Đề tài nghiên cứu bao gồm 4 chương: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lí luận Chương 3: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kì hội nhập
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
==========
TIỂU LUẬN KINH TẾ PHÁT TRIỂN
ĐỀ TÀI: PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG THỜI KÌ HỘI NHẬP QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn: PGS TS Vũ Hoàng Nam
Lớp tín chỉ: KTE406(1-1920).2 Nhóm sinh viên thực hiện: 9
Hà Nội - 09/2019
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
1 Tính cấp thiết của đề tài 5
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
2.1 Mục đích nghiên cứu 6
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
3.1 Đối tượng nghiên cứu 7
3.2 Phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Đóng góp của đề tài 8
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 10
1 Các công trình nghiên cứu trước đó liên quan đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 10
1.1 Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực trên thế giới 10
1.2 Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực ở trong nước 11
2 Các công trình nghiên cứu trước đó liên quan đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập quốc tế 13
3 Đóng góp của các công trình khoa học liên quan đến đề tài và những vấn đề đề tài cần tiếp tục nghiên cứu 15
3.1 Đóng góp của các công trình khoa học liên quan đến đề tài 15
3.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu 15
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN 16
1 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình hội nhập quốc tế 16
1.1 Khái niệm nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao 16
1.2 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 16
1.3 Khái niệm hội nhập quốc tế 16
2 Vai trò của phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế 16
3 Những yếu tố tác động đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình hội nhập quốc tế 17
4 Nội dung và tiêu chí phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình hội nhập quốc tế 17
Trang 34.1 Nội dung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 17
4.2 Tiêu chí đo lường phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 18
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG THỜI KÌ HỘI NHẬP QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM VÀ CÁC VẤN ĐỀ ĐẶT RA 19
1 Thực trạng nguồn nhân lực tại Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế 19
2 Lợi thế nguồn nhân lực của Việt Nam 21
3 Các thành tựu của Việt Nam liên quan tới phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 22
3.1 Về đào tạo 22
3.2 Về việc sử dụng nhân lực 22
3.3 Về năng suất lao động 23
4 Khó khăn, thách thức 23
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HIỆU QUẢ NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG THỜI KÌ HỘI NHẬP QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM 24
1 Quan điểm và mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kì hội nhập quốc tế tại Việt Nam 24
1.1 Quan điểm 24
1.2 Mục tiêu 24
2 Một số giải pháp chủ yếu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế 24
2.1 Nhóm giải pháp về nhận thức 24
2.2 Nhóm giải pháp về cơ chế, thể chế 24
2.3 Nhóm giải pháp về tuyên truyền, giáo dục 25
2.4 Nhóm giải pháp về tài chính 25
2.5 Nhóm giải pháp về hợp tác quốc tế 25
3 Một số khuyến nghị về vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế 26
3.1 Đối với Nhà nước 26
3.2 Đối với lãnh đạo các bộ, ban, ngành, địa phương 26
KẾT LUẬN 28
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Trong thế giới hiện đại, khi nền kinh tế đang chuyển dần theo hướng chủ yếudựa trên tri thức và trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, yếu tố nguồnnhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng thể hiện vai trò quyếtđịnh của nó Các lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăngtrưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: áp dụng công nghệmới, phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trong đóđộng lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là yếu tố conngười, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao Có thể thấy rõ các nước chú trọngđầu tư đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao như Singapore, Nhật Bản hay Mỹ đều lànhững nước có nền kinh tế phát triển đi đầu thế giới hiện nay
