1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Tiểu luận FTU) phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở việt nam trong điều kiện cuộc cách mạng công nghiệp 4 0

38 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Nguồn Nhân Lực Chất Lượng Cao Ở Việt Nam Trong Điều Kiện Cuộc Cách Mạng Công Nghiệp 4.0
Tác giả Nhóm 1
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thu Thủy
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Khoa Lý Luận Chính Trị
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 297,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao trong điều kiện cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0:  Những tiêu chí cơ bản của nhân lực chất lượng cao có thể khái quát như sau: văn hoá,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU:

Cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên xuất phát từ thế kỷ 18 khi người tabiết dùng hơi nước và máy móc để thay cho sức người, sau đó đến lượt điện - dâychuyền sản xuất và các mô hình sản xuất quy mô lớn ra đời tạo nên cuộc cáchmạng thứ 2 Khi máy tính ra đời vào những năm 1970, bắt đầu cho một loạt thayđổi về cách người ta xử lý thông tin và tự động hóa bằng robot, cuộc cách mạngthứ 3 được xướng tên Và bây giờ, chúng ta có cuộc cách mạng công nghiệp 4.0,hay còn gọi là Industry 4.0 Industry 4.0 như là một "nhà máy thông minh", mô tả

về một môi trường mà máy tính tự động hóa và con người nói chung sẽ cùng nhaulàm việc theo một cách hoàn toàn mới Những con robot hay máy móc này sẽ đượckết nối vào những hệ thống máy tính mà sử dụng thuật toán machine learning đểhọc hỏi và điều khiển máy móc vì vậy cần rất ít hoặc thậm chí là không cần sự canthiệp nào từ con người Trước yêu cầu của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0,doanh nghiệp cần sẵn sàng thoát khỏi thị trường nội địa, cạnh tranh với thươnghiệu toàn cầu bằng lực lượng lao động mới, có chất lượng quốc tế Điều đó dẫn đếnnhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng gia tăng và biến bài toán pháttriển nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành một bài toán cấp thiết Tuy nhiên,việc thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, năng suất lao động thấp đang là vấn

đề thách thức của Việt Nam để sẵn sàng cho một giai đoạn mới dựa trên nền tảngkhoa học công nghiệp 4.0 Chính phủ cần làm gì? Mỗi người lao động cần làm

gì? Đó là lý do khiến nhóm nghiên cứu đề tài: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam trong điều kiện cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0”.

Trang 3

 Bản chất của CMCN lần thứ 4 là dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợptất cả các công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức sảnxuất; nhấn mạnh những công nghệ đang và sẽ có tác động lớn nhất là côngnghệ in 3D, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự độnghóa, người máy,

1.1.2 Cơ hội – Thách thức cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 mang lại cho thị trường lao động:

 Cơ hội :

+ Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có sự tác động mạnh mẽ trên nhiềulĩnh vực, với sự xuất hiện của robot có trí tuệ nhân tạo, người máy làmviệc thông minh, có khả năng ghi nhớ, học hỏi vô biên, trong khi khả

Trang 4

năng đó ở con người thường chỉ có trong thời gian giới hạn Chính vìvậy, việc các công nghệ cao và máy móc thông minh sẽ tạo cơ hội chocon người làm việc và hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn bằng cách tậndụng những lợi thế mà cuộc cách mạng công nghệ 4.0 mang lại.

+ Cách mạng 4.0 có tiềm năng đem lại nhiều lợi ích cho người lao độngthông qua việc: tăng năng suất lao động từ đó tăng mức thu nhập; cảithiện chất lượng cuộc sống thông qua những sản phẩm giải trí và dịch vụmới; mở cửa thị trường lao động thông qua việc cắt giảm chi phí đi lại,vận chuyển và tạo ra những việc làm mới

 Thách thức :

