Thế giới đang hướng tới sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo là một trong nhữngcách giúp giải quyết vấn đề tăng nhu cầu năng lượng.Việt Nam cũng đang đứng trướcthách thức về nguy cơ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Lê Thị Lan Nhy 1614410134 Nguyễn Kim Đát 1614410034 Đặng Quang Thắng 1614410159
Trang 3Nội dung Trang
LỜI MỞ ĐẦU 5
Chương1 Tổng quan về phát triển năng lượng tái tạo 6
1.1 Phát triển năng lượng tái tạo là gì? 6
1.2 Tại sao phải phát triển năng lượng tái tạo? 7
1.3 Tình hình phát triển năng lương tái tạo ở trên thế giới 10
1.3.1 Tình hình và triển vọng thị trường điện năng lượng tái tạo toàn cầu: 10
1.3.2 Những vấn đề đặt ra đối với phát triển nguồn năng lượng tái tạo:14 Chương2 Phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam 15
2.1 Tình hình phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam 15
2.1.1 Thủy điện nhỏ 15
2.1.2 Năng lượng gió 16
2.1.3 Năng lượng sinh khối 17
2.1.4 Năng lượng mặt trời 18
2.1.5 Năng lượng địa nhiệt 19
2.2 Những khó khăn và thuận lợi cho tình hình phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam 20
2.2.1 Khó khăn 20
2.2.2 Thuận lợi 23
2.2.3 Nhận xét chung 26
Chương3 Giải pháp sự phát triển năng lượng tái tạo tại Việt Nam 27
3.1 Chính phủ điều chỉnh và thực hiện chính sách cho việc phát triển năng lượng tái tạo 27
3.1.1 Cơ chế hạn ngạch (định mức chỉ tiêu) 28
3.1.2 Cơ chế giá cố định 29
3.1.3 Cơ chế đấu thầu 29
3.1.4 Cơ chế cấp chứng chỉ 30
3.2 Xúc tiến hợp tác, đầu tư và chuyển giao công nghệ năng lượng
Trang 43.2.1 Công nghệ thủy điện 31
3.2.2 Công nghệ điện gió 31
3.2.3 Công nghệ điện mặt trời 32
3.2.4 Công nghệ sản xuất điện từ nguồn sinh khối 32
3.2.5 Công nghệ thu hồi năng lượng từ chất thải rắn 34
3.2.6 Công nghệ lưới điện 34
3.2.7 Công nghệ lưu trữ năng lượng (ESS) 34
3.3 Giải pháp về nguồn nhân lực: 35
3.4 Nâng cao nhận thức của nhân dân và nhà đầu tư: 35
LỜI KẾT 37
Tài liệu tham khảo 38
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Từ xưa, ngay khi con người bắt đầu sáng tạo ra những công cụ mới để nâng cao năng suất lao động, cải tạo tự nhiên và nâng cao chất lượng cuộc sống, năng lượng đã
đóng một vai trò vô cùng quan trọng, trở thành một nhu cầu tất yếu của con người Nó
là nguồn nguyên liệu, nhiên liệu là động lực chính cho sự phát triển của nhân loại Mỗicuộc cách mạng của con người thì năng lượng đều có một vai trò vô cùng lớn Năng lượng đã được chúng ta biết sử dụng từ hàng ngàn năm trước khi con người đã biết sử
dụng lửa để chiếu sáng, để nấu nướng, sưởi ấm Từ lửa chúng ta biết tạo ra các công cụ, các máy móc hiện đại như ngày nay Có thể nói rằng lửa chính là xuất phát điểm của nền văn minh nhân loại
Các nguồn nhiên liệu mà con người có thể khai thác được hiện nay là:
Con người đang khai thác nhiều nhất là các loại nhiên liệu hóa thạch( than,
đá , dầu khí….) Những nhiên liệu này nguồn cung năng lượng cho các phương tiệngiao thông, các nhà máy công nghiệp… Tuy nhiên những nguyên liệu này khôngphải là những nguyên liệu vô hạn và hiện tại khi mà con người đang khai thác quámức rất có thể chúng sẽ bị cạn kiệt trong tương lai Ước tính rằng, lượng dầu có thểkhai thác 40 năm nữa, lượng khí tự nhiên là 60 năm và lượng than có thể là 230 năm
Với thực trạng đó thì những nguồn năng lượng tái tạo chính là sự thay thế cho nhữngnhiên liệu hóa thạch ở trên Vậy năng lượng tái tạo là gì mà có khả năng thaythếđược những nhiên liệu hóa thạch vô cùng quan trọng như vậy?
Trang 6Chương1 Tổng quan về phát triển năng lượng tái tạo.