Hiện nay, Việt Nam đang trên đà hội nhập sâu rộng với quốc tế trên nhiều lĩnhvực, đánh dấu bằng việc trở thành thành viên chính thức của WTO (2006) hay việctham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN - AEC (2015) hay Hiệp định Đối tác xuyên TháiBình Dương – TPP (2016) Tuy nhiên, quá trình hội nhập của Việt Nam vẫn gặp nhiềukhó khăn do nền kinh tế vẫn dựa nhiều vào các ngành sử dụng lao động giá rẻ và khaithác tài nguyên thiên nhiên; trình độ của người lao động nói riêng và của cả nền kinh
tế nước ta nói chung còn lạc hậu Đây là một trong những thách thức lớn nhất khi đốidiện với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
Nhận thấy tính cấp thiết của vấn đề này, nhóm chúng tôi đã quyết định lựa chọn
đề tài “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kì hội nhập quốc tế tại
Việt Nam” Đề tài nghiên cứu bao gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lí luận
Chương 3: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kì
hội nhập quốc tế tại Việt Nam và các vấn đề đặt ra
Chương 4: Giải pháp phát triển hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao trong
thời kì hội nhập quốc tế tại Việt Nam
Trang 5Nghiên cứu sẽ tiến hành hệ thống hóa cơ sở lý luận về đào tạo nguồn nhân lựcchất lượng cao trong bối cảnh hội nhập quốc tế nhằm đưa ra một số giải pháp nâng caohiệu quả công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao áp dụng trong điều kiện thực
tế của Việt Nam
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử phát triển loài người đã chứng minh, con người đứng ở vị trí trung tâm,quyết định sự phát triển và tiến bộ xã hội C.Mác cho rằng con người là yếu tố số một
của lực lượng sản xuất Nhà tương lai Mỹ Avill Toffer thì đặc biệt nhấn mạnh vai trò
của nhân lực chất lượng cao, theo ông: “Tiền bạc tiêu mãi cũng hết, quyền lực rồi sẽmất; chỉ có trí tuệ của con người thì khi sử dụng không những không mất đi mà cònlớn lên” Truyền thống Việt Nam cũng xác định: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia,nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu
mà thấp hèn Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáodục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết
Bước vào thế kỷ XXI, hội nhập quốc tế trở thành một xu hướng chung của thờiđại lôi kéo các nước lớn nhỏ tham gia vào quá trình đó để tìm kiếm cơ hội cho sự pháttriển Mỗi nước đều có cách hội nhập riêng song kinh nghiệm của những nước đượcđánh giá là hội nhập hiệu quả, bền vững như: Mỹ, Nhật Bản, Singapore… cho chúng
ra thấy cái chìa khóa cho sự thành công ấy là họ biết đầu tư vào yếu tố con người, pháttriển nguồn nhân lực chất lượng cao, nguồn động lực mang tính quyết định đối với sựphát triển của đất nước trong điều kiện hội nhập Điển hình như Singapore, để trởthành một trong "bốn con hổ Ðông Á", là đầu mối trung chuyển thương mại và dịch vụcủa thế giới, họ đã luôn chú trọng xây dựng quốc đảo này thành "hòn đảo trí tuệ", nhấnmạnh vai trò quyết định của chất lượng nguồn nhân lực với quan điểm "nhân tài làmen ủ cho sự trỗi dậy của đất nước"
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006) đánh dấu bước đột phá trong quátrình hội nhập khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, mở đường chonhững bước hội nhập mạnh dạn hơn như tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN - AEC(2015) và Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương – TPP (2016) Hiện nay, ViệtNam hội nhập quốc tế ngày càng sâu và rộng, từ hội nhập kinh tế quốc tế sang hội
Trang 6thể hiện bản lĩnh trong việc đưa Việt Nam từng bước hội nhập vào cộng đồng quốc tế.