+ Cách mạng 4.0 có khả năng phá vỡ thị trường lao động Khi tự động hóathay thế cho người lao động trong toàn bộ nền kinh tế, sự thay thế ròngngười lao động bằng máy móc có thể làm trầm trọng thêm sự chênh lệchgiữa lợi nhuận so với vốn đầu tư và lợi nhuận so với sức lao động Đồngthời, nó làm phát sinh một thị trường việc làm ngày càng tách biệt thànhcác mảng "kỹ năng thấp/lương thấp" và "kỹ năng cao/lương cao", do đó

sẽ dẫn đến sự gia tăng bức xúc xã hội Điều này đòi hỏi con người cầnphải không ngừng trau dồi bản thân, khiến mình đứng ở vị trí cao hơn,

có thể điều khiển được máy móc một cách thông minh và hợp lí thì mớikhông bị đào thải giữa rất nhiều công nghệ tiên tiến hiện nay.Cách mạngcông nghiệp 4.0 cũng đặt ra các yêu cầu mới đối với mỗi quốc gia, mỗi

cá nhân Buộc tất cả mọi người phải thay đổi để thích nghi, phù hợp với

sự phát triển

1.2.Nguồn nhân lực chất lượng cao:

1.2.1 Khái niệm:

Trang 5

 Nguồn nhân lực chất lượng cao có thể hiểu là một bộ phận đặc biệt , kết tinhnhững gì tinh túy nhất của nguồn nhân lực Đó là lực lượng lao động có khảnăng đáp ứng nhu cầu cao của thực tiễn Họ được đặc trưng bởi trình độ họcvấn và chuyên môn cao có khả năng nhận thức tiếp thu nhanh chóng nhữngkiến thức mới, có năng lực sáng tạo, biết vận dụng thành tựu khoa học vàcông nghệ vào thực tiễn Họ có phẩm chất công dân tốt, có đạo đức nghềnghiệp và đem lại năng suất, chất lượng hiệu quả lao động cao hơn hẳn sovới nguồn nhân lực lao động phổ thông.

1.2.2 Các tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao trong điều kiện cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0:

 Những tiêu chí cơ bản của nhân lực chất lượng cao có thể khái quát như sau:

văn hoá, văn hoá nghề nghiệp, đạo đức, nhân cách, trách nhiệm xã hội, ýthức công dân; năng lực tư duy sáng tạo; năng lực tri thức chuyên môn; nănglực thực hành; kỹ năng mềm

 Đối với cá nhân (người lao động) với tư cách là nhân lực chất lượng cao khi

có tổng hợp hữu cơ những tiêu chí cơ bản nêu trên của nhân lực: văn hoá,đạo đức, nhân cách cao; năng lực tri thức chuyên môn cao; năng lực tư duysáng tạo cao; năng lực thực hành cao; kỹ năng mềm phong phú, hiệu quả

 Đối với một đơn vị, ngành, lĩnh vực hay quốc gia, thì nguồn nhân lực chấtlượng cao không chỉ bao gồm những cá nhân người lao động chất lượng cao,

mà còn phải được thể hiện ở sự hợp lý, hiệu quả về số lượng nhân lực chấtlượng cao, về chất lượng nhân lực chất lượng cao, về cơ cấu nhân lực hợp lý(cơ cấu trình độ, ngành nghề, vùng miền), về mức độ đáp ứng (và hiệu quả

sử dụng) nhân lực đối với yêu cầu phát triển của đơn vị, ngành, hay của cảđất nước

Trang 6

1.2.3 Một số lý thuyết về vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời đại Công nghiệp 4.0:

 Nhân lực chất lượng cao là điều kiện quyết định đến trình độ phát triển kinh

tế - xã hội của mọi quốc gia Nguồn nhân lực chất lượng cao giúp tiếp cậnnhanh nhất với những công nghệ, tri thức mới Ứng dụng nhanh và hiệu quảnhững công nghệ và tri thức mới vào hoạt động sản xuất kinh doanh

 Nhân lực chất lượng cao là điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện nhữngbước nhảy vọt và rút ngắn khoảng cách tụt hậu về kinh tế, lạc hậu về khoahọc công nghệ Nâng cao năng suất lao động nhờ kỹ năng, kiến thức và kinhnghiệm của nhân lực chất lượng cao: với khả năng của mình, nhân lực chấtlượng có thể thực hiện những công việc được giao một cách hiệu quả nhất,sáng tạo, tìm tòi ra cách làm mới, sản phẩm mới,…

2 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay:

2.1.Tổng quan về sự phát triển và hội nhập của Việt Nam trong điều kiện Cáchmạng 4.0:

