LỜI GIỚI THIỆUThâm hụt hay bội chi ngân sách đang là một vấn đề nan giải chưatìm ra hướng giải quyết của Việt Nam trong những năm vừa qua kéo theomột loạt các hậu quả làm gia tăng tỷ lệ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Trang 2ST T
Trang 3MỤC LỤC
LỜI GIỚI THIỆU 4
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Mục tiêu nghiên cứu 8
4 Cấu trúc bài nghiên cứu 8
NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
1 Tổng quan nghiên cứu trong nước và thế giới 10
1.1 Quan điểm của một số trường phải kinh tế trước đây 10
1.2 Tóm tắt các nghiên cứu trên thế giới 12
1.3 Tổng quan một số nghiên cứu trong nước 14
2 Cơ sở lý thuyết 15
2.1 Ngân sách Nhà nước 15
2.2 Đặc điểm của ngân sách nhà nước 16
3 Phương pháp nghiên cứu 21
4.Mô hình nghiên cứu 21
CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
1 Kết quả nghiên cứu 25
1.1 Mô tả thống kê dữ liệu 25
1.2Mô tả tương quan giữa các biến 26
2 Kết quả ước lượng và một số kiểm định mô hình 29
3 Thảo luận kết quả nghiên cứu 35
Trang 4CHƯƠNG III: KẾT LUẬN 41
1 Kết luận kết quả nghiên cứu 41
2 Chính sách kiến nghị 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 5LỜI GIỚI THIỆU
Thâm hụt (hay bội chi) ngân sách đang là một vấn đề nan giải chưatìm ra hướng giải quyết của Việt Nam trong những năm vừa qua kéo theomột loạt các hậu quả làm gia tăng tỷ lệ nợ công trên GDP, làm tăng lãisuất, tác động tiêu cực tới tỷ giá, bất ổn kinh tế vĩ mô và gây áp lực trở lạiđối với ngân sách nhà nước khiến Việt Nam đi vào một vòng luẩn quẩnvới gánh nặng nợ ngày càng tăng
Trên thực tế, mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế là một vấn đề được nghiên cứu khá rộng rãi trên cả phương diện lý thuyết vàkiểm định thực nghiệm Đã có rất nhiều nghiên cứu được thực hiện theo nhiều phương pháp từ định lượng đến định tính với nhiều bộ số liệu phong phú, đa dạng Từ đó có thể thấy rằng, ứng với mỗi điều kiện kinh
tế, xã hội, hoàn cảnh của mỗi quốc gia thì thâm hụt ngân sách có những ảnh hưởng nhất định đến tăng trưởng kinh tế: tốt có, xấu có, trung lập cũng có
Việt Nam thuộc nhóm các nền kinh tế đang phát triển, tình trạng thâm hụt ngân sách đã kéo dài qua hàng thập kỷ và tạo ra những tác động trái chiềulên nền kinh tế Hiện trạng thâm hụt ngân sách là vấn đề gây nhiều chú ý tại Việt Nam và đã rất nhiều lần được đưa ra bàn bạc tại Quốc hội cũng như các kỳ họp của Chính phủ Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu để có cái nhìn khách quan cũng như hỗ trợ cho việc hoạch định chính sách của Chính phủ được thực hiện Các bài viết đã có mới chỉdừng lại ở một khía cạnh nhất định như nghiên cứu mô hình định lượng
để tìm ra mối quan hệ các biến, hoặc dựa vào phân tích chủ quan từ những dữ liệu trong quá khứ, mà chưa có một bài nghiên cứu nào kết hợp hai phương pháp nghiên cứu này Thêm nữa, một số bài nghiên cứu định lượng trước đây tại Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá tác động trực tiếp của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế mà chưa xét đến
Trang 6các hiệu ứng dẫn truyền gián tiếp khác Vì vậy, nhóm chúng tôi đã quyết định thực hiện bài nghiên cứu này nhằm giải quyết các hiện trạng trên.