1.1 Phát triển năng lượng tái tạo là gì?
Khái niệm chung về năng lượng tái tạo
Năng lương tái tạo ( hay còn gọi là năng lượng tái sinh) là những nguồn năng lượng vô hạn, liên tục, có khả năng tái sinh như là: năng lượng mặt trời, gió, mưa , thủy triều, sóng và địa nhiệt Hiện nay, năng lượng tái tạo đang được sử dụng chỉ chiếm 16%, quá ít ỏi so với tiềm năng khồng lồ của nó và năng lượng tái tạo đang được sử dụng chủ yếu vào ngành điện
Phân loại năng lượng tái tạo:
Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng sinh ra từ các tia bức xạ điện từ
mà mặt trời chiếu xuống trái đất Nguồn năng lượng này dự kiến sử dụng
và tồn tại trong 5 triệu năm nữa
Năng lượng địa nhiệt là năng lượng được tách ra từ nhiệt trong lòng Trái
Đất Năng lượng này có nguồn gốc từ sự hình thành ban đầu của hànhtinh, từ hoạt động phân hủy phóng xạ của các khoáng vật, và từ nănglượng mặt trời được hấp thụ tại bề mặt Trái Đất
Năng lượng thủy triều là năng lượng khai thác từ công năng của dòng
nước Điện được tạo ra nhờ hệ thống đập, tuốc bin nước và máy phátđiện
Năng lượng gió là động năng của không khí di chuyển trong bầu khí
quyển Trái Đất Năng lượng gió là một hình thức gián tiếp của năng lượng mặt trời Năng lượng gió được khai thác nhờ những tuốc bin gió.
Năng lượng sinh khối là năng lượng có nguồn gốc từ các dạng vật chất
sống, chủ yếu là thực vật Sinh khối có thể chuyển thành năng lượng theo
ba cách: chuyển đổi nhiệt, chuyển đổi hóa học, và chuyển đổi sinh hóa
Trang 7 Nhiên liệu sinh học là loại nhiên liệu được hình thành từ các hợp chất có
nguồn gốc động thực vật như nhiên liệu chế xuất từ chất béo của độngthực vật (mỡ động vật, dầu dừa,…), ngũ cốc (lúa mỳ, ngô, đậu tương…),chất thải trong nông nghiệp (rơm rạ, phân,…), sản phẩm thải trong côngnghiệp (mùn cưa, sản phẩm gỗ thải…)
Các nguồn năng lượng tái tạo nhỏ khác : năng lượng lò xo, hiệu ứng điện động.
1.2 Tại sao phải phát triển năng lượng tái tạo?
Việc khai thác và sử dụng năng lượng tác động mạnh mẽ tới những yếu
tố cơ bản của đời sống con người toàn cầu , triển vọng phát triển kinh tế, xã hội trongtương lai
Đánh giá về xu thế năng lượng thế giới thời gian qua, trong bài báo Nănglượng Việt nam và vấn đề phát triển bền vững đăng trên Tạp Chí Năng Lượng ViệtNam ngày 14/12/2017 ông Nguyễn Văn Vy, Tổng thư ký kiêm Phó chủ tịch Hiệp hộiNăng lượng Việt Nam (VEA) cho biết: qua 42 năm, từ năm 1973 (năm xảy ra khủnghoảng dầu mỏ) đến năm 2015, nhu cầu năng lượng tăng bình quân1,92%/năm, thấphơn tăng trưởng GDP trong cùng giai đoạn này là 2,94%/năm Than vẫn là nguồn nănglượng sơ cấp ổn định Năng lượng hạt nhân trên thế giới tăng nhanh, từ 45,9 triệu TOE(năm 1973) lên 582,1 triệu TOE (năm 2015) “Xu hướng phát triển mạnh trong ngànhnăng lượng thế giới là phát triển năng lượng tái tạo; sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệuquả và áp dụng các công nghệ thân thiện với môi trường” - Ông Nguyễn Văn Vy nhấnmạnh
Việc hạn chế về nguồn cung năng lượng sơ cấp trong nước dẫn đếnsựphụ thuộc ngày càng tăng vào nguồn nhiên liệu nhập khẩu, đặc biệt nhiên liệu chophát điện, tác động lớn đến vấn đề an ninh năng lượng
Tốc độ tăng cao nhu cầu năng lượng gây sức ép lên hạ tầng cơ sở ngànhnăng lượng, đòi hỏi vốn đầu tư lớn trong bối cảnh nợ công tăng cao và quá trình cổphần hóa chưa thuận lợi
Trang 8Với tốc độ tiêu thụ năng lượng hiện tại thì nguồn năng lượng truyền thống củathế giới được dự báo sẽ nhanh chóng bị cạn kiệt Theo dự báo, đến năm 2035 tiêu thụ
