1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Tiểu luận FTU) phân tích thị trường ngành may mặc ở việt nam

47 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Thị Trường Ngành May Mặc Tại Việt Nam
Tác giả Đặng Thị Huyền, Nguyễn Minh Huyền, Nguyễn Thị Huyền, Phan Thị Huyền, Lê Thùy Linh
Người hướng dẫn TS. Vũ Thị Phương Mai
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh Tế Quốc Tế
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tương lai của ngành may mặc Việt Nam đầy triển vọng vì doanh nghiệp và nhà nước đang không ngừng nỗ lực để tăng cường vị thế cạnh tranh của Việt Nam trong thị trường may mặc toàn cầu bằn

Trang 1

TẠI VIỆT NAM

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 3

1 TỔNG QUAN NGÀNH MAY MẶC 3

1.1 Khái niệm ngành 3

1.2 Đặc trưng ngành may mặc 4

1.3 Thực trạng ngành may mặc ở Việt Nam 6

1.4 Ma trận SWOT ngành may mặc 7

2 CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG 10

2.1 Quy mô doanh nghiệp 10

2.2 Mức độ tập trung của ngành 12

2.3 Khoa học công nghệ 14

2.4 Cầu và điều kiện thị trường 15

2.5 Rào cản gia nhập ngành 19

3 HÀNH VI CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY 22

3.1 Hành vi định giá 22

3.2 Hoạt động mua bán liên kết hợp nhất và sát nhập 25

3.3 Hoạt động nghiên cứu và phát triển 28

3.4 Hoạt động phân phối và Marketing 30

4 HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 31

4.1 Các chỉ số đo lường 31

4.2 Kết quả tính toán và ý nghĩa 33

5 THÁCH THỨC ĐẶT RA CHO DOANH NGHIỆP MAY MẶC VIỆT NAM VÀ Một số KIẾN NGHỊ PHÁT TRIỂN NGÀNH DỆT MAY 37

5.1 Thuận lợi 37

5.2 Thách thức cho doanh nghiệp dệt may năm 2019 38

TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

Trang 4

Nhóm 7 Lớp KTE408(2-1819).2

LỜI MỞ ĐẦU

Ngành Dệt May Việt Nam là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn của Việt Nam Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, ngành Dệt May Việt Nam đóng góp 10% giá trị sản xuất công nghiệp toàn quốc, tạo công ăn việc làm cho 2,7 triệu lao động, chiếm tỷ lệ 25% tổng số lao động trong ngành Công nghiệp, chiếm 5% tổng số lao động Theo số liệu của Hiệp hội Dệt May Việt Nam, tính đến năm 2018, tổng số doanh nghiệp Dệt May cả nước đạt xấp xỉ 6.000 doanh nghiệp, trong đó số lượng các doanh nghiệp gia công hàng may mặc là 5.101 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 85% Ngành may mặc đã có những bước chuyển biến không ngừng, thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, ngày một hoàn thiện và phát triển, góp phần đưa nước ta hội nhập với nền kinh tế thế giới Tương lai của ngành may mặc Việt Nam đầy triển vọng vì doanh nghiệp và nhà nước đang không ngừng nỗ lực để tăng cường vị thế cạnh tranh của Việt Nam trong thị trường may mặc toàn cầu bằng cách tận dụng triệt để các lợi thế cạnh tranh quan trọng

Trên cơ sở những kiến thức đã được học ở bộ môn “Tổ chức ngành” cũng như qua phân tích bộ số liệu về các doanh nghiệp ngành may mặc, chúng em xin chọn “ Phân tích thị trường ngành may mặc ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu và báo cáo

Kết cấu bài báo cáo gồm có 5 phần:

1 Tổng quan ngành may mặc

2 Cấu trúc thị trường ngành may mặc

3 Hành vi các doanh nghiệp ngành may mặc

4 Phân tích hiệu quả ngành may mặc

5 Thách thức đặt ra cho doanh nghiệp may mặc Việt Nam và một số kiến nghị giải pháp

Trang 5

Nhóm 7 Lớp KTE408(2-1819).2

Nhóm chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Vũ Thị Phương Mai, giảng viên khoa Kinh tế quốc tế trường Đại học Ngoại thương, đã hướng dẫn chúng em thực hiện đề tài này, trang bị cho chúng em nền tảng kiến thức cần thiết để hoàn thiện bài báo cáo một cách tốt nhất Vì thời gian hạn chế và kiến thức có hạn cho nên bài tiểu luận có thể còn nhiều thiếu sót kính mong sự đóng góp ý kiến xây dựng của quý thầy cô để nhóm có thể hoàn thiện hơn các sản phẩm của mình trong thời gian tới

Chúng em xin chân thành cảm ơn!