Bài viết sẽ không đề cập quá nhiều đến các khải niệm về thâm hụt ngân sách
mà sẽ tập trung đánh giá mối quan hệ của nó đến các biến số vĩ mô khác, đặc biệt là tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam và đưa ra các khuyến nghị xây dựng kế hoạch ngân sách hiệu quả
Bài nghiên cứu còn nhiều sai xót một phần bởi sự phức tạp trong diễn biến của nền kinh tế Việt Nam cũng như sự hạn chế về cách nhìn nhận, sưu tầm số liệu tài liệu Rất mong nhận được những góp ý từ cô và các bạn để bài nghiên cứu của nhóm em được hoàn thiện
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ năm 1986, khi Việt Nam chính thức áp dụng chính sách nền kinh tế mở cửa, kinh tế Việt Nam đã có nhiều biến động lớn, cả tích cực và tiêu cực Theo số liệu được tổng hợp từ ADB và tradingecconomic, tình trạng ngân sách của Việt Nam trong những thập kỉ vừa qua liên tục thâm hụt và tỷ lệ thâm hụt ngân sách trên GDP luôn ở trên mức 5%, mức thâm hụt thuộc diện cao nhất trong khu vực
Thự trạng được mô tả qua biểu đồ dưới đây
Theo: Vneconomy
Trang 8Theo: Tổng cục thống kê
Qua biểu đồ được mô tả, tương ứng mỗi mức tỷ trọng khác nhau của thâm hụt ngân sách trên GDP thì tốc độ tăng trưởng kinh tế lại có sự khác nhau (biến động khá mạnh) Ngoài những tác động trực tiếp lên nền kinh tế thì thâm hụt
Trang 9ngân sách cũng có thể tác động gián tiếp đến GDP thông qua một số yếu tố vĩ
mô khác như nợ công, lạm phát, tín dụng,
Qua thực trạng trên có thể thấy, nền kinh tế Việt Nam có nhiều biến động và việc nghiên cứu, tìm ra những giải pháp giúp điều tiết hiệu quả hơn cán cân ngân sách là điều vô cùng cần thiết và cấp bách
2 Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu hướng đến 2 mục tiêu chính:
- Phân tích làm rõ mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách với tăng trưởng kinh
tế tại Việt Nam
- Đưa ra các khuyến nghị quản lí hiêu quả hơn ngân sách nhà nước nhằm thúcđẩy kinh tế phát triển với thực trạng ở Việt Nam
3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu trên ba vấn đề chính:
- Tổng quan về thực trạng cán cân ngân sách qua các nghiên cứu trên thế giới
và Việt Nam, sự tác động của thâm hụt ngân sách đến nền kinh tế
- Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách với các biến số vĩ mô và tác động đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
- Khuyến nghị đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, thúc đẩy kinh tế phát triển
Bài viết sử dụng số liệu liên quan đến cán cân ngân sách và GDP từ giai đoạn 2000-2017
4 Cấu trúc bài nghiên cứu
Dựa vào mục tiêu và phạm vi tiếp cận đã nêu trên, bài nghiên cứu được thực hiện theo ba phần chính, bao gồm:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên
cứu Chương này nhằm mang đến cho người đọc cái nhìn tổng quan về thâm hụt
Trang 10ngân sách và mối quan hệ của nó với tăng trưởng kinh tế thông qua các bài nghiện cứu đã có tại Việt Nam cũng như trên thế giới.