năng lượng toàn cầu sẽ tăng 53%, và các doanh nghiệp khắp nơi trên thế giới đangkhông ngừng nghiên cứu tìm nguồn năng lượng sạch Cũngtheo báo cáo của APEC,nếu không giảm cường độ sử dụng, nhu cầu năng lượng trong khu vực sẽ tăng tươngđương với tăng trưởng kinh tế, tức là khoảng 225% cho đến năm 2035 Bên cạnh đó,hiện nay thói quen sử dụng nhiên liệu hóa thạch đã làm tăng các mối quan tâm về môitrường Việc đốt nhiên liệu hóa thạch tạo ra khoảng 21,3 tỉ tấn carbon dioxide hàngnăm Cacbon đioxit là một trong những khí nhà kính làm tăng lực phóng xạ và gópphần vào sự nóng lên toàn cầu, làm cho nhiệt độ trung bình bề mặt của Trái Đất tăng
Thế giới đang hướng tới sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo là một trong nhữngcách giúp giải quyết vấn đề tăng nhu cầu năng lượng.Việt Nam cũng đang đứng trướcthách thức về nguy cơ thiếu hụt năng lượng trong vòng một thập kỷ tới Giai đoạn2010-2020 có thể xuất hiện sự mất cân đối giữa khả năng cung cấp và nhu cầu sử
dụng các nguồn năng lượng nội địa, và Việt Nam chuyển từ nước xuất khẩu thànhnước nhập khẩu năng lượng, mức độ phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu ngày mộttăng Bên cạnh đó, một nghiên cứu về hơn 190 quốc gia cho thấy Việt Nam đứng thứ
23 trong số các nền kinh tế dễ bị tổn thương nhất đối với biến đổi khí hậu Điều đócho thấy tác động tiêu cực mà các vấn đề môi trường có thể gây ra đối với người thunhập thấp và sinh kế của họ Sự bất cân đối giữa cung và cầu năng lượng như hiệnnay đang đe dọa trực tiếp đến nền kinh tế và xã hội
Năng lượng tái tạo là một nguồn năng lượng , không thải ra các chất ônhiễm gây thiệt hại cho môi trường và có thể được khai thác mà không gây tổn hạiđến các hệ sinh thái
Năng lượng luôn là yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hộicủa tất cả các nước trên thế giới Để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế nhanh, phấnđấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại,Đảng ta đã luôn dành sự quan tâm sâu sắc đến vấn đề phát triển năng lượng Cácnguồn nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ, khí đốt đã và đang đáp ứng phần lớnnhu cầu năng lượng của đất nước Tuy nhiên, nguồn năng lượng hóa thạch có hạn, việc
Trang 9sử dụng nhiều năng lượng hoá thạch có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, tăng phát khí
gây hiệu ứng nhà kính Vì vậy, việc nghiên cứu và sử dụng các nguồn năng lượngxanh thay thế, có khả năng tái tạo và khắc phục được các hạn chế nêu trên như: nănglượng gió, năng lượng mặt trời, địa nhiệt hay năng lượng từ sinh khối, năng lượng sinhhọc là một nhu cầu tất yếu
Phát triển năng lượng tái tạo để gắn với bảo vệ môi trường
Chuyển dịch sang năng lượng xanh là quan trọng và cần thiết vì Việt Nam làmột trong số ít các quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu Hơn nữa,phát triển năng lượng xanh là hướng đi thông minh cho Việt Nam, một quốc gia cótiềm năng năng lượng tái tạo dồi dào, đặc biệt là năng lượng mặt trời và năng lượnggió Phát triển năng lượng tái tạo cũng là một hướng đi hợp lý để Việt Nam tránh phụ
thuộc vào năng lượng nhập khẩu Tuy nhiên, hiện tại vẫn còn nhiều thách thức đòi hỏinỗ lực lớn và bước đi phù hợp của tất cả các bên liên quan để các công nghệ nănglượng tái tạo được đi vào thực tế phát triển và áp dụng”
Nhiều cơ chế ưu đãiChính phủ hiện đang nỗ lực nhằm đẩy mạnh quá trình sản xuất và nghiên cứunăng lượng tái tạo, tích cực đưa ra những đề xuất và hợp tác trên diễn đàn quốc tế vàtrong nước, kích thích khối doanh nghiệp đầu tư để phát triển năng lượng tái tạo Độngthái này cho thấy sự đổi mới và vận hành năng lượng tại Việt Nam trong thời kì 4.0,bắt kịp xu hướng toàn cầu
1.3 Tình hình phát triển năng lương tái tạo ở trên thế
Trang 10Năm 2015, sản lượng điện từ năng lượng tái tạo, không bao gồm thủy điện,chiếm 6,8% tổng sản lượng điện toàn cầu, trong đó bao gồm 3,5% điện gió, 1,9% điệnsinh khối và 1,0% điện mặt trời (quang điện) Nếu tính cả thủy điện (16,0%) thì sảnlượng điện từ các nguồn năng lượng tái tạo đạt tới 22,8%.