Trang 6

Nhóm 7 Lớp KTE408(2-1819).2

NỘI DUNG

1 TỔNG QUAN NGÀNH MAY MẶC Khái niệm ngành

Ngành may mặc là một trong những ngành chủ đạo của công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng liên quan đến việc sản xuất sợi, dệt nhuộm, vải, thiết kế sản phẩm, hoàn tất hàng may mặc và cuối cùng là phân phối hàng may mặc đến tay người tiêu dùng

Ngành may mặc góp phần đảm bảo nhu cầu tiêu dùng, cần thiết cho hầu hết các ngành nghề và sinh hoạt, là một ngành đem lại thặng dư sản xuất cho nền kinh tế, góp phần giải quyết việc làm, tăng phúc lợi xã hội

Ngành bao gồm 3 mã ngành chính:

Mã ngành 14100: May trang phục (trừ trang phục từ da lông thú)

- Sản xuất trang phục, nguyên liệu sử dụng có thể là bất kỳ loại nào có thể được tráng, phủ hoặc cao su hoá

- Sản xuất trang phục bằng da hoặc da tổng hợp bao gồm các phụ kiện bằng da dùng trong các ngành công nghiệp như tạp dề da

- Sản xuất quần áo bảo hộ lao động

- Sản xuất quần áo khoác ngoài từ vải len, vải đan móc hoặc không phải đan móc

cho phụ nữ, nam giới, trẻ em như: áo khoác ngoài, áo jac ket, bộ trang phục, quần, váy

- Sản xuất quần áo lót hoặc quần áo đi ngủ làm từ vải len, vải đan móc, cho nam giới, phụ nữ hoặc trẻ em như: Áo sơ mi, áo chui đầu, quần đùi, quần ngắn bó, bộ pyjama, váy ngủ, áo blu, áo lót, coóc xê

Trang 7

Nhóm 7 Lớp KTE408(2-1819).2

- Sản xuất quần áo cho trẻ em, quần áo bơi, quần áo trượt tuyết;

- Sản xuất các đồ phụ kiện trang phục khác: Tất tay, thắt lưng, caravat, lưới tóc, khăn choàng, mũ, giày dép từ nguyên liệu dệt

Mã ngành 14200: Sản xuất sản phẩm từ da lông thú Sản xuất các sản phẩm làm từ da lông thú như: Trang phục lông thú và phụ trang, các phụ kiện làm từ lông da như tấm, miếng lót, mảnh dài, các sản phẩm phụ khác từ da long thú như thảm, đệm, mảnh đánh bóng công nghiệp

Mã ngành 14300: Sản xuất trang phục dệt kim, đan móc Nhóm này bao gồm: Sản xuất trang phục đan móc và các sản phẩm may sẵn khác, đan móc trực tiếp thành phẩm như: áo chui đầu, áo len, áo gile và các đồ tương tự, sản xuất hàng dệt kim như áo nịt, tất, sooc

Đặc trưng ngành may mặc

Sản phẩm của ngành có tính thiết yếu và thường xuyên thay đổi Sản phẩm cuối cùng của ngành công nghiệp dệt may là hàng may mặc,sản phẩm tiêu dùng thiết yếu, cơ bản sau nhu cầu về ăn ở của dân cư Nhu cầu này sẽ tăng lên theo mức tăng thu nhập của dân cư Khác trước kia, người ta chỉ dám nghĩ tới mặc bền thì bây giờ, mặc đẹp mới là điều được quan tâm trước nhất Sản phẩm dệt may mang tính thời vụ, chất liệu liên tục thay đổi, ngày càng trở nên phong phú, đa dạng Nhu cầu về sản phẩm cũng phải đáp ứng phù hợp với các yêu cầu khác nhau như du lịch, lễ hội, lao động, nghỉ ngơi

Đời sốngcủa con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu đó lại càng thay đổi và sản phẩm thay đổi theo Sản xuất phải đáp ứng thị trường theo các lô hàng nhỏ và thời gian sản xuất đến tiêu thụ là xu hướng hiện nay của hàng dệt may

Tiến bộ khoa học công nghệ tác động lên cả quá trình sản xuất lẫn tiêudùng hàng dệt may

Trang 8

Nhóm 7 Lớp KTE408(2-1819).2

Tiến bộ khoa học công nghệ tác động mạnh mẽ tới không chỉ sản xuất mà cảtiêu dùng các sản phẩm của ngành Ngày nay, trong xu thế hội nhập, toàn cầu hoá,nhu cầu đổi mới công nghệ ở bất kỳ một ngành nào cũng là cấp thiết Công nghệ mới tác động một cách sâu sắc và toàn diện đến hoạt động sản xuất của các ngành Đối với dệt may, trong điều kiện phải cạnh tranh gay gắt như hiện nay, khi mà công nghệ của ngành, đặc biệt là của ngành Dệt còn lạc hậu, manh mún thì ảnh hưởng của khoa học, kỹ thuật càng trở nên rõ nét

Không chỉ tác động đến sản xuất, khoa học Việt Nam còn ảnh hưởng tới tiêu dùng hàng dệt may Đối với hàng hoá mang tính chất mốt đặc thù như hàng dệt may thì sự thay đổi nhanh chóng trong hành vi tiêu dùng có ảnh hưởng lớn đến việc tiêu thụ sản phẩm Cùng với sự phát triển nhanh như vũ bão của công nghệ thông tin, sở thích và sự lựa chọn khách hàng luôn luôn thay đổi do thông tin được cập nhật từng ngày, từng giờ ảnh hưởng lan truyền trên quy mô toàn cầu khi có một chủng loại sản phẩm mới ra đời diễn ra hết sức nhanh chóng Khi một mẫu thiết kế được giới thiệu ở Mỹ, Pháp hay Hàn Quốc thì không lâu sau