Quá trình hội nhập đã thực sự đem lại nhiều cơ hội cho sự phát triển kinh tế xã hội củađất nước nhưng đồng thời lại đan xen những nguy cơ, thử thách như áp lực cạnh tranhtăng gấp bội cùng nhiều thử thách về chính trị, an ninh, quốc phòng Để tận dụngđược thuận lợi, giảm thiểu và tránh được những tác động tiêu cực, việc phát triểnnguồn nhân lực chất lượng cao là một điều tất yếu Tuy nhiên, đây là một điểm nghẽnlớn mà Việt Nam đang phải đối mặt Đứng trước sự thay đổi nhanh chóng của tìnhhình trong nước và thế giới, khi hội nhập sâu và rộng vào cộng đồng quốc tế, nhiều tổchức, cá nhân tỏ ra lúng túng, thụ động
Quá trình hội nhập thời gian qua, tuy Việt Nam đã đạt được những thành tựubước đầu rất quan trọng song những thành tựu đó vẫn chủ yếu dựa vào lao động trình
độ thấp gắn với khai thác tài nguyên thiên nhiên, vay vốn và nhập dây truyền thiết bịbên ngoài Sự non kém trong công tác quản lí, trình độ chuyên môn chưa cao, kỹnăng thấp; sự trì trệ, khả năng thích ứng yếu; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị,đạo đức, lối sống; bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phítrong một bộ phận cán bộ, công chức đang đặt đất nước trước nguy cơ ô nhiễm môitrường, tụt hậu xa hơn về mọi mặt so với các nước trong khu vực và trên thế giới, vỡ
nợ hay Việt Nam có thể trở thành bãi rác của thế giới… Tất cả những điều đó đã đặt racâu hỏi như: Làm thế nào để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêucầu hội nhập quốc tế; Vì sao chất lượng nguồn nhân lực vẫn thấp, chưa đáp ứng đượcyêu cầu hội nhập; Phương hướng, giải pháp nào để phát triển nguồn nhân lực chấtlượng cao nhằm hội nhập quốc tế tốt hơn?
Từ sự cần thiết của đề tài, với mong muốn đi sâu nghiên cứu góp phần luận giải
những vấn đề nêu trên, chúng tôi đã quyết định lựa chọn đề tài “Phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao trong thời kì hội nhập quốc tế tại Việt Nam” làm đề tài
nghiên cứu trong bộ môn Kinh tế phát triển này
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài làm sáng tỏ vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Namtrong quá trình hội nhập quốc tế giai đoạn từ 2006 đến nay Từ đó, khuyến nghị một số
Trang 7phương hướng, giải pháp bổ sung, hoàn thiện chính sách của Nhà nước nhằm đẩy
mạnh phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong hội nhập quốc tế
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích này, đề tài thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến chủ đề;
- Xây dựng khung lý thuyết của đề tài bao gồm các khái niệm, đặc điểm, các yếu
tố tác động và vai trò của phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình hộinhập quốc tế;
- Đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trìnhhội nhập quốc tế, xác định những vấn đề tồn tại cần giải quyết;
- Đề xuất những phương hướng, giải pháp có tính khả thi nhằm đẩy mạnh pháttriển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình hội nhập quốc tế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trongquá trình hội nhập quốc tế Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi chủ yếu tập trungphân tích quá trình phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam và chính sách, cơ chế tácđộng đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình hội nhập quốc tế
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Về không gian
Đề tài nghiên cứu việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trên phạm vi cảnước; có nghiên cứu kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của một sốquốc gia khác
3.2.2 Về thời gian
Đề tài nghiên cứu quá trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở ViệtNam chủ yếu từ năm 2006 (Việt Nam gia nhập WTO) đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
Trang 8 Phương pháp logic - lịch sử: Phương pháp này cho phép nhóm nghiên cứuphản ánh một cách trung thực tiến trình phát triển nguồn nhân lực chấtlượng cao trong quá trình hội nhập quốc tế đồng thời khái quát hóa tiếntrình đó để rút ra được những kết luận mang tính bản chất phục vụ cho quátrình nghiên cứu.
Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng để phân tích, tổng hợpnhững vấn đề về phương thức phát huy quyền lực, nội dung chính sách vàquá trình hiện thực hóa những chính sách nhằm phát triển nguồn nhân lựcchất lượng cao đáp ứng quá trình hội nhập quốc tế
Phương pháp thống kê để tập hợp các số liệu, như: số lượng nguồn nhânlực chất lượng cao, số lượng sinh viên cao đẳng, đại học qua các năm, sốlượng nguồn nhân lực chất lượng cao được thu hút về các tỉnh/thành, cácchỉ số đo lường phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Phương pháp so sánh, đối chiếu được sử dụng để hỗ trợ cho việc đánh giáquá trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam so vớinhững nội dung và tiêu chí đã đề ra và so với quá trình phát triển nguồnnhân lực chất lượng cao mà các quốc gia khác đã và đang thực hiện
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp phân tíchđịnh tính, phân tích định lượng, phân tích quyền lực, phân tích cấu trúc-hệ thống
5 Đóng góp của đề tài
Đề tài nghiên cứu “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kì hội
nhập quốc tế tại Việt Nam” có một số đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn sau đây:
- Góp phần làm phong phú thêm những vấn đề lý luận về phát triển nguồn nhânlực chất lượng cao trong quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế dưới góc nhìn phát triểnbền vững
- Góp thêm một góc độ nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
trong quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế; đề xuất những phương hướng, giải pháp đểphát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu hội nhập
Trang 9- Thực hiện việc khảo cứu, đánh giá tương đối toàn diện chính sách về phát triểnnguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế từ 2006 đếnnay.
- Bổ sung vào hệ thống tư liệu nghiên cứu của Việt Nam về phát triển nguồnnhân lực chất lượng cao nói chung và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trongquá trình hội nhập quốc tế nói riêng
- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm bổ sung, hoàn thiện đường lối,chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để Việt Nam hội nhập sâu, rộng vàhiệu quả hơn nữa vào cộng đồng quốc tế
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1 Các công trình nghiên cứu trước đó liên quan đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
1.1 Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực trên thế giới
Các khái niệm “vốn con người” (Human capital) và “nguồn lực con người”
(Human resources) đã xuất hiện ở Hoa Kì bởi nhà kinh tế học người Mĩ - TheodorSchoultz vào những năm cuối thập kỉ 60 của thế kỉ XX; sau đó, vào những năm 70, 80của thế kỉ XX được phát triển tiếp nối bởi nhà kinh tế người Mĩ Gary Backer (Nobelkinh tế năm 1992), khi nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên Ông giải quyết vấn
đề với tư cách là phát triển nguồn nhân lực của từng lĩnh vực, từng ngành riêng biệt,nội dung và cách giải quyết vấn đề có sự khác nhau về mức độ và phụ thuộc vào điềukiện thực tế của mỗi quốc gia và của mỗi một giai đoạn lịch sử cụ thể
Nhà xã hội học người Mĩ Leonard Nadle vào năm 1980 đã đưa ra sơ đồ quản líquản lý nguồn nhân lực để mô tả mối quan hệ và các nhiệm vụ của công tác quản lýnguồn nhân lực Theo ông, quản lý nguồn nhân lực gồm có 3 nhiệm vụ chính là: - Pháttriển nguồn nhân lực (GD-ĐT, bồi dưỡng, phát triển, nghiên cứu, phục vụ); - Sử dụngnguồn nhân lực (tuyển dụng, sàng lọc, bố trí, đánh giá, đãi ngộ, kế hoạch hoá sức laođộng); - Môi trường nguồn nhân lực (mở rộng chủng loại việc làm, mở rộng quy môlàm việc, phát triển tổ chức) Kết quả nghiên cứu của Leonard Nadle đã được nhiềunước trên thế giới sử dụng vào việc phát triển nhân lực Christian Batal (Pháp) trong
bộ sách “Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước” cũng đã khai thác theo
hướng này, ông đưa ra một sơ đồ quản lý nguồn nhân lực sẽ xác định một tổng thểthống nhất các quyết định trong các lĩnh vực: đào tạo, tuyển dụng; quản lý điều động,các hoạt động điều hành; tổ chức lao động; giao tiếp nội bộ; xây dựng danh mục côngviệc và năng lực; tổ chức hệ thống quản lý nguồn nhân lực và phân chia nhiệm vụ giữacác chủ thể trong tổ chức, các công cụ cần xây dựng, cần áp dụng, các phương thức trảlương; tổ chức lao động và phát triển năng lực; quan hệ xã hội; tổ chức các phươngthức quản lý; điều kiện làm việc và chất lượng cuộc sống lao động và an toàn lao động
và các vấn đề y tế Khi nghiên cứu, Christian Batal đã sử dụng kết quả nghiên cứu củacác khoa học khác như: giáo dục học, dự báo, dân số học, toán học để đưa ra
Trang 11một bức tranh hoàn chỉnh của nhiệm vụ quản lý phát triển nguồn nhân lực, bao gồm từkhâu kiểm kê, đánh giá đến nâng cao năng lực, hiệu lực của nguồn nhân lực.