Thực tế, công suất nguồn điện năng lượng tái tạo toàn cầu bao gồm cả thủy điệntăng từ 2.130 GW vào cuối năm 2016 lên hơn 2.400 GW vào cuối năm 2018, trong đó1.300 GW thủy điện và 1.100 GW từ các nguồn năng lượng tái tạo ngoài thủy điện
Tăng trưởng hàng năm công suất nguồn điện năng lượng tái tạo đã đạt mức cao kỷ lụchơn 160 GW vào năm 2016 và đứng ở mức đó vào năm 2017 và 2018 Châu Á, baogồm cả Trung Quốc và Ấn Độ chiếm khoảng 60% tăng trưởng công suất nguồn điệnnăng lượng tái tạo toàn cầu
Tăng trưởng công suất nguồn điện năng lượng tái tạo của Trung Quốc từ năm
2015 đến năm 2016 đạt gần 70 GW, chiếm khoảng một nửa mức tăng trưởng của toàncầu Tăng trưởng năm 2017 của nước này ở mức gần 70 GW, bao gồm hơn 40 GWnguồn điện mặt trời PV Tuy nhiên, vào năm 2018 mặc dù sự tăng trưởng nguồn điệnmặt trời PV sẽ vẫn duy trì ở mức của năm trước, nhưng sự tăng trưởng sẽ không chắcchắn do có sự thay đổi chuyển từ chính sách Feed-in-Tariff (tạm dịch: hỗ trợ theo biểugiá quy định) sang chính sách The Renewables Portfolio Standard (tạm dịch: Tiêuchuẩn danh mục các nguồn năng lượng tái tạo), mở rộng việc đấu giá thực hiện dự án
và nâng cao tính ổn định (giảm thiểu sự bất ổn)
Tại Ấn Độ, kể từ khi lễ nhậm chức của chính quyền Narendra Modi năm 2014,nước này đã gia tăng nhanh chóng công suất nguồn điện năng lượng tái tạo, bao gồm
cả nguồn điện mặt trời PV được hỗ trợ bởi nguồn bức xạ mặt trời phong phú, theo mụctiêu quốc gia đề ra là 175 GW (không kể các nhà máy thủy điện quy mô lớn) vào năm
2022 Công suất tăng trưởng hàng năm sẽ tăng gấp đôi từ mức 8 GW năm 2016 lênkhoảng 15 GW vào năm 2017 và 2018, tập trung vào điện mặt trời PV Vào cuối năm
2018, Ấn Độ có thể đạt công suất nguồn điện năng lượng tái tạo 120 GW, vượt quamức của Nhật Bản Ngoài ra, Ấn Độ đã phát động chương trình mở rộng năng lượngtái tạo và dự kiến đến năm 2022 sẽ sản xuất 175 GW điện từ nguồn năng lượng này
Chính phủ Hàn Quốc công bố kế hoạch chi khoảng 110 tỷ USD từ nay đến năm 2030
Trang 11để xây dựng thêm các nhà máy điện mặt trời và điện gió trên cả nước nhằm tăng gấp
ba lần tỷ lệ điện năng từ nguồn năng lượng tái tạo
Hoa Kỳ đã công bố mức tăng kỷ lục công suất nguồn điện năng lượng tái tạotrên 20 GW vào năm 2016 Điện năng do các nhà máy điện sản xuất ra từ năng lượngtái tạo tăng 9% trong năm 2016 và đặt mục tiêu điện năng từ năng lượng tái tạo sẽ
chiếm tỷ lệ 14% tổng sản lượng điện năng của nước này, trong đó lượng điện năngđược tạo ra từ năng lượng gió và mặt trời sẽ lần lượt chiếm tỷ lệ 5.2% và 0.8% Mặcdù hiện nay việc xử lý các ưu đãi thuế ở cấp liên bang đối với năng lượng tái tạokhông chắc chắn, tăng trưởng công suất nguồn điện năng lượng tái tạo vào năm 2017
và 2018 là khoảng 20 GW do mở rộng nguồn điện năng lượng mặt trời PV nhờ chínhsách thúc đẩy năng lượng tái tạo ở cấp bang và giảm nhanh chi phí Mỹ có thể cắtgiảm 78% lượng khí các-bon mà ngành công nghiệp sản xuất điện thải ra vào năm
2030 bằng cách nâng cấp cơ sở hạ tầng để bắt kịp sự phát triển của hai lĩnh vực nănglượng gió và năng lượng mặt trời
Châu Âu đã tăng công suất nguồn điện năng lượng tái tạo với tốc độ ổn địnhhàng năm là 20 GW, tương ứng khoảng 4% kể từ khi đạt mức tăng hơn 30 GW vàonăm 2011 và cũng đạt tốc độ tăng trưởng tương tự vào năm 2017 và 2018
Hồi đầu năm nay, các nước thành viên Liên hiệp châu Âu (EU) đã thông qua đềxuất của Ủy ban châu Âu (EC) đầu tư 873 triệu ơ-rô cho các dự án lớn của châu Âu về
cơ sở hạ tầng năng lượng sạch Trong số 17 dự án được EU lựa chọn tài trợ có tám dự
án thuộc lĩnh vực điện với mức đầu tư lên tới 680 triệu ơ-rô và chín dự án khác liênquan khí đốt được đầu tư 193 triệu ơ-rô
Liên minh năng lượng là một trong những ưu tiên của EC nhằm chuyển đổichâu Âu sang một nền kinh tế sạch và hiện đại Thụy Điển, Na Uy và Thụy Sĩ là baquốc gia hàng đầu thế giới về chuyển đổi năng lượng, xếp sau là Phần Lan và ĐanMạch Trong số các nước này, hệ thống năng lượng của Thụy Sĩ được đánh giá tốthàng đầu thế giới Tại Thụy Sĩ, gần hai phần ba điện năng được sản xuất bằng thủyđiện và năng lượng tái tạo
Trang 12Còn Vương quốc Anh đã quyết định đình chỉ hỗ trợ cho các nguồn năng lượngcarbon thấp cho đến năm 2025 do sự tăng chi phí liên quan vượt quá mức ngân sáchdự kiến, công suất nguồn điện năng lượng tái tạo vào năm 2025 dự kiến sẽ tăng 25%