 Qua 30 năm đổi mới, Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn quan trọng

về phát triển kinh tế -xã hội, tích cực chủ động hội nhập quốc tế, hiện naynước ta cũng không nằm ngoài quỹ đạo chung của thế giới, tham gia và chịutác động của Cách mạng công nghiệp 4.0, điều này tạo ra những cơ hội, thời

cơ và khó khăn, thách thức đối với Việt Nam trong quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước Sự phát triển trong quá trình đổi mới cũng tạo ranhững tiền đề quan trọng để Việt Nam tiếp cận, triển khai cuộc cách mạngcông nghiệp này

Trang 7

 Theo đánh giá của Công ty kiểm toán Grant Thornton, thời gian qua, ViệtNam nhanh chóng trở thành lựa chọn cho việc thiết lập cơ sở của nhiềudoanh nghiệp khi họ muốn mở rộng sản xuất ở nước ngoài, với ưu thế về lựclượng lao động rẻ, khoảng cách gần với các chuỗi cung ứng đặt tại châu Á.

Hơn nữa, do đặc điểm của Cách mạng công nghiệp 4.0 là không phụ thuộcchủ yếu vào máy móc, thiết bị mà tùy thuộc nhiều vào khả năng và trí tuệcủa con người, năng lực sáng tạo nên Việt Nam có thể tận dụng ưu thế củanước đi sau, với dân số vàng (số lao động tuổi trẻ chiếm chủ yếu), số người

sử dụng điện thoại thông minh, internet chiếm tỷ lệ cao của khu vực, mặtkhác Nhà nước, Chính phủ Việt Nam quan tâm, triển khai các nội dung đểnắm bắt và ứng dụng các thành tựu, và hạn chế thách thức khó khăn củacuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 tại Việt Nam trong việc phát triển kinh tế -

xã hội

 Bên cạnh thuận lợi, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều khó khăn vàthách thức nghiêm trọng như: trong khi thế giới đang tiến vào cuộc cáchmạng công nghiệp lần thứ tư, thì Việt Nam vẫn chủ yếu ở giai đoạn 2 tứcthực hiện dây chuyền gia công, lắp ráp Theo thống kê 97% doanh nghiệpViệt Nam hiện nay thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa, năng suất lao động

và năng lực cạnh tranh còn thấp., trình độ khoa học công nghệ, nhất là chấtlượng nguồn nhân lực còn rất hạn chế

 Trong xu thế của cách mạng công nghiệp 4.0, lực lượng lao động giá rẻkhông còn là lợi thế của Việt Nam Phần lớn lao động Việt Nam chưa đượcđào tạo bài bản, năng lực lý thuyết và tay nghề còn hạn chế nhất là kiến thứcchuyên môn, ngoại ngữ tiếng Anh để giao tiếp làm việc Đây là thách thứclớn đối với doanh nghiệp Việt Nam khi bước vào cuộc cách mạng côngnghiệp 4.0 với nguồn nhân lực chưa được chuẩn bị đầy đủ, đặc biệt nền tảng

Trang 8

công nghệ cao còn hạn chế, sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, thiếu liên kết Dovậy về lâu dài Nhà nước cần xây dựng chiến lược và chính sách công nghiệpphù hợp để nắm bắt kịp xu thế toàn cầu, không để "lỡ tàu" một lần nữa.

2.2.Phân tích thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam:

2.2.1 Cung lao động:

 Cung lao động là lượng hàng hóa sức lao động mà người bán muốn bán trênthị trường ở mỗi mức giá có thể chấp nhận được

 Về số lượng nguồn lao động:

Dân số hiện tại của Việt Nam là 96.377.983 người vào ngày 18/05/2018theo số liệu mới nhất từ Liên Hợp Quốc (Nguồn: https://danso.org/viet-nam/) Con số này ảnh hưởng rất lớn đến lực lượng lao động nước ta ViệtNam hiện có một đội ngũ nhân lực khá dồi dào so với nhiều nước trong khuvực và trên thế giới Hiện nay, nước ta có trên 49,2 triệu người trong độ tuổilao động trên tổng số 85,79 triệu người (chiếm 57,3%), đứng thứ 3 ở ĐôngNam Á (sau In-đô-nê-xi-a và Phi-líp-pin) và đứng thứ 13 trên thế giới vềquy mô dân số Số người trong độ tuổi từ 20 đến 39 khoảng 30 triệu người,chiếm 35% tổng dân số và chiếm 61% lực lượng lao động, đây là lực lượng

có thể tham gia xuất khẩu lao động Sức trẻ là đặc điểm nổi trội, là tiềm năngnguồn nhân lực Việt Nam, là yếu tố rất thuận cho việc tuyển chọn lao đông