Chương 2: Xây dựng mô hình nghiên cứu và phân tích, thảo luận Đây là
nội dung chính của bài nghiên cứu, ứng dụng mô hình kinh tế lượng và phân tích dữ liệu để tìm ra mối tác động của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinhtế
Chương 3: Kết luận Chương này tập trung đưa ra một số giải pháp của tác
giả dựa trên mối quan hệ tìm được ở trên
Trang 11NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Tổng quan nghiên cứu trong nước và thế giới
1.1 Quan điểm của một số trường phải kinh tế trước đây
Trường phái cổ điển: Theo lý thuyết này, ngân sách hàng năm phải cân
bằng, tức tổng số thu bằng tổng số chi, không để xảy ra thâm hụt hay thặng dư ngân sách Nếu tổng chi lớn hơn tổng thu sẽ gây ra bội chi ngân sách, chính phủ tài trợ khoản thâm hụt này bằng cách đi vay, hậu là là lạmphát gia tăng, tiền tệ bị phá giá, áp lực trả nợ vay được đẩy về tương lai khiến cho thâm hụt sẽ càng trở nên trầm trọng Nếu tổng thu vượt quá tổng chi, khiến thặng dư ngân sách nhà nước Điều này đến lượt nó lại cho thấy các khoản tiền nhà nước thu về đang không được sử dụng hiệu quả, tạo ra giá trị thặng dư, gây lãng phí nguồn lực xã hội Thêm nữa, việclãng phí nguồn lực của người dân dần dần sẽ đẩy nhà nước đến áp lực từ
sự bất bình của công chúng
Lý thuyết ngân sách chu kỳ: Theo đó, sự cân bằng của ngân sách nhà nước
không nên dùy trì trong khuôn khổ một năm mà sẽ duy trì trong khuôn khổ một chu kỳ, điều này sẽ giúp nhà nước thực hiện các chính sách phù hợp trong từng điều kiện kinh tế Trong giai đoạn thịnh vượng, nhà nước nên tạo lập một quỹ dự trữ nhằm tài trợ cho những giai đoạn suy thoái về sau Ngược lại ở giai đoạn nền kinh tế suy thoái, nhà nước đứng ra tài trợ bằng thâm hụt ngân sách sẽ thúc đẩy nền kinh tế đi lên, tài trợ cho những
Trang 12chương trình kinh tế lớn và sẽ được bù đắp bởi thặng dư ngân sách trong tương lai.
Lý thuyết về ngân sách cố ý thiếu hụt: Cân bằng ngân sách phải được giải
quyết tùy thuộc vào thực trạng nền kinh tế và những ảnh hưởng của chínhsách thu, chi công Chấp nhận thâm hụt có thể gây ra hậu quả lạm phát lên nền kinh tế, nhưng được đổi lại bằng sự thúc đẩy kinh tế đi lên, lấy nguồn thu năm sau bù đắp cho thâm hụt của những năm trước Tuy nhiên
sự thiếu hụt chỉ mang tính chất tạm thời và trong tương lai, chính phủ vẫnhướng đến mục tiêu ngân sách thăng bằng/
Một số quan điểm khác:
Trường phải Keynesian: Hai giả định cơ bản là chính phủ luôn đưa ra các
chính sách tài khóa phù hợp và trường phải Keynes chủ yêu quan tâm đếntác động của thâm hụt ngân sách trong ngắn hạn Từ đó đưa ra kết luận:
Thâm hụt ngân sách và tăng trường kinh tế có mối quan hệ cùng chiều
Theo Keynes, thâm hụt ngân sách từ việc tăng chi tiêu chính phủ có thể làm tăng tổng cầu và cải thiện niềm tin nhà đầu tư, từ đó kích thích đầu tư
và tiết kiệm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Tác động từ việc giảm thuế cũng tương tự Từ đó họ đưa ra kết luận: Thâm hụt ngân sách vào đúng thời điểm và cách thức triển khai là cần thiết cho tăng trưởng kinh tế
Trường phái tân cổ điển (neoclassical): Thâm hụt ngân sách và tăng trưởng
kinh tế có mối quan hệ ngược chiều Thâm hụt sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến
Trang 13hệ thống thuế trong tương lai, người tiêu dùng hiện tại sẽ tiêu dùng nhiều hơn và làm giảm tiết kiệm quốc gia Cuối cùng sẽ làm giảm đầu tư khu vực tư nhân Cũng theo trường phải này nếu tài trợ thâm hụt ngân sách bằng các khoản vay trong nước sẽ làm tăng lãi suất, giảm đầu tư tư nhân,
từ đó có thể gây ra lạm phát và giảm sản lượng sản xuất trong nền kinh tế
Lý thuyết về thâm hụt ngân sách của Riccardo: Khác với hai trường phái
nói trên, quan điểm của trường phái Ricardo cho rằng, thâm hụt ngân sáchkhông tác động đến các biến số kinh tế vĩ mô cả trong ngắn hạn và dài hạn Ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách và thuế đối với tiêu dùng là tương đương nhau vì tăng thâm hụt ngân sách do giảm thuế ở thời điểm hiện tại sẽ phải trả giá bằng việc tăng thuế trong tương lai, bao gồm cả trả lãi cho các khoản vay (Harrison, 2003; Karras, 1994) Với hàm ý này, người tiêu dùng trong thời điểm hiện tại sẽ tiết kiệm một khoản cần thiết