so với năm 2016
Tại châu Mỹ, theo xếp hạng của Happy Planet Index, năm 2017, Cô-xta Ri-catiếp tục dẫn đầu thế giới về tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo và là năm thứ ba liên tiếpphá kỷ lục về số ngày chỉ sử dụng năng lượng sạch Đất nước mang tên “bờ biển giàuđẹp” này đã đạt mốc tròn 300 ngày chỉ sử dụng điện năng từ các nguồn năng lượng táitạo Sản lượng điện từ năng lượng tái tạo của Cô-xta Ri-ca trong năm 2017 đã đáp ứng99,62%, gần như tuyệt đối nhu cầu điện tiêu thụ trong năm của quốc gia có 4,8 triệudân này
Cu-ba cũng nỗ lực phát triển nhiều dạng năng lượng tái tạo khác nhau đểchuyển đổi cơ cấu sản xuất điện hiện hành và giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóathạch Quốc đảo vùng Ca-ri-bê đã đề ra mục tiêu nâng tỷ lệ năng lượng tái tạo lên 24%
trong tổng sản lượng điện vào năm 2030 Cu-ba có kế hoạch dùng năng lượng tái tạothay thế cho việc sử dụng 1,75 triệu tấn nhiên liệu hóa thạch mỗi năm, trong đó việc sử
dụng bã mía để sản xuất điện sinh học là biện pháp sản xuất điện chính của Cu-ba
Tại Đông Nam Á, kể từ khi Thỏa thuận Pa-ri về chống biến đổi khí hậu đượcphê chuẩn vào tháng 12-2015, cũng như Cam kết của các quốc gia về môi trường(INDC) được ký kết vào tháng 11-2016, các nước trong khu vực đã tập trung áp dụngcác giải pháp chuyển đổi sang sử dụng nguồn năng lượng thải ra ít các-bon hơn Cáckhoản đầu tư vào cơ sở hạ tầng cung cấp năng lượng sạch để đáp ứng các mục tiêu củaINDC được dự báo sẽ tăng và đến năm 2030 các nước ASEAN sẽ cần đến 2.100 tỷUSD cho lĩnh vực này
Công suất nguồn điện năng lượng tái tạo của Nhật Bản, không kể các nhà máythuỷ điện công suất trên 30 MW, tăng 6,5 GW trong năm tài chính 2017 và dự kiến sẽ
là 5,5 GW trong năm tài chính 2018 lên 68,3 GW vào cuối năm tài chính 2018 Sảnlượng điện năng lượng tái tạo, không gồm sản lượng từ các nhà máy thuỷ điện có côngsuất lớn hơn 30 MW sẽ đạt 127,3 tỷ kWh trong năm 2018 (tương ứng với số giờ hoạt
Trang 13động bình quân là 1.864 giờ/năm, bằng 21,3% thời gian năm), nâng gấp đôi tỷ trọngcủa chúng trong tổng sản lượng điện của Nhật Bản từ 7% trong năm tài chính 2012 lên13% năm tài chính 2018.
Nếu tính cả sản lượng điện từ các nhà máy thủy điện công suất hơn 30 MW, thìsẽ chiếm tới 16% tổng sản lượng điện năm 2018 Trong khi điện mặt trời PV sẽ tiếptục chiếm khoảng 90% tổng sản lượng điện năng lượng tái tạo ở Nhật Bản, điện gió vàđiện sinh khối sẽ dần dần tăng tỷ trọng tương ứng của chúng trong hệ thống hỗn hợpnăng lượng
Tổng quan, theo nghiên cứu của IRENA, để đạt được mục tiêu của Thỏa thuậnPa-ri về chống biến đổi khí hậu, từ nay đến năm 2030, tỷ lệ năng lượng tái tạo trongtổng năng lượng toàn cầu phải tăng gấp hai lần Năm 2017, IRENA tuyên bố, đầu tưcho năng lượng sạch phải tăng từ 305 tỷ USD trong năm 2015 lên mức trung bình 900
tỷ USD/năm trong giai đoạn từ năm 2016 đến 2030
b) Giảm chi phí điện mặt trời PV, điện gió và mở rộng quy mô công suấtTheo báo cáo của IEA, chi phí bình quân toàn cầu về điện năng khả dụng(Utility scale) (LCOE) của các nhà máy điện mặt trời, không bao gồm trợ cấp, giảmhơn 50% từ năm 2012 xuống còn 11 Cent/kWh vào năm 2016 và dự kiến sẽ giảmxuống mức 8,7 Cent/kWh vào năm 2022 Các yếu tố làm giảm chi phí gồm có việcthực hiện đấu giá cạnh tranh ở nhiều quốc gia khác nhau và giá mô-đun điện mặt trời
PV giảm mạnh nhờ việc mở rộng quy mô áp dụng trên khắp thế giới
Tương tự, mức chi phí bình quân toàn cầu về điện năng khả dụng (LCOE) củađiện gió trên thềm lục địa (Onshore), không bao gồm trợ cấp, được ước tính là 7,5Cent/kWh năm 2016 và dự kiến giảm xuống còn 6,5 Cent/kWh vào năm 2022 cũngnhờ cuộc chạy đua cắt giảm chi phí thông qua đấu giá cạnh tranh Việc thực hiện đấugiá cho điện mặt trời PV và điện gió đang gia tăng trên toàn cầu để giảm chi phí
Việc giảm chi phí như dự kiến sẽ mở đường cho điện mặt trời PV và điện gióphát triển rộng khắp trên toàn cầu với một tốc độ ổn định Tuy nhiên, việc mở rộng cácnguồn điện năng lượng tái tạo tự nhiên sẽ làm mất ổn định hệ thống điện Vì vậy, các
Trang 14nước sẽ phải nâng cao tính linh hoạt của hệ thống điện trên tiền đề của việc mở rộngquy mô các nguồn điện năng lượng tái tạo tự nhiên.