Okuhina Yasuhiro (1994) trong cuốn “Chính trị và kinh tế Nhật Bản” đã nêu
những vấn đề cơ bản về nhân tài; chính sách trong công tác cán bộ, phát triển nhân tài;
phân tích những kinh nghiệm trong việc đánh giá và luân chuyển cán bộ, phát huyngười tài của Nhật Bản trên cơ sở đặc điểm xã hội Nhật Bản; nhấn mạnh việc cố gắngbảo tồn và phát huy yếu tố truyền thống dân tộc; thực hiện chế độ đào tạo, quản lý cán
bộ, công chức trong các cơ quan công quyền, chú trọng xây dựng các phẩm chất, đặcbiệt là phẩm chất trung thành của cán bộ; bảo đảm chế độ chính sách và tiền lương chocán bộ yên tâm cống hiến
Ở Singapore, “Tuyển 40 năm chính luận của Lý Quang Diệu” (1994) đã khẳng
định rõ những tư tưởng của Lý Quang Diệu về trọng dụng nhân tài đất nước, tầm quantrọng của nhân tài, vai trò của GD-ĐT đối với sự phát triển nguồn nhân lực, đào tạonhân tài, đặc biệt nhấn mạnh “chế độ Singapore thực hành là chế độ trọng dụng nhântài”, coi việc biết đào tạo và dùng người tài là bí quyết thành công của Singapore trongphát triển nhân lực bậc cao, phát triển nhân tài của Singapore
Ở Hàn Quốc, Jang Ho Kim (2005) trong cuốn “Khung mẫu mới về phát triển
nguồn nhân lực các sáng kiến của chính phủ để phát triển kinh tế để hội nhập xã hội tại Hàn Quốc”đã đề cập các thách thức KT-XH trong phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao tại Hàn Quốc; khẳng định vai trò to lớn của nguồn nhân lực chất lượng caokhả năng cạnh tranh nguồn nhân lực của đất nước; đưa ra định hướng phát triển; đặcbiệt đã đưa ra và phân tích các vấn đề GD-ĐT nghề, kết hợp đào tạo với nghiên cứu vàphát triển, những vấn đề về xây dựng xã hội học tập ở Hàn Quốc
1.2 Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực ở trong nước
Khi bàn về những vấn đề lí luận chung phát triển nguồn nhân lực và nhân lựcchất lượng cao, các nhà nghiên cứu đã có sự đồng thuận về cơ bản, nhưng ở những góc
độ cụ thể thì vẫn còn có những nhận thức khác nhau
Trang 12Về khái niệm nguồn nhân lực, có nghiên cứu của một số nhà khoa học tiêu biểunhư Hoàng Chí Bảo (1992), Phạm Minh Hạc (1996), Đoàn Văn Khái (2000), Lê ThịNgân (2001), Lê Thị Hồng Điệp (2012)
Trong hầu hết các công trình nghiên cứu, thực trạng phát triển nguồn nhân lựcchất lượng cao ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề được nhiều tổ chức, cá nhân nhàkhoa học quan tâm nghiên cứu, điển hình như Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam (2011), Nguyễn Văn Khánh và Hoàng Thu Hương (2010), NguyễnXuân Ba (2005), Lê Xuân Bá, Lương Thị Minh Anh (2005), Phùng Đức Chiến (2008),Phạm Đức Chính (2008), Nguyễn Hữu Dũng (2002), Nguyễn Anh Tuấn (2008), ĐứcVượng (2012)
Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao cũng được nhiều nhà khoa học trongnước đi sâu phân tích như: Hồ Chí Minh và sau đó là PGS Đàm Đức Vượng, GS.TSPhạm Tất Dong, TS Nguyễn Đắc Hưng
Đã có nhiều nghiên cứu trong nước về nguồn nhân sự chất lượng cao như tácgiả Phạm Minh Hạc với Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đạihóa Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996 Một số nhà khoa học TS Tiến sĩ
Hồ Bá Thâm (2014), Lương Công Lý (2014), Phạm Thị Trúc Quỳnh (2015), TS TriệuVăn Cường và PGS.TS Nguyễn Minh Phương (2016), GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn(2003), GS.TS Nguyễn Văn Khánh (2010)