để trả cho mai sau hay quyết định tiêu dùng của họ không chỉ dựa vào thunhập hiện tại mà còn dựa vào thu nhập kỳ vọng tương lai Hơn nữa, khi thâm hụt ngân sách tăng do giảm thuế thì thu nhập khả dụng của người dân tăng lên, đồng thời họ ý thức được cắt giảm thuế trong hiện tại sẽ dẫnđến tăng thuế trong tương lai, do vậy họ sẽ tiết kiệm nhiều hơn Vì vậy,
dù thâm hụt ngân sách làm cho tiết kiệm của khu vực nhà nước giảm xuống, tuy nhiên tổng của tiết kiệm tư nhân và tiết kiệm của nhà nước sẽ không đổi Tóm lại, thâm hụt ngân sách sẽ không tác động đến tiết kiệm, đầu tư, tăng trưởng (và cả lạm phát) như lập luận của các trường phái nói trên (Saleh, 2003)
Trang 141.2 Tóm tắt các nghiên cứu trên thế giới
http://econofact.org/government-budget-deficits-and-economic-growth:
ngân sách và tăng trưởng kinh tế chỉ ra rằng :Thâm hụt ngân sách lớn của chính
phủ có thể được đảm bảo vào thời điểm nền kinh tế suy thoái, như trong giai đoạnsuy thoái kinh tế bắt đầu năm 2008, nhằm kích thích chi tiêu và giảm nhẹ yếu kém
về kinh tế Nhưng những khoản thâm hụt lớn xảy ra khi nền kinh tế đang ở mứcgần hoặc đủ sức làm tăng mối lo ngại về việc tăng chi phí đi vay, giảm vốn tưnhân, Thâm hụt có thể giảm đi khi kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, nhưng sự kếthợp của các chính sách có khả năng và tốc độ tăng trưởng GDP hợp lý cho Hoa Kỳcho thấy thâm hụt đang gia tăng trong thập kỷ tiếp theo Kích thước của sự khácbiệt giữa giả định của Cơ quan về tăng trưởng kinh tế và của CBO là chưa từng có,
có ý nghĩa cho việc Chính phủ tuyên bố rằng các chính sách của họ sẽ cân bằngngân sách vào năm 2027
Odhiambo and Momanyi (2013) sử dụng mô hình hàm sản xuất, nghiên
cứu mối quan hệ trên tại Kenya cho rằng tăng thâm hụt ngân sách đến từ việc tăngđầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, hệ thống giáo dục, y tế, sẽ thúc đẩy tăng trưởngkinh tế
Theo Kimberly Amadeo trong bài báo “Budget Deficit: How It Affects the Economy Why the Government Can Run a Budget Deficit and You Can't” (2017) việc bù đắp thâm hụt ngân sách bằng phát hành trái phiếu chính phủ hay phát hành tiền đều dẫn đến tình trạng thâm hụt nặng hơn về
dài hạn.
Daniel J.Mitchell, Ph.D.trong bài nghiên cứu “Tác động của chi tiêu
chính phủ đến tăng trưởng kinh tế (2005) “: Áp dụng các lý thuyết kinh tế phân
tích chi phí – lợi ích của chi tiêu công và các nghiên cứu thực nghiệm về 2 loại nhànước (big goverment và small goverment) để đưa ra kết luận về tác động tiêu cực
Trang 15của chi tiêu công đến khu vực kinh tế tư nhân, cuối cùng sẽ kìm hãm giảm tăngtrưởng kinh tế Bài viết cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của tính hiệu quả chínhphủ trong thời kỳ toàn cầu hóa và đề xuất mức gánh nặng chính phủ/GDP mục tiêu
để đạt hiệu quả kinh tế
1.3 Tổng quan một số nghiên cứu trong nước
“Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, thâm hụt ngân sách với lạm phát ở Việt Nam” - Nguyễn Thành Nam ( 2013): Nghiên cứu tác động của cán cân ngân sách nhà nước đến tình hình kinh tế giai đoạn 1990-2012 chỉ ra rằng:
Bội chi NSNN ở mức cao đều có nguy cơ gây ra lạm phát Bởi vì, khi ngân sách bị bội chi có thể được bù đắp bằng phát hành tiền hoặc vay nợ, đều gây nên nguy cơ lạm phát tăng thâm hụt ngân sách Việt Nam được tài trợ phần lớn bằng cách vay nợ thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ Lượng trái phiếu này có thể được mua bởi Ngân hàng Nhà nước (hình thức cấp tín dụng trực tiếp cho Chính phủ) sẽ làm tăng lượng tiền cơ sở Hoặc lượng trái phiếu được mua bởi các ngân hàng thương mại, sau đó các ngân hàng thương mại đem cầm cố chúng tại Ngân hàng Nhà nước thông qua nghiệp vụ thị trường
mở hoặc nghiệp vụ tái cấp vốn (cấp tín dụng gián tiếp cho Chính phủ) Điều này cũng làm tăng lượng tiền cơ sở và tăng cung tiền gây lạm phát.
Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế ở việt nam (Huỳnh Thế Nguyễn, Nguyễn Lê Hà Thanh Na, Lê Quốc Nghi- 2005):
Theo đó bào viết chỉ ra mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh
Trang 16tế ở Việt Nam bằng mô hình Véc tơ tự hồi qui (VAR) Kết quả nghiên cứu chothấy thâm hụt ngân sách không có sự liên hệ rõ ràng với tăng trưởng kinh tế, tuynhiên tổng đầu tư có quan hệ nhân quả với thâm hụt ngân sách và tăng trưởngkinh tế Vì vậy để tăng trưởng ổn định trong thời gian tới, Chính phủ cần thiếttriển khai, kiểm soát các dòng vốn đầu tư cũng như điều hành ngân sách một cáchhiệu quả, chất lượng
Phạm Thế Anh đã chỉ ra trong bài viết “ thâm hụt ngân sách, nợ công
và rủi ro vĩ mô ở Việt Nam” những số liệu về thu, chi ngân sách nhà nước, diễn
biến nợ công từ 2001 – 2013, chỉ ra những tác động tiêu cực của thâm hụt ngânsách đến lạm phát, lãi suất, tỷ giá, từ đó tác động xấu đến tăng trưởng kinh tế quaviệc kìm hãm tiết kiệm, đầu tư tư nhân, giảm năng lực sản xuất trong dài hạn vàlàm thay đổi hiệu quả sử dụng nguồn lực Tác giả cũng đưa ra cảnh báo về tìnhtrạng thâm hụt ngân sách dẫn đến nợ công lớn, đặc biệt từ khối các DNNN có thểdẫn đến hiện tượng “hạ cánh cứng” (chuyển nhanh từ tăng trưởng cao sang suythoái) cũng như đề xuất các giải pháp nhằm kiểm soát tình trạng trên
2 Cơ sở lý thuyết 2.1Ngân sách Nhà nước
“Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước”
( theo Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam đã được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002)
Trang 17Theo định nghĩa của IMF: Ngân sách nhà nước là một khâu của hệ thống tài chính quốc gia, nó phản ánh quan hệ tài chính phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước và khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước, trên cơ sở luật định.