đó, mẫu này sẽ có mặt ở Việt Nam Tác động này ảnh hưởng lên ngành may rõ hơn Tuy nhiên, để có thể đáp ứng kịp thời thị hiếu thường xuyên thay đổi đối với sản phẩm may, ngành Dệt vốn là ngành cung cấp nguyên liệu cho ngành may cũng không thể đứng ngoài cuộc

Là ngành sử dụng nhiều nhân công với trình độ kỹ thuật đòi hỏi không cao

Ngành dệt may sử dụng nhiều nhân công và trình độ kỹ thuật đòi hỏi không quá cao, đặc biệt là ngành May Kể cả ở những nước phát triển, công nghiệp dệt may cũng thu hút một

số lượng lớn lao động Và không giống các ngành công nghiệp khác như điện tử, luyện kim yêu cầu công nhân phải có trình độ kỹ thuật cao, ngành dệt may chủ yếu đòi hỏi sự thạo việc,lành nghề Kinh nghiệm của các nước đi trước cho thấy ngành công nghiệp này đặc biệt có vị trí quan trọng trong giai đoạn đầu công nghiệp hoá đất nước

Các khâu trong mối liên kết dọc của ngành có quy mô không giống nhau và không nhất thiết phải phát triển khép kín

Trang 9

Nhóm 7 Lớp KTE408(2-1819).2

Ngành có mối liên kết dọc chặt chẽ từ thượng nguồn đến hạ nguồn, bắt đầu từ khâu nguyên liệu, sau đó là kéo sợi, dệt vải, in nhuộm và cuối cùng là may Những khâu đầu như khâu sản xuất nguyên liệu (trồng bông, sản xuất tơ sợi nhân tạo và tổng hợp), khâu kéo sợi thường đòi hỏi quy mô nhất định và vốn đầu tư lớn Những khâu sau có thể sản xuất theo quy mô vừa và nhỏ Đặc biệt khâu may đầu tư cho một chỗ làm việc chỉ cẩn khoảng 1000$

vốn đầu tư ban đầu Khâu nhuộm và hoàn tất vải cũng là một khâu quan trọng, đảm bảo chất lượng và màu sắc vải cung cấp cho khâu may, làm phong phú mặt hàng Việc áp dụng khoa học công nghệ mới trong khâu đầu cũng nhiều hơn, như việc tạo ra các vật liệu, nguyên liệu mới, tự động hoá để nâng cao chất lượng và năng suất lao động

Thực trạng ngành may mặc ở Việt Nam

Xuất khẩu dệt may (tỷ USD) Sau 10 năm giá trị xuất khẩu dệt may tăng gấp 3 lần 4 thị trường lớn Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc chiếm đến 75% giá trị hàng xuất khẩu Việt Nam Các thị trường lớn như Nhật Bản, Hàn Quốc đều có sự tăng trưởng hơn 20% so với cùng kỳ bên cạnh thị trường mới Trung Quốc cũng gia tăng đến gần 50%

Các thị trường xuất khẩu dệt may chính Bốn thị trường lớn Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc chiếm đến 75% giá trị hàng xuất khẩu Việt Nam Các thị trường lớn như Nhật Bản, Hàn Quốc đều có sự tăng trưởng hơn 20% so với cùng kỳ bên cạnh thị trường mới Trung Quốc cũng gia tăng đến gần 50%

Ngành dệt may Việt Nam phát triển mạnh từ 2002 đến nay với mức tăng trưởng trung bình mỗi năm đến 20% Sau cuộc khủng hoảng kinh tế 2008, xuất khẩu dệt may chựng lại 1 năm nhưng sau đó hồi phục và duy trì tăng trưởng trung bình 15% đến nay Dệt may là một trong những ngành xuất siêu kỷ lục của VN khi năm 2017 đạt thặng dư đến 15.5 tỷ USD 8 tháng đầu năm 2018 kim ngạch xuất khẩu dệt may đã đạt 19.4 tỷ USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước Cao hơn tốc độ tăng 10.4% của cùng kì năm 2017 Năm 2017 không có

Trang 10

Nhóm 7 Lớp KTE408(2-1819).2

nhiều thuận lợi, nhưng vẫn tăng trưởng trên 10% so với năm 2016 Dự báo, năm 2018 tăng trưởng 10 – 12% so với năm 2017, đạt 34,4 – 35 tỷ USD; ngành dệt may có thể tiếp tục là ngành thu ngoại tệ nhiều thứ hai về cho Việt Nam Đây là nỗ lực đáng ghi nhận của ngành dệt may trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới vẫn bất ổn và tình hình dệt may thế giới không khả quan Bởi, các quốc gia nhập khẩu dệt may chính là Mỹ, EU, Nhật Bản đều có tốc độ tăng trưởng nhập khẩu dệt may thấp hoặc suy giảm trong 6 tháng đầu năm 2017

Xuất khẩu hàng may mặc sang các nước ASEAN đang rất thuận lợi, nhờ sức cạnh tranh cao và tận dụng hiệu quả những lợi ích từ việc tham gia cộng đồng kinh tế ASEAN mang lại Xuất khẩu sang thị trường này năm 2017 ước đạt 860 triệu USD, tăng 26% so với năm