đi làm việc ở nước ngoài

 Về chất lượng nguồn lao động:

Trong tổng số 49,2 triệu người trong độ tuổi lao động, chỉ có 7,3 triệu người

đã được đào tạo, chiếm 14,9% lực lượng lao động Trong số những ngườiđang theo học ở các trường chuyên nghiệp trên toàn quốc thì tỷ lệ ngườiđang theo học trình độ sơ cấp là 1,7%, trung cấp 20,5, cao đẳng 24,5% và

Trang 9

Đại học trở lên là 53,3% Tỷ trọng lao động đã qua đào tạo ở nước ta rấtthấp, cụ thể là 86,7% dân số trong độ tuổi lao động chưa được đào tạochuyên môn, kỹ thuật, đáng chú ý hơn là khu vực nông thôn, nơi phần lớnngười lao động có nguyện vọng đi làm việc ở nước ngoài thì tỷ lệ lao độngchưa được đào tạo chiếm 92% Như vậy, đội ngũ lao động của ta trẻ và dồidào nhưng chưa được trang bị chuyên môn, kỹ thuật Hiện cả nước có hơn41,8 triệu lao động, chiếm 85,1% lực lượng lao động chưa được đào tạo đểđạt một trình trình độ chuyên môn, kỹ thuật nào đó.

→ Nguồn lao động nước ta rất dồi dào nhưng cung lao động chất lượng cao thì cònnhiều hạn chế

mà máy móc không thể có như khả năng lãnh đạo, làm chủ doanh nghiệp

 Theo khảo sát lương hàng năm vừa được công bố bởi Công ty tư vấn tuyểndụng nhân sự cấp cao Robert Walters: Nhu cầu tìm kiếm ứng viên có chuyênmôn kỹ thuật cao đang có xu hướng tăng lên, nên mức lương dành cho nhân

sự thay đổi công việc trong năm 2018 dự kiến sẽ tăng khoảng 20% Cácnhân viên hiện tại có thể kỳ vọng mức tăng khoảng 10% theo như quy trìnhđánh giá lương hàng năm

Trang 10

 “Ở Việt Nam, số hoá tiếp tục là ưu tiên hàng đầu ở hầu hết các ngành nghề,thực tế này thúc đẩy nhu cầu tuyển dụng các chuyên gia công nghệ thông tin

am hiểu vể điện toán đám mây, an toàn thông tin và thiết kế ứng dụng”,Công ty tư vấn tuyển dụng nhân sự cấp cao Robert Walters dự báo

 Khảo sát của Robert Walters cũng đưa ra những dự đoán tích cực cho năm

2018 và khẳng định rằng: Triển vọng tăng trưởng kinh tế của khu vực ĐôngNam Á với sự bùng nổ số hoá và sự ổn định của thị trường là những yếu tốthúc đẩy gia tăng mức lương trong năm 2018 “Các ứng viên trong nướcnắm vững kỹ thuật chuyên môn, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin

và có kinh nghiệm làm việc trong môi trường quốc tế sẽ được săn đón”,nghiên cứu của Robert Walters nhận định

 Ông Toby Fowlston, Giám đốc điều hành khu vực Đông Nam Á của RobertWalters cho biết: Xu hướng số hóa tràn qua khu vực đã thôi thúc nhiềudoanh nghiệp tạo ra nền tảng di động trực tuyến, nhằm gia tăng thị phần vànâng cao khả năng cạnh tranh Sự chuyển đổi này đặt ra nhu cầu về nguồnnhân lực am hiểu về số hóa trong lĩnh vực tiếp thị và công nghệ thông tin,đặc biệt là những người thành thạo trong việc sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật

số hoặc có kỹ năng công nghệ đặc thù

 “Nhu cầu tuyển dụng các chuyên gia công nghệ thông tin trong lĩnh vực điệntoán đám mây, an ninh mạng và big data cũng được ghi nhận là tăng mạnhtrong năm 2017 và xu hướng tiếp tục diễn ra trong năm 2018, vì các tiểungành công nghệ thông tin này đã trở thành các lĩnh vực tăng trưởng chínhhiện nay", Ông Fowlston phân tích

CHƯƠNG II:

Trang 11

ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0

1 Đường lối của Đảng về việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam trong 3 cuộc Cách mạng trước đây:

1.1.Đường lối của Đảng:

1.1.1 Trước thời kỳ Đổi mới:

Đây là thời kỳ cả dân tộc phải gồng mình chiến đấu với giặc ngoại xâm đểgiữ nước Hoàn cảnh khắc nghiệt, khó khăn chồng chất nhưng Đảng vẫn có nhữngnhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của nguồn nhân lực với vận mệnh của quốcgia trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc

 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời Ngay từ cương lĩnh chính trị đầutiên của Đảng, Đảng đã xác định một trong những nhiệm vụ cơ bản đầu tiêncủa cách mạng Việt Nam đó là phát triển con người – phổ thông giáo dụctheo công nông hóa mặc dù thời kỳ này chiến tranh đang trên đà lan rộng,hoàn cảnh đất nước vô cùng khó khăn

 Giai đoạn 1930-1945:

+ 1930-1939: Trước tình hình bị thực dân Pháp khủng bố ác liệt, Đảng Cộngsản Đông Dương đã đề ra những yêu cầu về giáo dục từng giai cấp và tầnglớp nhân dân: giáo dục đảng viên về tư tưởng chính trị, rèn luyện đảng viênqua đấu tranh cách mạng

+ 1939-1945: Trong chỉ đạo chuyển hướng chiến lược của Đảng, Ban ChấpHành Trung ương đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng, chủ trương

Trang 12

gấp rút đào tạo cán bộ, cán bộ lãnh đạo, cán bộ công vận, nông vận, binhvận, quân sự.

mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ.”

+ 1954-1975: Từ những năm đầu 1960, mặc dù cuộc kháng chiến chống Mỹcứu nước đang diễn ra rất ác liệt, nhưng với tầm nhìn chiến lược chuẩn bịnguồn nhân lực, trước mắt phục vụ cuộc kháng chiến cứu nước, nhưng vềlâu dài là phục vụ công cuộc kiến thiết nước nhà, Bộ Chính trị (khóa III) đã

ra Nghị quyết về đào tạo bồi dưỡng cán bộ, trong đó khẳng định “Muốn họcsinh giỏi vào các trường đại học, phải có kế hoạch phát triển và bồi dưỡnghọc sinh giỏi ngay từ lớp 7, lớp 8”

 Thời kỳ bước đầu phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1960-1985):

Thông qua Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp Hành Trung ương khóa 7, Đảng đãchỉ ra quan điểm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa thời kỳ đổi mới, bao gồmviệc phát huy nguồn lực con người, lấy nguồn lực con người là yếu tố cơ bảncho việc phát triển nhanh và bền vững Cụ thể:

+ Trong các yếu tố tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa,yếu tố con người luôn được coi là yếu tố cơ bản Để phát triển nguồn lực conngười, đất nước cần đặc biệt chú ý đến phát triển giáo dục và đào tạo

Trang 13

+ Nguồn nhân lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi phải có khảnăng nắm bắt và sử dụng các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến củathế giới và có khả năng sáng tạo công nghệ mới

+ Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất (năm 1975), nền giáo dục của nước

ta bước sang một giai đoạn cách mạng mới Bộ Chính trị (khóa IV) ra Nghịquyết số 14-NQ/TW ngày 11/01/1979 : “Trong hệ thống giáo dục phổ thôngcần mở những trường - lớp phổ thông cho những học sinh có năng khiếu đặcbiệt ” nhằm chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài cho đất nước

+ Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 20/4/1981 về “Chính sách khoa học và kỹthuật”, trong đó chỉ rõ “Trên cơ sở đảm bảo sự bình đẳng thực sự về quyềnlợi học tập cho mọi người và phổ cập giáo dục cho toàn dân, cần quan tâmđào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật giỏi, những nhân tài của đất nước”

1.1.2 Thời kỳ đổi mới – Thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước:

(1986 đến nay):

Thời kỳ này, trên thế giới đang diễn ra cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ

3 với kỷ nguyên máy tính và tự động hóa Với sự phát triển mau lẹ của khoa họccông nghệ, Đảng ta cũng có những chính sách kịp thời trong việc đào tạo và pháttriển nguồn nhân lực chất lượng cao giúp đất nước bắt kịp và hội nhập với thế giới

 Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12-1996) đã thể hiện rõ quan điểm củaĐảng về phát triển nguồn nhân lực: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người

là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” Mục tiêu và nhiệm

vụ của giáo dục là xây dựng những thế hệ con người thiết tha gắn bó với lýtưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

 Đại hội IX (2001) của Đảng khẳng định phương hướng: “Tiếp tục đổi mới,tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học

và công nghệ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với cơ cấu hợp lý; triển

Trang 14

khai thực hiện chương trình phổ cập trung học cơ sở; ứng dụng nhanh cáccông nghệ tiên tiến, hiện đại; từng bước phát triển kinh tế tri thức”

 Đại hội X thể hiện rõ quyết tâm phấn đấu để giáo dục và đào tạo cùng vớikhoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu Các giải pháp thực thiđược tập trung hơn khá cụ thể: Quản lý quá trình phát triển dân số và nguồnnhân lực trong mối quan hệ với phát triển kinh tế - xã hội; phát triển nguồnnhân lực gắn với tạo việc làm, tạo việc làm tại chỗ thông qua phát triển sảnxuất, tập trung vào các sản phẩm có giá trị kinh tế cao, xuất khẩu

 Đại hội XI (2011) đã nêu rõ mục tiêu tổng quát là: “đến năm 2020 nước ta

cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” Để đạt được mụctiêu đó, Đảng đã xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là khâuđột phá thứ hai Vì thế, Đảng cũng xác định rõ phải “gắn kết chặt chẽ giữaphát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ”

Vì vậy, cần “xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người ViệtNam”; “xây dựng và thực hiện chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe,tầm vóc con người Việt Nam”

1.2.Thành tựu đạt được:

 Phong trào diệt dốt, bình dân học vụ được thực hiện sôi nổi Cuối năm 1946,

cả nước đã có thêm 2,5 triệu người biết đọc, biết viết

 Sau 20 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội và mặc dù có chiến tranh phá hoạinhưng Miền Bắc vẫn đảm bảo sản xuất phát triển và nâng cao trình độ sảnxuất lên một bậc

 Dựa vào sự phát triển không ngừng của máy tính, đời sống đi vào tự độnghóa, đặc biệt là tự động hóa sản xuất – thay thế hoàn toàn sức người bằng

Trang 15

máy móc, nâng cao năng suất lao động, nâng cao sản lượng Một số ngành

đã bắt kịp Cách mạng Công nghiệp 3.0 như công nghệ thông tin, viễn thông

1.3.Nhược điểm đặt ra:

 Công tác tư tưởng và văn hóa thiếu sắc bén, thiếu tính chiến đấu Việc xâydựng thể chế văn hóa còn chậm Sự suy thoái về đạo đức, lối sống có chiềuhướng phát triển Đời sống văn học, nghệ thuật còn nhiều bất cập

 Chiến tranh cùng với cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, baocấp và tâm lý bình quân chủ nghĩa đã làm giảm động lực phát triển văn hóa,giáo dục; kìm hãm năng lực tự do sáng tạo

 Trong thực tế, phần lớn các ngành công nghiệp của nước ta còn ở vị trí củacuộc CMCN lần thứ nhất và lần thứ hai (CMCN 1.0, CMCN 2.0) Cụ thể,việc xây dựng cơ sở hạ tầng (đường, cầu, cống, bến cảng, sân bay ) gần đâyđược tiến hành mạnh mẽ; đó chính là các công đoạn của thời kỳ CMCN 1.0

mà đặc trưng là cơ khí hóa, phát triển đường sắt nhờ sự ra đời động cơ hơinước Đường sắt Việt Nam rất lạc hậu, tốc độ tàu thấp do khổ đường ray hẹp

từ thời Pháp thuộc, thường xuyên có tai nạn do xung đột với giao thôngđường bộ Mặc dù sản xuất được điện từ lâu nhưng chúng ta chưa chế tạođược nhiều chủng loại động cơ, chưa sản xuất được các máy công cụ vốn làđộng lực chính cho dây chuyền lắp ráp, sản xuất hàng loạt - một đặc trưngcủa CMCN 2.0 Chúng ta chỉ chế tạo được động cơ không đồng bộ công suấtnhỏ và vừa cho các ứng dụng đơn giản như bơm nước, quạt gió, băng tải