Qua khảo cứu, chúng ta thấy có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra những giảipháp để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, dưới các góc độ kinh tế học, kinh tếphát triển, quản lý nhân lực, triết học Điển hình là các nhà khoa học: GS.TS PhạmMinh Hạc (2007), GS.TS Nguyễn Văn Khánh (2010), Lưu Đức Hải (2015), LưuQuang Hùng (2011), Lương Công Lý (2014), Nguyễn Ngọc Quỳnh (2015)
Phát triển nguồn nhân lực cũng được nhiều tác giả bàn đến như: Lê Thị Ái Lâm(2003), Vũ Văn Phúc, Nguyễn Duy Hùng (2012), Vũ Trường Giang (2011), Cảnh ChíHoàng, Trần Vĩnh Hoàng (2013)
Nghiên cứu của hai tác giả Trần Văn Tùng và Lê Ái Lâm trong cuốn sách: Phát
triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta Nhà xuất bản Chính
trị Quốc Gia, Hà Nội 1996 Các tác giả đã giới thiệu kinh nghiệm phát triển nguồn
Trang 13nhân lực của một số quốc gia trên thế giới, tập trung nghiên cứu lĩnh vực giáo dục đàotạo, yếu tố quyết định phát triển nguồn nhân lực và một số kinh nghiệm trong lĩnh vựcnày của nước ta.
Viện Phát triển giáo dục, 2002: Từ chiến lược phát triển giáo dục đến chính sách
phát triển nguồn nhân lực Cuốn sách đã tập hợp kết quả nghiên cứu của các nhà khoa
học và các nhà quản lý ở nhiều lĩnh vực khoa học kinh tế và xã hội khác nhau với mụctiêu thống nhất quan điểm, chính sách về phát triển nguồn nhân lực Đồng thời đề xuấtmột khung chính sách phát triển nguồn nhân lực nhằm triển khai thành công các mụctiêu đề ra trong chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo
"Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo: Kinh nghiệm Đông
Á" của Viện kinh tế thế giới, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội (2003) Cuốn sách đã giới
thiệu các thành tựu đạt được của nhóm nước trong khu vực trong phát triển nhân lựcthông qua giáo dục đào
Cuốn sách “Quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam, một số vấn đề lý luận và thực
tiễn” của Phạm Thành Nghị, Vũ Hoàng Ngân Nhà XB Khoa học Xã hội, Hà Nội năm
2004 Cuốn sách là tập hợp các bài nghiên cứu, bài viết, bài tham luận tại Hội thảo của
đề tài KX.05.11 thuộc chương trình Khoa học Công nghệ cấp nhà nước KX.05 (giaiđoạn 2001-2005), với các vấn đề lý luận, kinh nghiệm và những khuyến nghị thiếtthực trong quản lý nguồn nhân lực của Việt Nam
Một số tài liệu tham khảo tốt về cơ sở lý luận đào tạo và phát triển nguồn nhân
lực có thể kể đến luận án Tiến sỹ của Phan Thủy Chi (2008) "Đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực của các trường Đại học khối Kinh tế Việt Nam thông qua các chương trình hợp tác đào tạo Quốc tế" và “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế” (Nguyễn Văn Thành, 2008)
Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu nêu trên, chúng tôi đã có thêm cáinhìn toàn diện, đúng đắn hơn để hoàn thiện đề tài dưới góc độ nghiên cứu riêng củamình
Trang 142 Các công trình nghiên cứu trước đó liên quan đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Về sự đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao trước sự thay đổi của hội nhập,khoa học công nghệ, có nhiều tác giả phân tích Nhiều nhà nghiên cứu đã có nhữngphân tích về vấn đề này như: Alvin Toffler (1980), Ying Zhu (2004),Barry A Friedman (2007), Eric Schmidt - Jared Cohen (2015)…