2016 Dự báo, năm 2018 tiếp tục tăng trưởng mạnh

Năm 2018, ngành dệt may đặt mục tiêu xuất khẩu đạt 33,5 tỷ USD; tập trung đầu tư tái

cơ cấu nội bộ ngành, áp dụng công nghệ tiên tiến để tự cân đối dần các khâu, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm; chuyển dịch sản xuất theo vùng lãnh thổ; tăng cường hợp tác, liên doanh, liên kết giữa doanh nghiệp dệt may trong nước với nhau, doanh nghiệp trong nước với đầu tư nước ngoài; khai thác thị trường truyền thống song song khai thác thị trường mới; đẩy mạnh hàng FOB, ODM

Ma trận SWOT ngành may mặc

1.4.1 Điểm mạnh

Việt Nam được đánh giá cao nhờ ổn định chính trị và an toàn xã hội có sức hấp dẫn đối với các thương nhân và các nhà đầu tư nước ngoài

Chính phủ có những biện pháp ưu tiên và khuyến khích đầu tư vào ngành dệt may như

ưu đãi thuế nhập khẩu cho các nguyên liệu thô với mục đích sản xuất các sản phẩm may tái xuất khẩu trong 3-4 tháng, miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp,

Trang 11

Nhóm 7 Lớp KTE408(2-1819).2

Số người trong độ tuổi lao động Việt nam cao, trong khi dệt may là ngành thâm dụng lao động.Do đó, đây là một trong những lợi thế cạnh tranh của dệt may Việt Nam Chi phí lao động dệt may Việt Nam thấp,trong khi kỹ năng và tay nghề may được đánh giá cao

Sản phẩm dệt may Việt Nam đã được nhiều thị trường khó tính như Hoa Kỳ, EU, và Nhật Bản chấp nhận.Việt Nam là nhà sản xuất xuất khẩu quan trọng vào 2 thị trường lớn là Hoa Kỳ và EU Xây dựng mối quan hệ gắn bó với nhiều nhà nhập khẩu, nhiều tập đoàn tiêu thụ lớn trên thế giới

1.4.2 Điểm yếu

Mặt hàng còn phổ thông, chưa đa dạng Vẫn chưa thể sản xuất xuất khẩu theo số lượng lớn các mặt hàng yêu cầu hàm lượng kỹ thuật cao Ngành dệt và công nghiệp phụ trợ phát triển chưa tương xứng với ngành may nên không đủ nguồn nguyên phụ liệu đạt chất lượng

để cung ứng cho ngành may, do đó giá trị gia tăng không cao

Hầu hết các doanh nghiệp dệt may có quy mô vừa và nhỏ, khả năng huy động vốn đầu tư thấp, hạn chế khả năng đổi mới công nghệ, trang thiết bị Chính quy mô nhỏ đã khiến các doanh nghiệp chưa đạt được hiệu quả kinh tế nhờ quy mô, và chỉ có thể cung ứng cho một

số thị trường nhất định Kỹ năng quản lý sản xuất và kỹ thuật còn kém, năng suất lao động chưa cao Chưa có chiến lược đào tạo bài bản nguồn nhân lực dệt may chất lượng cao và đội ngũ thiết kế có khả năng cạnh tranh với các quốc gia khác Năng lực tiếp thị còn hạn chế, phần lớn các doanh nghiệp dệt may chưa xây dựng được thương hiệu riêng của mình trên thị trường quốc tế

1.4.3 Cơ hội

Sản xuất dệt may đang có xu hướng chuyển dịch sang các nước đang phát triển trong đó Việt Nam là một trong những điểm đến hấp dẫn nhất, qua đó tạo thêm cơ hội và nguồn lực mới cho các doanh nghiệp dệt may về cả tiếp cận vốn, thiết bị, công nghệ sản xuất, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, lao động có kỹ năng từ các quốc gia phát triển

Trang 12

1.4.4 Thách thức

Xuất phát điểm của dệt may Việt Nam còn thấp, công nghiệp phụ trợ chưa thực sự phát triển, nguyên phụ liệu chủ yếu nhập khẩu, tỷ lệ gia công cao, là thách thức lớn khi hội nhập kinh tế toàn cầu

Môi trường chính sách chưa thuận lợi Các văn bản pháp lý của Việt Nam còn đang trong quá trình hoàn chỉnh, trong khi năng lực của các cán bộ xây dựng và thực thi chính sách, cũng như các cán bộtham gia xúc tiến thương mại còn yếu

Các thị trường lớn vận dụng khá nhiều các rào cản về kỹ thuật, vệ sinh, an toàn, môi trường, trách nhiệm xã hội, chống trợ giá nhằm bảo hộ sản xuất trong nước Nhiều doanh nghiệp Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ, không đủ tiềm lực để theo đuổi các vụ kiện chống bán phá giá, dẫn đến thua thiệt trong các tranh chấp thương mại

Các rào cản thương mại trên đã được vận dụng ngày càng linh hoạt và tinh vi hơn, đặc biệt là trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu

Trang 13

Đơn vị tiêu biểu:

- CTCP Bông Việt Nam

Đơn vị tiêu biểu:

- TCT Phong Phú

- CTCP Sợi Phú Bài

- CTCP Sợi Thế

Kỷ

- CTCP Damsan

- CTCP Đầu tư và Phát triển Đức Quân

Đơn vị tiêu biểu:

- TCT Phong Phú

- TCT Việt Thắng

- Dệt 8/3

- Dệt kim Đông Xuân

- Dệt may Nam Định - Dệt may Hà Nội

Đơn vị tiêu biểu:

- TCT Phong Phú

- TCT CP May Việt Tiến

- TCT CP May 10

- CTCP May Nhà Bè

- CTCP Dệt may- Đầu tư- Thương mại Thành Công

- CTCP Đầu tư và Thương mại TNG

Phân phối

và Marketing

Trang 14

Nhóm 7 Lớp KTE408(2-1819).2

Toàn ngành dệt may Việt Nam có 8.770 doanh nghiệp với tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2018 đạt xấp xỉ 34,2 tỷ USD, trong đó 60% là doanh thu từ các doanh nghiệp FDI, còn lại 40% là doanh thu từ các doanh nghiệp trong nước

Có 21 doanh nghiệp hoạt động trong ngành may mặc và sợi niêm yết trên 3 sàn chứng khoán HOSE, HNX và UPCOM Trong đó 2 công ty may mặc lớn nhất VGG và VGT hiện vẫn còn trên UPCOM (chiếm đến 30% tổng vốn hóa ngành) Trong đó có khá nhiều doanh nghiệp FDI cỡ lớn đang chiếm thị phần xuất khẩu hơn 60% Với khoảng 21 DN dệt may đang niêm yết thì chưa thể đại diện được bức tranh tổng thể của ngành Nổi bật nhất trong các doanh nghiệp niếm yết là tập đoàn Dệt May Việt Nam (VGT), May Việt Tiến (VGG), Dệt may Thành Công (TCM) và một tên tuổi lớn ngành sợi là Sợi Thế Kỷ (STK) Sự khởi sắc của kinh tế Mỹ là một yếu tố thuận lợi giúp cho ngành dệt may Việt Nam tăng trưởng

ấn tượng năm 2018 Các doanh nghiệp niêm yết cũng đạt nhiều kết quả khả quan trong năm

Nhóm ngành dệt sợi, hiện tại Công ty Cổ phần Sợi Thế Kỷ (STK) đang dẫn đầu về giá trị vốn hóa, tổng tài sản đạt 2.104 tỷ đồng tính đến Quý 4/2018, đồng thời cũng đứng đầu

Trang 15

Nhóm 7 Lớp KTE408(2-1819).2

về quy mô tổng tài sản và quy mô vốn chủ sở hữu, tiếp sau đó là Công ty Cổ phần Đầu tư

và Phát triển Đức Quân (FTM) và Công ty cổ phần Damsan (ADS), đây là 3 công ty dệt sợi niêm yết lớn nhất hiện tại Kết quả kinh doanh của ngành dệt may thuộc nhóm ngành tăng trưởng tốt nhất của sàn chứng khoán

Mức độ tập trung của ngành

Ngành may mặc Việt Nam có mức độ tập trung thấp Điều này được thể hiện qua số lượng doanh nghiệp trên thị trường (có hơn 8000 doanh nghiệp) Mức độ cạnh tranh trong ngành rất cao, tổng các doanh nghiệp may lớn trong nước mới chỉ chiếm 40% thị trường nội địa Bên cạnh đó rào cản về ngành lại thấp, không yêu cầu cao về vốn và trình độ công nghệ, chi phí đào tạo lao động lại thấp Nên việc gia nhập ngành khá là dễ dàng

Tỷ lệ tập trung hóa CRm Công thức:

CRm=∑ qi

m i=1

Trang 16

Nhóm 7 Lớp KTE408(2-1819).2

Dù là những doanh nghiệp lớn nhưng tỷ lệ tập trung hóa vẫn còn thấp Thị phần 5 doanh nghiệp cộng vào còn chưa được ở mức 1/3 thị trường Quy mô thị trường may mặc Việt Nam theo Vinatex ước tính vào khoảng 4,5 tỷ USD mỗi năm Doanh thu hàng năm của năm doanh nghiệp kể trên tương đối cao, ví dụ như Vinatex doanh thu dao động từ 40 đến 50 nghìn tỷ Việt Nam đồng, nhưng trong đó thu được từ xuất khẩu khoảng hơn 60% Qua đó cho thấy doanh nghiệp trong nước đang phải cạnh tranh khốc liệt với hàng hóa được nhập khẩu và đang dần bị mất thị phần vào tay những thương hiệu thời trang nước ngoài nổi tiếng điển hình như Zara, H&M, Mango,…

Chỉ số HHI Chỉ số Herfindahl-Hirschman (HHI) được sử dụng đề nhận biết mức độ cạnh tranh của thị trường là hoàn hảo hay độc quyền cao HHI xác định bằng tổng bình phương thị phần của mỗi doanh nghiệp trong toàn hệ thống

Công thức: HHI=∑ni=1Si2Trong đó: + Si: Thị phần doanh nghiệp thứ i + n: Số lương doanh nghiệp tham gia thị trường Bảng 2: Kết quả tính chỉ số HHI qua các năm