Hầu hết các dây chuyền công nghệ và dây chuyền lắp ráp hiện nay đượcnhập ngoại Do vậy, không thể nói rằng chúng ta đã làm xong CMCN 2.0,càng không thể nói chúng ta đã thực hiện CMCN 3.0, bởi việc tự động hóatoàn diện sản xuất - đặc trưng của giai đoạn này - còn xa vời với côngnghiệp Việt Nam

Trang 16

2 Đường lối của Đảng về việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam trong thời đại Công nghiệp 4.0:

2.1.Chủ trương, chính sách về việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao:

2.1.1 Bồi dưỡng kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ:

 Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (2016) Đảng đã xác

định một trong 6 nhiệm vụ chính là “…Đổi mới căn bản và toàn diện giáo

dục, đào tạo- phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao ….” Phát triển nguồn nhân lực vốn không phải là vấn đề xa lạ gì vì trong

các Đại hội trước vấn đề này vẫn luôn được quan tâm Tại Đại hội VIII,Đảng khẳng định vấn đề phát triển nguồn nhân lực phải được chú trọng:

“Nâng cao dân trí, bồi dưỡng phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt

Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa.” Đến Đại hội IX (2001) Đảng nêu rõ “ đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước thời

kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Đại hội X thể hiện rõ quyết tâm phấn

đấu để giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ thực sự là quốc

sách hàng đầu “ Tập trung đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, chấn hưng

giáo dục Việt Nam để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao” Và đến

Đại hội XI(2011) Đảng đã xác định ba khâu đột phá chiến lược, trong đó “

Phát triển nguồn nhân lực , nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao”.

 Qua đó ta nhận thấy vấn đề phát triển nguồn nhân lực là vấn đề quan trọngluôn được quan tâm trong các kỳ Đại hội đặc biệt trong thời kỳ Cách mạngcông nghiệp 4.0 thì nguồn nhân lực chất lượng cao lại càng được quan tâm

Trong Đại hội XII, Đảng xác định đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục , đàotạo sẽ là phương hướng đi chính trong việc phát triển nguồn nhân lực Đảng

Trang 17

khẳng định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu Phát triển giáo dục và đào

tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn.” Năm 2017 Bộ Giáo dục đã đưa ra Đề án đổi mới chương trình và

sách giáo khoa Chương trình mới này sẽ quan tâm hơn đến yêu cầu tăngcường kỹ năng sống, giảm tải nội dung trong các bậc học phổ thông; nângcao kiến thức chuyên sâu và tác phong công nghiệp trong đào tạo nghề; pháthuy tư duy sáng tạo, năng lực nghiên cứu ở bậc đại học Bên cạnh đó, Bộcũng sẽ đổi mới mục tiêu, nội dung, hình thức kiểm tra, thi và đánh giá kếtquả giáo dục và đào tạo Từ năm 2015 trở đi Bộ đã thay đổi hình thức thivào đại học khi gộp chung kỳ thi đại học với kỳ thi tốt nghiệp thành một kỳthi trung học phổ thông Quốc gia Đến năm 2017, bộ môn Toán được đổimới chuyển từ hình thức tự luận sang trắc nghiệm đòi hỏi phát huy tư duy vàtính linh hoạt hơn rất nhiều đặc biệt là cách áp dụng sử dụng máy tính Casio

Môn Văn và môn Ngoại Ngữ vẫn giữ nguyên hình thức thi tự luận, còn cácmôn Vật lý, Hóa học, Sinh học tích hợp vào bài thi Khoa học tự nhiên; môn

Sử, Địa, Công dân tích hợp vào bài thi Khoa học xã hội Bộ Giáo dục đã đưathêm môn Công dân vào trong kỳ thi đúng với tiêu chí “phát triển phẩm chấtngười học” Kỳ thi THPT Quốc Gia sắp diễn ra trong năm 2018 này sẽ tiếptục giữ hình thức thi của năm 2017 Bên cạnh đó đẩy mạnh, liên thông tronggiáo dục, đào tạo Phát triển giáo dục Đại học định hướng nghiên cứu, ứngdụng và thực hành Phát triển đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý đáp ứng yêucầu đổi mới Gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ

và thu hút các nhà khoa học tham gia giảng dạy Đẩy mạnh dạy nghề và gắnkết đào tạo với doanh nghiệp Vấn đề đào tạo chuyên môn đã và đang đượcngày càng chú trọng và đổi mới để phù hợp trong thời đại Công nghiệp 4.0