Việc cải thiện này, mặc dù kéo theo tăng chi phí hệ thống điện, có khả năng tạo
ra các mô hình kinh doanh mới
1.3.2 Những vấn đề đặt ra đối với phát triển nguồn năng lượng
tái tạo:
Từ những thực trạng nêu trên và của một số nước khác cho thấy các vấn đề đặt
ra đối với sự phát triển nguồn năng lượng tái tạo thời gian tới là:
Thứ nhất: Phát triện nguồn năng lượng tái tạo là xu thế toàn cầu Xu thế đó đã
bắt đầu từ nhiều năm trước và sẽ tiếp tục trong nhiều năm nữa mới đạt được mục tiêucần thiết để nắm giữ vai trò quan trọng trong hệ thống nguồn năng lượng của thế giới
và của từng quốc gia
Thứ hai: Để thúc đẩy sự gia tăng phát triển nguồn năng lượng tái tạo đòi hỏi thếgiới phải tiếp tục nỗ lực hơn nữa giải quyết nhiều thách thức, đặc biệt là giảm chi phí,nâng cao tính ổn định và an toàn của hệ thống khi mở rộng công suất sản xuất nănglượng tái tạo Điều đó cần phải có thời gian và nguồn lực thích đáng, nhất là đối vớicác nước đang phát triển
Thứ ba: Kinh nghiệm của các nước cho thấy việc phát triển nguồn năng lượngtái tạo đòi hỏi phải có chiến lược, lộ trình, bước đi và cơ chế chính sách thích hợp phù
hợp với điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, nhất là tiềm năng các nguồn tài nguyênnăng lượng sẵn có trong nước
Ngay như CHLB Đức là nước có mức độ phát triển năng lượng tái tạo vào loạicao nhất thế giới cũng chưa thể tuyên bố từ bỏ nhiệt điện than đang giữ vai trò đáng kểtrong hệ thống nguồn điện của nước này
Hoặc Nhật Bản là một nước công nghiệp phát triển cao và nghèo tài nguyên nănglượng hóa thạch cũng chỉ đề ra mục tiêu đến năm 2030 phấn đấu đưa tổng sản lượngđiện năng lượng tái tạo đạt mức 22-24% tổng sản lượng điện quốc gia với điều kiệngiải quyết được vấn đề giảm chi phí (đang rất cao hiện nay), việc nối lưới và nâng cao
Trang 15mức độ ổn định, an toàn của hệ thống điện khi mở rộng công suất nguồn điện nănglượng tái tạo.
Thứ tư: Việc giảm chi phí của nguồn điện năng lượng tái tạo đòi hỏi thực hiệnđồng bộ nhiều giải pháp từ khoa học công nghệ, chiến lược phát triển, tổ chức quản lý
án thủy điện nhỏ với tổng công suất khoảng 850 MW đã cơ bản hoàn thành, 228 dự ánvới công suất trên 2.600 MW đang được xây dựng và 700 dự án đang giai đoạn nghiêncứu Ngoài ra các dự án thủy điện cực nhỏ công suất dưới 100 KW phù hợp với vùngsâu, vùng xa, những nơi có địa hình hiểm trở có thể tự cung tự cấp theo lưới điện nhỏ
và hộ gia đình cũng đã và đang được khai thác Tính đến hết năm 2016, lượng điện thuđược từ nguồn thủy điện nhỏ đạt khoảng 2.000 MW
2.1.2 Năng lượng gió
Nằm trong khu vực cận nhiệt đới gió mùa với bờ biển dài, Việt Nam có mộtthuận lợi cơ bản để phát triển năng lượng gió So sánh tốc độ gió trung bình trongvùng biển Đông Việt Nam và các vùng biển lân cận cho thấy gió tại biển Đông khámạnh và thay đổi nhiều theo mùa.Trong chương trình đánh giá về năng lượng cho
Trang 16Đông Nam Á, trong đó Việt Nam có tiềm năng gió lớn nhất với tổng tiềm năng điệngió của Việt Nam ước đạt 513.360 MW tức là bằng hơn 200 lần công suất của thủyđiện Sơn La, và hơn 10 lần tổng công suất dự báo của ngành điện vào năm 2020 Tấtnhiên, để chuyển từ tiềm năng lý thuyết thành tiềm năng có thể khai thác, đến tiềmnăng kỹ thuật, và cuối cùng, thành tiềm năng kinh tế là cả một câu chuyện dài, nhưngđiều đó không ngăn cản việc chúng ta xem xét một cách thấu đáo tiềm năng to lớn vềnăng lượng gió ở Việt Nam.