Trang 17

Khoa học công nghệ

Trên thế giới hiện nay, toàn ngành dệt may thời trang đang chịu ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ từ cách mạng công nghiệp 4.0 Ở mọi công đoạn sản xuất, ứng dụng công nghệ trở thành yêu cầu bắt buộc đối với hầu hết các doanh nghiệp Theo ý kiến của nhiều chuyên gia trong ngành, việc bắt kịp xu hướng chất liệu, công nghệ mới hiện nay sẽ là yếu tố cần thiết giúp doanh nghiệp may Việt Nam tiếp cận người tiêu dùng thế giới, cũng như tăng giá trị cho sản phẩm

Chia sẻ tại hội thảo “Kỹ thuật dệt may KITECH - VITAS lần thứ 4” diễn ra vào cuối tháng 6 năm 2018, ông Nam Seung Il, Giám đốc Nghiên cứu về kinh doanh thời trang thuộc Tập đoàn E-Land (Hàn Quốc) -cho biết, trong ngành thời trang, quan trọng hơn hẳn vẫn là chất liệu Bởi vậy, đầu tư cho chất liệu là yếu tố quan trọng của ngành sản xuất vải

Hiện nay, xu hướng chất liệu vải được ứng dụng trong ngành thời trang theo hướng tốt cho sức khoẻ người tiêu dùng Cũng theo ông Nam Seung Il, ban đầu, thị trường vốn chuộng loại vải cotton để may các trang phục vào mùa hè song gần đây có khuynh hướng chuyển

Trang 18

hỗ trợ đắc lực cho nhà sản xuất

Ông Kwang Il Kim chuyên gia tư vấn chiến lược và Marketing của Tập đoàn CLO Virtual Fasshion Inc- cho hay, trong công đoạn may, quy trình có thể được thiết lập trên phần mềm Theo đó, kế hoạch sản xuất cho cả dây chuyền được phân tích cụ thể, từ việc phân bổ chỉ tiêu và theo dõi quá trình sản xuất từ cắt, may, đóng gói Hệ thống phần mềm

có chức năng tính toán luôn cho người sản xuất biết rõ về nhu cầu cần về ngày công và nhân công cần thiết để đáp ứng cho số lượng đơn hàng Công nghệ 3D giúp rút ngắn thời gian trong việc lên bảng vẽ mẫu, thay vì mất 2-3 tuần thì giờ đây chỉ cần vài giờ, đáp ứng yêu cầu nhanh chóng của xu hướng thời trang nhanh hiện nay Như vậy, các DN dệt may có điều kiện tiếp nhận nhiều đơn hàng hơn trước

Có thể nói, việc bắt kịp xu hướng vải, công nghệ mới tiên tiến hiện nay sẽ là yếu tố quan trọng và cần thiết giúp DN may của Việt Nam tiếp cận người tiêu dùng thế giới cũng như tăng giá trị cho sản phẩm

Cầu và điều kiện thị trường

Trong nước: Trong những năm gần đây, hàng loạt các hãng thời trang nổi tiếng trên thế giới như Versace, H&M, Zara,… đã thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường Việt Nam với sự

đa dạng về mẫu mã, chủng loại nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng Bên cạnh việc đẩy mạnh xuất khẩu, các doanh nghiệp dệt may trong nước đã đầu tư công nghệ, nghiên cứu phát triển sản phẩm với quyết tâm giành lại thị phần trong nước, tránh bị thua thiệt ngay trên “sân nhà" Các thương hiệu Việt đang dần chứng minh họ có đủ chỗ đứng và

Trang 19

Nhóm 7 Lớp KTE408(2-1819).2

phát triển tại thị trường nội địa Thay vì tập trung làm gia công xuất khẩu, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư làm thương hiệu riêng, sản phẩm chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu của người dùng trong nước Cái khó của hầu hết doanh nghiệp dệt may Việt Nam khi “về sân nhà” được không ít ông chủ ngành này thừa nhận Tuy nhiên, với quy mô từ 4-5 tỷ USD thị trường dệt may nội địa bước đầu có thể chọn một số doanh nghiệp mạnh, có thị phần tốt ở

đô thị làm mũi nhọn phát triển

Cạnh tranh bằng sự khác biệt: Từ năm 2016 Dugaco đã xây dựng một Trung tâm thời trang theo mô hình tập trung khép kín, từ thiết kế, may mẫu, sản xuất và phân phối nhằm tạo ra những sản phẩm chất lượng cao, cạnh tranh và có sự khác biệt, đến nay Dugaco đã đưa ra thị trường những thương hiệu thời trang có uy tín như Paul Downer, DGC, S.Pearl, HeraDG, Forever Young,… Công ty cổ phần may Chiến Thắng, sau hơn 20 năm làm gia công cho các thương hiệu nước ngoài, đến nay may Chiến Thắng đã đầu tư và cho ra thương hiệu thời trang mang tên Padu Với các tiêu chuẩn kỹ thuật công nghệ hiện đại, chuẩn xác tuyệt đối và đạt chất lượng tốt, Padu phục vụ cho cả đối tượng nam, nữ và trẻ

em Trao đổi với Báo Đầu tư Chứng khoán, ông Nguyễn Văn Thời, Chủ tịch TNG cho biết, ngày 4/6/2018 vừa qua, Công ty đã nhận đăng ký sở hữu riêng dòng sản phẩm sơ mi body không đường may, đây là sản phẩm độc quyền do TNG thiết kế và sản xuất