Thực chất, ngân sách nhà nước phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định
Xét về các quan hệ kinh tế chứa đựng trong NSNN, các khoản thu, chi liên quan đến NSNN đều phản ảnh những quan hệ kinh tế nhất định giữa Nhà nước
và người nộp, giữa Nhà nước và cơ quan, đơn vị thụ hưởng quỹ
Sự hình thành và phát triển của ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện
và phát triển của kinh tế hàng hóa - tiền tệ trong các phương thức sản xuất của cộng đồng và nhà nước của từng cộng đồng Nói cách khác, sự ra đời của nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hóa - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Ngân sách trung ương là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở trung ương Ngân sách địa phươngbao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân
2.2Đặc điểm của ngân sách nhà nước
Thứ nhất, việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn liền vớiquyền lực kinh tế - chính trị của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên
cơ sở những luật lệ nhất định NSNN là một bộ luật tài chính đặc biệt, bởi
lẽ trong NSNN, các chủ thể của nó được thiết lập dựa vào hệ thống các
Trang 18pháp luật có liên quan như hiến pháp, các luật thuế,… nhưng mặt khác,bản thân NSNN cũng là một bộ luật do Quốc hội quyết định và thông quahằng năm, mang tính chất áp đặt và bắt buộc các chủ thể kinh tế - xã hội
có liên quan phải tuân thủ
Thứ hai, NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nước và luôn chứađựng lợi ích chung, lợi ích công cộng Nhà nước là chủ thể duy nhất cóquyền quyết định đến các khoản thu – chi của NSNN và hoạt động thu –chi này nhằm mục tiêu giúp Nhà nước giải quyết các quan hệ lợi ích trong
xã hội khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc giagiữa Nhà nước với các tổ chức kinh tế - xã hội, các tầng lớp dân cư
Thứ ba, NSNN là một bản dự toán thu chi Các cơ quan, đơn vị cótrách nhiệm lập NSNN và đề ra các thông số quan trọng có liên quan đếnchính sách mà Chính phủ phải thực hiện trong năm tài khóa tiếp theo
Thu, chi NSNN là cơ sở để thực hiện các chính sách của Chính phủ
Chính sách nào mà không được dự kiến trong NSNN thì sẽ không đượcthực hiện Chính vì như vậy mà, việc thông qua NSNN là một sự kiệnchính trị quan trọng, nó biểu hiện sự nhất trí trong Quốc hội về chính sáchcủa Nhà nước Quốc hội mà không thông qua NSNN thì điều đó thể hiện
sự thất bại của Chính phủ trong việc đề xuất chính sách đó, và có thể gây
ra mâu thuẫn về chính trị
Thứ tư, NSNN là một bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốcgia Hệ thống tài chính quốc gia bao gồm: tài chính nhà nước, tài chínhdoanh nghiệp, trung gian tài chính và tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình
Trong đó tài chính nhà nước là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chínhquốc gia Tài chính nhà nước tác động đến sự hoạt động và phát triển củatoàn bộ nền kinh tế - xã hội Tài chính nhà nước thực hiện huy động vàtập trung một bộ phận nguồn lực tài chính từ các định chế tài chính khácchủ yếu qua thuế và các khoản thu mang tính chất thuế Trên cơ sở nguồnlực huy động được, Chính phủ sử dụng quỹ ngân sách để tiến hành cấpphát kinh phí, tài trợ vốn cho các tổ chức kinh tế, các đơn vị thuộc khuvực công nhằm thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
Thứ năm, đặc điểm của NSNN luôn gắn liền với tính giai cấp
Trong thời kỳ phong kiến, mô hình ngân sách sơ khai và tuỳ tiện, lẫn lộngiữa ngân khố của Nhà vua với ngân sách của Nhà nước phong kiến Hoạtđộng thu – chi lúc này mang tính cống nạp – ban phát giữa Nhà vua vàcác tầng lớp dân cư, quan lại, thương nhân, thợ thuyền và các nước chưhầu (nếu có) Quyền quyết định các khoản thu – chi của ngân sách chủyếu là do người đứng đầu một nước (nhà vua) quyết định Trong thời kỳhiện nay (Nhà nước TBCN hoặc Nhà nước XHCN), ngân sách được dựtoán, được thảo luận và phê chuẩn bởi cơ quan pháp quyền, quyền quyếtđịnh là của toàn dân được thực hiện thông qua Quốc hội NSNN được
Trang 19giới hạn thời gian sử dụng, được quy định nội dung thu - chi, được kiểmsoát bởi hệ thống thể chế, báo chí và nhân dân.