Trang 18

2.1.2 Bồi dưỡng kiến thức về khoa học-công nghệ:

 Bên cạnh chuyên môn, nghiệp vụ chúng ta cũng rất quan tâm đến KH-CN

Tăng cường tiềm lực KH-CN và xây dựng hệ thống đổi mới sáng tạo quốcgia, phát huy năng lực sáng tạo của mọi cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức

Thực hành dân chủ, tôn trọng và phát huy tự do sáng tạo trong hoạt độngnghiên cứu, tư vấn, phản biện nhà khoa học Tăng cường hoạt động nghiêncứu khoa học trong các trường Đại học, khuyến khích các nhà khoa học làngười Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài tham gia hoạt động khoahọc, công nghệ tại Việt Nam Từ khi cuộc thi Robocon- cuộc thi cổ vũ chophong trào sáng tạo robot của thanh niên khu vực Châu Á- Thái Bình Dươngđược khởi động năm 2002, nước tích cực tham gia trong suốt những nămvừa qua và tính đến nay đã 6 lần vô địch Các sân chơi về khoa học kỹ thuậtluôn được quan tâm và chú trọng cả trong nước và ngoài nước như IntelISEF hay Science and Engineering(SEF) Học tập theo các công nghệ, kỹthuật của các nước tiên tiến cũng là một trong những cách thức giúp nước tatiến bộ hơn Vì vậy, rất nhiều sinh viên, giảng viên được gửi đi học tại cácnước bạn, trong các trường Đại học đã mở rộng các Khoa liên kết với cáctrường quốc tế, học tập theo chương trình quốc tế Tóm lại, trong những nămgần đây và trong tương lai nước ta sẽ tiếp tục đổi mới giáo dục cả về chuyênmôn và công nghệ nhằm nâng cao trình độ nguồn nhân lực để đưa nước tatrở thành một đất nước hiện đại

2.1.3 Bồi dưỡng kiến thức về các kỹ năng:

 Theo tác giả Đặng Thành Hưng, kỹ năng là một dạng hành động được thựchiện tự giác dựa trên tri thức về công việc, khả năng vận động và những điều

Trang 19

tình cảm, ý chí, tính tích cực cá nhân để đạt được kết quả theo mục đíchhay tiêu chí đã định, hoặc mức độ thành công theo chuẩn hay quy định Kỹnăng nói chung rất rộng như kỹ năng xã hội, kỹ năng lãnh đạo,…và thực sự.

Kỹ năng tư duy khoa học: kỹ năng tư duy phân tích, suy luận, tổng hợp,lôgic…Kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề, kỹ năng tư duy sáng tạo,phản biện, kỹ năng tự học và tự học hiệu quả Nhân cách và kỹ năng sống:

Kỹ năng lãnh đạo bản thân như: trung thực, chủ động, tự trọng và tự tin Kỹnăng đặt mục tiêu, tạo động lực, tổ chức công việc hiệu quả Kỹ năng ứng

xử - giao tiếp, lắng nghe, đàm phán, trình bày thuyết trình, kỹ năng làm việcnhóm, đồng đội…Tạo ra thói quen rèn luyện tư duy, kĩ năng phân tích vấn

đề, khả năng tiếp thu, diễn đạt, tổ chức, xử lí thông tin Nhất là ý thức kỷluật lao động, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp, hiểu biết văn hóathế giới…

 Qua nhiều kỳ Đại hội Đảng đã đề những đường lối chủ trương đào tạo vàphát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong điều kiện cuộc Cách mạngCông nghệ 4.0 Trong đó đào tạo tạo kỹ năng đóng vai trò quan trọng tạo ranguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay Sau 30 năm đổi mới Đảng cũng đã

có những thành tựu nhất định bên cạnh đó cũng tồn đọng những hạn chế,khuyết điểm nhất định Đó là còn nhiều hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vựcgiáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, xã hội, y tế chậm đượckhắc phục.Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống củamột bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãngphí chưa bị đẩy lùi Tội phạm và tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp; đạođức xã hội suy thoái Điểm yếu của lao động Việt Nam là thiếu kỹ năngmềm như cách làm việc nhóm, giao tiếp, khả năng ngoại ngữ, kỹ năng tuânthủ quy trình lao động Đó chính là một phần nguyên nhân dẫn đến nhữngyếu điểm trên

Ngày đăng: 11/10/2022, 08:42

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w