Mở rộng hệ thống bán lẻ: Đại diện của Tổng công ty May 10 cho biết, hàng loạt trung tâm thời trang mang thương hiệu May 10 đã được hình thành theo tiêu chí: thời trang châu

Âu, công nghệ Nhật Bản, tiện dụng Mỹ và giá cả Việt Nam, mang đậm phong cách Việt

Ngoài việc duy trì hơn 200 cửa hàng, đại lý trên toàn quốc, tổng công ty tiếp tục đầu tư, nâng cấp và mở rộng các cửa hàng, trung tâm thời trang có quy mô từ 200 đến 300 m2 cùng với hàng trăm mẫu mã sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu mua sắm của khách hàng

Tương tự, các tổng công ty như may Việt Tiến, Nhà Bè, Việt Thắng cũng xây dựng chiến lược riêng của mình nhằm mở rộng hệ thống bán lẻ trên toàn quốc để gia tăng thị phần

Ngoài nước: Trong 8 tháng đầu năm 2018, kim ngạch xuất khẩu Việt Nam đạt 155.4 tỷ USD, tăng 14.5 so với cùng kỳ Bên cạnh nhóm điện thoại, Điện tử máy tính thì ngành dệt

Trang 20

Nhóm 7 Lớp KTE408(2-1819).2

may cũng đang vươn lên là một trong những ngành công nghiệp quan trọng mang lại ngoại

tệ lớn nhất Sự tăng trưởng của ngành rất lạc quan với mục tiêu xuất khẩu tăng trưởng 10%

– 15% mỗi năm

Ngành dệt may Việt Nam phát triển mạnh từ 2002 đến nay với mức tăng trưởng trung bình mỗi năm đến 20% Sau cuộc khủng hoảng kinh tế 2008, xuất khẩu dệt may chựng lại 1 năm nhưng sau đó hồi phục và duy trì tăng trưởng trung bình 15% đến nay Dệt may là một trong những ngành xuất siêu kỷ lục của VN khi năm 2017 đạt thặng dư đến 15.5 tỷ USD 8 tháng đầu năm 2018 kim ngạch xuất khẩu dệt may đã đạt 19.4 tỷ USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước Cao hơn tốc độ tăng 10.4% của cùng kỳ 2017 Sau 10 năm giá trị xuất khẩu dệt may tăng gấp 3 lần

Trang 21

Nhóm 7 Lớp KTE408(2-1819).2

4 thị trường lớn Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc chiếm đến 75% giá trị hàng xuất khẩu Việt Nam Các thị trường lớn như Nhật Bản, Hàn Quốc đều có sự tăng trưởng hơn 20% so với cùng kỳ bên cạnh thị trường mới Trung Quốc cũng gia tăng đến gần 50%

Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu chính của dệt may chiếm đến gần 40% tổng kim ngạch Nhờ sự tăng trưởng trở lại của kinh tế Mỹ mà tình hình nhập khẩu hàng may mặc khởi sắc Việc Mỹ khơi mào chiến tranh thương mại với Trung Quốc là cơ hội cho các nước cạnh tranh bên cạnh Trung Quốc như Việt Nam, Mexico, Campuchia, Bangladesh

Đây là cơ hội cho ngành dệt may Việt Nam nhưng có một vấn đề khác là Trung Quốc có thể đẩy mạnh việc luân chuyển sản xuất sang các nước láng giềng nhằm tận dụng lợi thế cạnh tranh về chi phí nhân công, thương mại và đi đường vòng vào Mỹ Khi đó, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có thể phải đối mặt với làn sóng đầu tư đến từ các doanh nghiệp Hongkong, Trung Quốc và Đài Loan

Một số thị trường tăng trưởng rất mạnh trong năm 2018 như Nhật Bản tăng 24,6%;

Canada tăng 15,5%; Hàn Quốc tăng 25%; Trung Quốc tăng gần 50% Một số thị từ EU như Pháp, Hà Lan, Anh, Đức mang lại nguồn thu lớn và tăng tốt từ 10% - 15% so với cùng kỳ

Trang 22

tư vào ngành dệt may (như TCM) đã tạo thêm các mối quan hệ giao thương hai nước Dự báo dệt may VN có thể tăng 20% xuất khẩu vào Hàn Quốc

Bên cạnh đó sau khi Mỹ rút lui khỏi TPP, hiệp định CPTPP có hiệu lực vào ngày 14/01/2019 gồm 11 thành viên Australia, Brunei, Canada, Chilê, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam sẽ được ký kết và thực thi vào năm sau Các lĩnh vực mà Việt Nam hưởng lợi nhiều nhất chính là dệt may và da giầy Đặc biệt

là 3 thị trường lớn Canada, Mexico và Australia - 3 thành viên CPTPP mà Việt Nam chưa

có thỏa thuận thương mại tự do (FTA) Giá trị của 3 thị trường này khoảng 10-13 tỷ USD,

và thị phần của Việt Nam trong tổng kim ngạch nhập khẩu là 300 triệu đến 500 triệu USD