Cán cân ngân sách nhà nước Hàm ngân sách có dạng đơn giản như sau: B = G – T Trong đó:
B là cán cân ngân sách
T là thu ngân sách
G là chi tiêu ngân sách
Theo đó, có 3 trường hợp có thể xảy ra đối với ngân sách nhà nước:
- B > 0: Chi vượt thu, là trường hợp bội chi ngân sách hay thâm hụt ngân sách
- B < 0: Thu vượt chi, là trường hợp bội thu ngân sách hay thặng dư ngân sách
- B = 0: Thu bằng chi, còn gọi là cân bằng ngân sách
Thâm hụt ngân sách nhà nước Thâm hụt ngân sách, hay bội chi ngân sách, là chênh lệch giữa số thu và số
chi trong một năm ngân sách Nói một cách khái quát hơn, thâm hụt ngân sách
là hiện tượng chênh lệch cung, cầu về nguồn lực tài chính của Nhà nước, cụ thể
là cung không đủ cầu Hai thành phần chính của thâm hụt ngân sách là chi ngân sách và thu ngân sách
2.3 Cách tính thâm hụt ngân sách nhà nước Thâm hụt ngân sách tổng thể:
Đây là thước đo được sử dụng nhiều nhất và là thước đo được được IMF khuyến nghị để xác định tình trạng mất cân đối tài khóa của các quốc gia Theo
đó, thâm hụt ngân sách được xác định là chênh lệch giữa chi và thu ngân sách trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm ngân sách
Trang 20Những khoản được tính vào thu ngân sách bao gồm các khoản thu vào quỹ ngân sách mà các khoản đó không làm phát sinh, không tạo ra và không kèm theo nghĩa vụ hoàn trả trực tiếp (vay nợ không được tính vào trong thu ngân sách) Chi ngân sách không bao gồm các khoản chi trả nợ gốc mà chỉ bao gồm các khoản lãi vay phải trả Cách tính thâm hụt ngân sách tại Việt Nam nhìn chung đang dựa theo cách tính này, ngoại trừ việc Việt Nam tính khoản chi trả
nợ gốc vào chi ngân sách, từ đo tạo ra khác biệt trong số liệu thống kê giữa Việt Nam và IMF
Thâm hụt ngân sách thường xuyên (current deficit)
Là chênh lệch giữa các khoản chi và thu thường xuyên từ ngân sách chính phủ Đây là thước đo khá hữu dụng trong việc xác định khả năng tích lũy vốn cho nhu cầu đầu tư của Chính phủ (trong trường hợp thặng dư cán cân thường xuyên
Các khoản thu thường xuyên được xác định là các khoản thu “không một lần” và “không tái tạo”, điển hình là các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí Các khoản thu từ bán tài sản hay từ tài nguyên không được tính là thu thường xuyên
Còn chi thường xuyên là tất cả các khoản chi ngân sách ngoại trừ chi đầu tư phát triển và chi viện trợ
Thâm hụt ngân sách cơ sở (primary fiscal deficit)
Được xác định bằng cách lấy thâm hụt ngân sách tổng thể trừ đi phần chi trả tiền lãi vay Đây là thước đo đặc biệt hữu ích khi tỷ lệ lãi vay ở mức cao, cung cấp cơ sở dữ liệu chính xác hơn trong việc điều hành chính sách của Chính phủ
Trong ba cách xác định thâm hụt ngân sách trên đây thì hiện Việt nam mới chỉ áp dụng cách tính thâm hụt ngân sách tổng thể, trong khi vẫn còn nhiều điểmchưa phù hợp với thông lệ chung của quốc tế
Trang 212.4 Một số yếu tố tác động đến thâm hụt ngân sách Mức độ phát triển của nền kinh tế
Đại diện chính là sản lượng quốc nội (GDP) Đây là yếu tố liên quan đến chu
kỳ kinh tế của một quốc gia Ví dụ: Trong thời kỳ nền kinh tế thịnh vượng, các khoản chi cho an sinh xã hội hay phúc lợi có xu hướng giảm xuống, trong khi các khoản thu được giữ ổn định sẽ giúp cải thiện ngân sách Ngược lại, trong thời kỳ kinh tế suy thoái, thu nhập quốc gia suy giảm trong khi nhu cầu chi tiêu cải thiện tình hình kinh tế gia tăng khiến quốc gia đó lâm vào tình trạng thâm hụt ngân sách
Nhiệm vụ về phát triển kinh tế- xã hội của đất nước trong từng thời kỳ: Một trong những đặc điểm của chi ngân sách nhà nước là để
phục vụ các hoạt động kinh tế, xã hội chung, mục tiêu là tăng trưởng và phát triển của toàn xã hội Do vậy các khoản chi ngân sách nhà nước sẽ tăng lên khi đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế cần sự trợ giúp của chính phủ để kích thích sự tăng trưởng và ổn định nền kinh tế