Hiện nay, Việt Nam cho phép triển khai các dự án điện gió tại một số tỉnh miềnTrung (Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Định), Nam Bộ (Cà Mau, Kiên Giang) và vùngđảo (Trường Sa, Phú Quốc, Côn Đảo) Theo số liệu của Bộ Công Thương, hiện cókhoảng 100 dự án điện gió đăng ký đầu tư ở Việt Nam với tổng công suất hơn 7.000MMW nhưng mới chỉ có 4 dự án với tổng công suất 159,2 MW đi vào vận hànhthương mại và dự kiến nâng tổng công suất lên khoảng 800 MW vào năm 2020,khoảng 2.000 MW vào năm 2025 và khoảng 6.000 MW vào năm 2030 Tuy nhiên, đâyvẫn là một con số rất khiêm tốn so với tiềm năng năng lượng gió của nước ta
2.1.3 Năng lượng sinh khối
Với lợi thế một quốc gia nông nghiệp, Việt Nam có nguồn sinh khối lớn và đadạng từ gỗ củi, trấu, bã cà phê, rơm rạ và bã mía Cụ thể:
Tiềm năng sinh khối từ gỗ củi vào khoảng 10,6 triệu tấn dầu quy đổi (năm2010), 14,6 triệu tấn (năm 2030) và 14 triệu tấn (năm 2050);
Phế thải từ nông nghiệp vào khoảng 16,8 triệu tấn (năm 2010), 20,6 triệu tấn(năm 2030) và 26,3 triệu tấn (năm 2050);
Trang 17 Từ rác thải đô thị vào khoảng 0,64 triệu tấn (năm 2010), 1,5 triệu tấn (năm2030) và 2,5 triệu tấn (năm 2050)
Phế phẩm nông nghiệp rất phong phú dồi dào ở Vùng đồng bằng sông Mê kông,chiếm khoảng 50% tổng sản lượng phế phẩm nông nghiệp toàn quốc và vùng đồngbằng sông Hồng với 15% tổng sản lượng toàn quốc Hàng năm tại Việt Nam có gần 60triệu tấn sinh khối từ phế phẩm nông nghiệp, trong đó 40% được sử dụng đáp ứng nhucầu năng lượng cho hộ gia đình và sản xuất điện Các nguồn sinh khối khác bao gồmsản phẩm từ gỗ, chất thải đô thị và chất thải gia súc Các sản phẩm và phế phẩm từ gỗ
tại các công ty sản xuất chế biến gỗ có nguồn gốc từ rừng tự nhiên hoặc rừng trồng vàgỗ nhập khẩu Hiện nay, 90% sản lượng sinh khối được dùng để đun nấu trong khi chỉ
có 2% được dùng làm phân bón hữu cơ và phân bón vi sinh (từ nguồn phế phẩm chănnuôi trồng trọt, bùn và bã mía từ các nhà máy đường); 0.5% được sử dụng để trồngnấm và khoảng 7.5% chưa được sử dụng (phế phẩm từ chế biến thức ăn được chọntrong khi rơm rạ, bã mía và vỏ cà phê thì được đốt Sinh khối được sử dụng ở hai lĩnhvực chính là sản xuất nhiệt và sản xuất điện Đối với sản xuất nhiệt, sinh khối cung cấphơn 50% tổng năng lượng sơ cấp tiêu thụ cho sản xuất nhiệt tại Việt Nam (IEA, 2006)
Tuy nhiên phần đóng góp này của sinh khối đang ngày càng giảm dần trong nhữngnăm gần đây khi các dạng năng lượng hiện đại khác như khí hoá lỏng LPG được đưavào sử dụng Ở các vùng nông thôn, năng lượng sinh khối vẫn là nguồn nhiên liệuchính để đun nấu cho hơn 70% dân số nông thôn Đây cũng là nguồn nhiên liệu truyềnthống cho nhiều nhà máy sản xuất tại địa phương như sản xuất thực phẩm, mỹ nghệ,gạch, sứ và gốm
Bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu năng lượng, ứng dụng sinh khối phù hợp còngiúp giảm thiểu phát thải nhà kính, giảm thiểu những tổn hại đến sức khoẻ do việc đunđốt củi và than, giảm nghèo và cải thiện tình hình vệ sinh
Phát triển năng lượng điện sinh khối sẽ góp phần quan trọng giải quyết bài toánđảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, cải thiện chiphí, tăng hiệu quả sản xuất - kinh doanh cho các doanh nghiệp thuộc các ngành nănglượng, nông nghiệp, lâm nghiệp, biển; nghiên cứu, đào tạo, sáng chế… Đến hết năm
2016, năng lượng sinh khối mới chỉ khai thác được khoảng 592 MW
Trang 182.1.4 Năng lượng mặt trời