Rào cản gia nhập ngành

Nhờ việc thông qua các hiệp định CPTPP sẽ tạo sự sôi động và thay đổi đáng kể một số ngành công nghiệp chủ lực Việt Nam như da giầy và đặc biệt là may mặc Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang theo xu hướng bảo hộ và nước Mỹ theo đuổi mục tiêu cân bằng thương mại sẽ làm cho các nước sẽ phải cân đối lại các nguồn lực và đẩy mạnh thế mạnh của mình tạo sức cạnh tranh quốc gia Ngành dệt may Việt Nam hiện nay dù đang nổi lên là một tên tuổi mới nhưng vẫn chưa đuổi kịp xu thế công nghệ hóa toàn cầu và sự lệ thuộc còn khá lớn vào nguồn nguyên liệu Những rào cản này cần một tầm nhìn chiến lược mang tính

vĩ mô để có thể thay đổi được bộ mặt của ngành

Trang 23

Nhóm 7 Lớp KTE408(2-1819).2

Về khâu thiết kế các sản phẩm: Nguyên nhân chính của thiết kế thời trang kém phát triển ngành thời trang còn tồn tại quá nhiều rào cản Không có chính sách bảo hộ thương hiệu thời trang, đặt các doanh nghiệp thời trang Việt vào thế bí ngay trên sân nhà; vấn đề đào tạo; vấn đề bảo hộ bản quyền thiết kế Đào tạo chuyên ngành thời trang ở ta chưa bài bản, chưa đi sâu và có lớp lang thực sự, chưa có một nền giáo dục về công nghiệp thời trang hoàn chỉnh và đồng bộ Nhiều nhà thiết trẻ không được đào tạo, chỉ gắn bó với thời trang

do sự yêu thích và lòng đam mê nên tự tìm tòi, học hỏi Thêm vào đó, một vấn đề đáng báo động là về bản quyền thiết kế ở nước ta không được bảo vệ một cách mạnh mẽ Bên cạnh

đó, thiết kế thời trang chỉ phát triển bền vững khi chúng ta có một ngành dệt may chuyên nghiệp tạo ra những chất liệu tốt cho những mẫu sáng tạo Chúng ta cần một đội ngũ tổ chức các chương trình biểu diễn, giới thiệu thời trang chuyên nghiệp để các chương trình biểu diễn thời trang mang đúng tính chất của nó chứ không chỉ là những tiết mục biểu diễn giải trí Với những lý do đó, hoạt động thiết kế thời trang tại Việt Nam trong thời gian qua

dù có nhiều sự kiện đáng truyền thông nhưng chỉ là tự phát, chưa phát triển và hoạt động trên những nền tảng vững chắc Đó là cũng là rào cản để Việt Nam phát triển mạnh mẽ các hoạt động này để có thể tham gia vào khâu này trong chuỗi giá trị toàn cầu

Về khâu sản xuất nguyên phụ liệu: Việt Nam chưa thể tiếp cận khâu này trong chuỗi dệt may toàn cầu có thể là kết quả của một “vòng luẩn quẩn” Điều này có nghĩa là công nghiệp

hỗ trợ chưa phát triển do các doanh nghiệp may chủ yếu là gia công, nguyên liệu do khách hàng chỉ định và không thể mua nguyên liệu trong nước nên không thúc đẩy công nghiệp

hỗ trợ phát triển Và ngược lại, do nguồn cung nguyên liệu trong nước không có chất lượng, thiếu về số lượng nên các doanh nghiệp dệt may không chủ động được nguyên liệu

để sản xuất theo FOB, ODM hay OBM nên chủ yếu hoạt động theo hình thức gia công

Chuỗi ung ứng nguyên phụ liệu cho ngành Dệt may cho thấy Việt Nam còn phụ thuộc phần lớn vào nguồn cung nguyên phụ liệu từ nước ngoài Bên cạnh đó, lại xảy ra hiện tượng các nguyên liệu sản xuất trong nước xuất khẩu ra nước ngoài do không bắt nhịp được với thị trường trong nước và đáp ứng được yêu cầu chất lượng Nguyên nhân xâu xa nhất là bắt nguồn từ việc Việt Nam chưa có một chính sách nào để phát triển một cách đồng bộ,

Ngày đăng: 11/10/2022, 08:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tỷ lệ tập trung hóa của 5 doanh nghiệp may mặc lớn của Việt Nam (Vinatex,  May 10, Việt Tiến, Phong Phú, Hòa Thọ) - (Tiểu luận FTU) phân tích thị trường ngành may mặc ở việt nam
Bảng 1 Tỷ lệ tập trung hóa của 5 doanh nghiệp may mặc lớn của Việt Nam (Vinatex, May 10, Việt Tiến, Phong Phú, Hòa Thọ) (Trang 15)
Bảng 5: Các chỉ số đo lường mức độ hoạt động và mức độ sinh lời của ngành 13 trong  năm 2010 - (Tiểu luận FTU) phân tích thị trường ngành may mặc ở việt nam
Bảng 5 Các chỉ số đo lường mức độ hoạt động và mức độ sinh lời của ngành 13 trong năm 2010 (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w