Quá trình hội nhập ở Việt Nam diễn ra mạnh mẽ từ 2006 đến này gắn với sự gianhập các tổ chức quốc tế như WTO, AEC, TPP… Trong mỗi bước chuyển là một lần
xuất hiện những yêu cầu mới về nguồn nhân lực Đề cập đến vấn đề này là các công
trình của: Nguyễn Tiệp (2005), PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, ThS Trần Đức Thắng(2015), Ngọc Lê (2015), Tùng Lâm (2015), PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng (2015)…
Bàn về vai trò của phát triển nguồn nhân lực đến hội nhập quốc tế có sự góp mặtcủa Michael Marquardt, Nancy O Berger (2003) Quá trình hội nhập quốc tế đòi hỏinguồn nhân lực chất lượng cao phải giỏi về chuyên môn, kỹ năng tin học, ngoại ngữ,khả năng thích ứng với văn hóa và luật pháp quốc tế Nói cách khác, họi phải là nhữngcông dân toàn cầu với cách tư duy mới, sáng tạo và hiệu quả hơn Bàn sâu và hấp dẫn
về điều đó là các nghiên cứu của Rowan Gibson, Charles Handy, Philip Kotler,Michael Porter, Lester Thurow (2006), Mark Gerzon (2011), TS Hồ Bá Thâm, ThS
Nguyễn Thị Hồng Diễm (2011), PGS.TS Vũ Văn Phúc, TS Nguyễn Duy Hùng(2012)…
Về quản lý, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình hội nhậpquốc tế, nhiều tác giả đã có sự phân tích sâu sắc để đưa ra những giải pháp đầy thuyếtphục như Randall S Schuler, Susan E Jackson and Ibraiz Tarique (2011), TS PhạmThái Việt (2008), Võ Thị Kim Loan (2014)…
Malek Shah Bin Mohd Yusoff (2010) trong “Toàn cầu hóa và Phát triển nguồn
nhân lực trong dịch vụ công của Malaysia” đã khẳng định rằng nguồn nhân lực chất
lượng cao là cần thiết để tăng khả năng cạnh tranh của nước này trong bối cảnh hộinhập Thực tế đã cho thấy cả khu vực tư và công của nước này đã và đang thực hiệncác chiến lược nhằm phát triển mạnh mẽ nguồn nhân lực
Trang 15“Những thách thức của toàn cầu hóa và vai trò của nguồn nhân lực” (Arshad
Husain, 2010) cho rằng một trong những đặc trưng của toàn cầu hóa là dòng chảynguồn nhân lực tự do xuyên qua các biên giới quốc gia Bài viết cũng đưa ra các giảipháp để giải quyết sự cạnh tranh mạnh mẽ của toàn cầu hóa Một trong số đó lấy yếu
tố con người làm chìa khóa, mục tiêu chính của tác phẩm là trình bày một khung kháiniệm để quản lý hiệu quả nguồn nhân lực như là một phản ứng đối với sự tương tácngày càng tăng của toàn cầu hóa nhằm quản lý nhân viên sao cho giành được nhữnglợi thế cạnh tranh hiệu quả nhất
3 Đóng góp của các công trình khoa học liên quan đến đề tài và những vấn đề đề tài cần tiếp tục nghiên cứu
3.1 Đóng góp của các công trình khoa học liên quan đến đề tài
Những công trình khoa học nêu trên đã có những đóng góp quan trọng về mặt líluận và thực tiễn về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triểnnguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, trước những tác động của nền kinh tế tri thức, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
3.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Thông qua những vấn đề lí luận và thực tiễn phát triển nguồn nhân lực chấtlượng cao, những đóng góp của các công trình có liên quan đã thực sự gợi mở và định
hướng cho nhóm nghiên cứu có những tìm hiểu mới về “Phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao trong thời kì hội nhập quốc tế tại Việt Nam” dưới góc nhìn của kinh
tế phát triển