Việt Nam được xem là một quốc gia có tiềm năng rất lớn về năng lượng mặttrời, đặc biệt ở các vùng miền Trung và miền Nam của đất nước, với cường độ bức xạmặt trời trung bình khoảng 5 kWh/m2 Trong khi đó cường độ bức xạ mặt trời lại thấphơn ở các vùng phía Bắc, ước tính khoảng 4 kWh/m2 do điều kiện thời tiết với trờinhiều mây và mưa phùn vào mùa đông và mùa xuân Ở Việt Nam, bức xạ mặt trờitrung bình 230-250 kcal/cm2 theo hướng tăng dần về phía Nam chiếm khoảng 2.000 -5.000 giờ trên năm, với ước tính tiềm năng lý thuyết khoảng 43,9 tỷ TOE Năng lượngmặt trời ở Việt Nam có sẵn quanh năm, khá ổn định và phân bố rộng rãi trên các vùngmiền khác nhau của đất nước Đặc biệt, số ngày nắng trung bình trên các tỉnh của miềntrung và miền nam là khoảng 300 ngày/năm Năng lượng mặt trời được khai thác sử
dụng chủ yếu cho các mục đích như: sản xuất điện và cung cấp nhiệt
Tuy nhiên, việc khai thác và sử dụng nguồn năng lượng này hiện nay còn hạnchế, chỉ khoảng 1,2 - 3 MWp Các hoạt động nghiên cứu và sử dụng năng lượng mặttrời ở Việt Nam tập trung vào một số lĩnh vực như cung cấp nước nóng dùng trongsinh hoạt và phát điện ở quy mô nhỏ; sấy, nấu ăn, chưng cất nước ở quy mô thử
nghiệm nhỏ, chưa đáng kể
2.1.5 Năng lượng địa nhiệt
Là năng lượng được tách ra từ nhiệt trong lòng Trái Đất Năng lượng này cónguồn gốc từ sự hình thành ban đầu của hành tinh, từ hoạt động phân hủy phóng xạ
Trang 19của các khoáng vật, và từ năng lượng mặt trời được hấp thụ tại bề mặt Trái Đất Nănglượng địa nhiệt đã được sử dụng để nung và tắm kể từ thời La Mã cổ đại nhưng ngàynay nó được dùng để phát điện Có khoảng 10 GW công suất điện địa nhiệt được lắpđặt trên thế giới đến năm 2007, cung cấp 0,3% nhu cầu điện toàn cầu Thêm vào đó,
28 GW công suất nhiệt địa nhiệt trực tiếp được lắp đặt phục vụ cho sưởi, spa, các quátrình công nghiệp, lọc nước biển và nông nghiệp ở một số khu vực Khai thác nănglượng địa nhiệt có hiệu quả về kinh tế, có khả năng thực hiện và thân thiện với môitrường, nhưng trước đây bị giới hạn về mặt địa lý đối với các khu vực gần các ranhgiới kiến tạo mảng Các tiến bộ khoa học kỹ thuật gần đây đã từng bước mở rộngphạm vi và quy mô của các tài nguyên tiềm năng này, đặc biệt là các ứng dụng trựctiếp như dùng để sưởi trong các hộ gia đình Các giếng địa nhiệt có khuynh hướng giảiphóng khí thải nhà kính bị giữ dưới sâu trong lòng đất, nhưng sự phát thải này thấphơn nhiều so với phát thải từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch thông thường Công nghệnày có khả năng giúp giảm thiểu sự nóng lên toàn cầu nếu nó được triển khai rộng rãi
Mặc dù nguồn địa nhiệt chưa được điều tra và tính toán kỹ Tuy nhiên, với số liệu điềutra và đánh giá gần đây nhất cho thấy tiềm năng điện địa nhiệt ở Việt Nam có thể khaithác đến trên 300MW Khu vực có khả năng khai thác hiệu quả là miền Trung
Như vậy, hiện tại ở nước ta có 5 loại năng lượng tái tạo đã được khai thác để sảnxuất điện Theo thống kê chưa đầy đủ, tổng công suất lắp đặt khoảng 1.215 MW Cácnguồn năng lượng tái tạo đang được khai thác là: thuỷ điện nhỏ (1000 MW), sinh khối(152 MW), rác thải sinh hoạt (8 MW), mặt trời (3 MW) và gió (52 MW), Thực trạngkhai khác năng lượng tái tạo còn rất nhỏ so với tiềm năng chiếm khoảng 3,4% Trongkhi đó theo Quy hoạch điện VII, chỉ tiêu được đặt ra là tăng tỷ lệ điện năng sản xuất từcác nguồn NLTT chiếm 3,5% năm 2010 lên 4,5% và 6% vào năm 2020 và năm 2030
Với bối cảnh hiện nay và dự báo trong thời gian tới cần có giải pháp cụ thể để nângmức phát triển năng lượng tái tạo cao hơn