lớn trong giai đoạn 2011-2015 qua biểu đồdưới đây
Biểu đồ 2.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam với một số nước châu Á
năm 2011-2015
0 20000000000 40000000000 60000000000 80000000000 100000000000 120000000000
Xuất khẩu Nhập khẩu
Trang 11bị phụ thuộc nhiều vào các nước khác Trong số các đối tác kinh tế tiêu biểu thuộc khuvực Châu Á, Trung Quốc là thị trường xuất nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam Giá trịxuất nhập khẩu tại thị trường Trung Quốc cũng liên tục tăng mạnh qua các năm Kế đó
là thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan cũng có quan hệ thương mại tương đốisâu rộng với thị trường hàng hóa Việt Nam
Việt Nam thương mại với các nước khu vực Châu Á ở cả 10 nhóm ngành lớn Tỉtrọng thương mại nội ngành của mỗi nhóm hàng này thay đổi liên tục qua từng năm
Vì vậy, dưới đây là nghiên cứu tỉ trọng của các nhóm hàng này năm 2015 để thấy đượcmức độ thương mại nội ngành mới nhất của Việt Nam
Bảng 2.1 Giá trị xuất nhập khẩu của các nhóm hàng lớn của Việt Nam với các
nước châu Á năm 2015
6 - Hàng công nghiệp phân theo nguyên liệu 7929722804 29109092324
7 - Máy móc, phương tiện vận tải và phụtùng
17109646320 55302912133
Nguồn: UNSTAT
Trang 12Từ bảng trên, ta tính được chỉ số thương mại nội ngành cho các nhóm hàng lớnnhư sau:
Biểu đồ 2.2 Biểu đồ thương mại nội ngành các nhóm hàng lớn của Việt Nam với
các nước châu Á năm 2015
0 - Lương thực, thực phẩm và động vật sống
1- Đồ uống và thuốc lá
2 - Nguyên liệu thô, hàng phi lương thực, trừ nhiên liệu
3 - Nhiên liệu, dầu
mỡ nhờn
và vật liệu liên quan
4 - Dầu,
mỡ, sáp động thực vật
5 - Hoá chất và sản phẩm liên quan
6 - Hàng công nghiệp phân theo nguyên liệu
7 - Máy móc, phương tiện vận tải
và phụ tùng
8 - Hàng công nghiệp khác
9 - Hàng hóa không thuộc các nhóm trên
Trong các nhóm ngành nêu trên, hai nhóm ngành có mức độ thương mại nộingành cao nhất là SITC 2 và SITC 3 Tập trung phân tích hai nhóm ngành này để thểhiện thương mại Việt Nam không chỉ phát triển theo chiều rộng mà còn theo chiều sâu
Trang 132.2 Thương mại nội ngành nhóm hàng SITC 2 (Nguyên liệu thô, hàng phi lương thực, trừ nhiên liệu)
Theo thống kê của UNSTAT, nhóm hàng SITC 2 đại diện cho Nguyên liệu thô
(hàng phi lương thực, trừ nhiên liệu) Nhóm hàng này có chỉ số thương mại nội ngànhcao nhất trong các nhóm hàng thương mại lớn giữa Việt Nam và các nước châu Á năm
2015 (0,7438) SITC 2 bao gồm 9 nhóm hàng nhỏ với kim ngạch xuất nhập khẩu trongnăm 2015 như bảng dưới đây:
Bảng 2.2 Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với một số nước châu Á năm
2015 của nhóm hàng nhỏ trong SITC 2
26 - Sợi dệt (trừ len cuộn, len chải khác)
và phế liệu (không được sản xuất thành
27 - Phân bón thô, trừ các loại 56 và cáckhoáng chất thô (trừ than đá, dầu khí và
28 - Quặng kim loại và phế liệu kim loại 505,206,970 364,871,547
29 - Vật liệu động vật và thực vật thô 212,616,526 82,801,335
Nguồn: UNSTAT