Khả năng tích tụ và tích lũy của nền kinh tế: với một quốc gia,
nếu khả năng này của nền kinh tế tốt thì không những hạn chế được mức chi của ngân sách, ,mà còn cho thấy sự hoạt động tốt của nền kinh tế, mộtđồng bỏ ra có hiệu quả cho tăng trưởng và phát triển, không lãng phí
Ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, hạn hán, động đất, dịch bệnh: Chi ngân sách nhà nước luôn đảm bảo vì lợi ích chung và đảm bảo
sự công bằng cho một bộ phận những người có hoàn cảnh đặc biệt Khi quốc gia gặp thiên tai, thì việc tăng chi tiêu để trợ cấp cho những gia đình gặp khó khăn, khắc phục hậu quả, giữ ổn định kinh tế là điều tất yếu phải làm của chi ngân sách nhà nước Và do đó, mức chi ngân sách cũng sẽ tăng
Hiệu quả chi của bộ máy chi Ngân sách nhà nước: Cũng giống
như thu ngân sách nhà nước, bộ máy chi ngân sách nhà nước đạt hiệu quảtốt sẽ tránh được tình trạng lãng phí, tham ô trong quá trình chi tiêu thì sẽ tiết kiệm được cho quốc gia một khoản chi lớn, số chi vô ích sẽ giảm đi đáng kể
Trang 233 Phương pháp nghiên cứu Bài viết sử dụng hai phương pháp nghiên cứu là: nghiên cứu định lượng
nhằm tìm ra mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và một vài biến số vĩ
mô khác đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam, đưa ra phân tích và đánh giá khách quan hơn
4.Mô hình nghiên cứu
Sau khi mở cửa năm 1986, kinh tế Việt Nam đã có những bước tăng trưởng tốt để đi từ một nước nghèo lên nước có mức thu nhập trung bình thấp
Nền kinh tế thị trường định hướng xuất khẩu được Quốc hội phê duyệt, đẩy mạnh phát triển các ngành sản xuất, chế biến, chế tạo, dịch vụ, chuyển dịch từ lao động thủ công sang các lĩnh vực đòi hỏi vốn và công nghệ Bên cạnh đó, Việt Nam là quốc gia thu hút một lượng lớn vốn FDI
từ khắp nơi trên thế giới vào phát triển công nghiệp, và trong thời đại mớichúng ta cũng sẽ đẩy mạnh phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tập trung vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ với nguồn vốn chính từ tín dụng ngân hàng để đón đầu Cách mạng 4.0
Sau khi đã tham khảo các công trình đi trước và các mô hình được ứng dụng,phân tích, kết hợp điều chỉnh với các điều kiện kinh tế vốn có tại Việt Nam, chúng tôi quyết định sử dụng mô hình hồi quy mẫu, ứng dụng phương pháp bình phương tối thiểu OLS để tìm ra mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thâm hụt ngân sách, theo mô hình sau:
Trang 24GDP: mức độ tăng trưởng GDP hàng năm (%)Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm theo giá thị trường dựa trên đồng nội tệ
GDP được tính toán mà không khấu trừ khấu hao tài sản cố định hoặc để cạn kiệt và suy thoái tài nguyên thiên nhiên
Biến độc lập:
BD: thâm hụt ngân sách chính phủ (% trên GDP)Thu ngân sách và chi ngân sách được tính theo cách tính của IMF
INF: mức lạm phát hàng năm (%)CA: thặng dư tài khoản vãng lai (% GDP)
Số dư tài khoản vãng lai là tổng xuất khẩu ròng của hàng hoá và dịch vụ, thu nhập ròng sơ cấp và thu nhập ròng thứ cấp
DC: tín dụng nội địa khu vực tư nhân (% GDP)Tín dụng nội địa cung cấp cho các doanh nghiệp khu vực tư nhân, chẳng hạn như thông qua các khoản vay, mua chứng vốn, tín dụng thương mại và bao thanh toán các khoản phải thu,
FDI: vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (% GDP)Đầu tư trực tiếp nước ngoài là dòng vốn đầu tư ròng để thu được lợi ích quản
lý lâu dài (từ 10% trở lên cổ phiếu có quyền biểu quyết) trong một doanh nghiệp hoạt động trong một nền kinh tế không phải là nhà đầu tư Đây là tổng vốn cổ phần, tái đầu tư thu nhập, vốn dài hạn khác, và vốn ngắn hạn như thể hiện trong cán cân thanh toán
Hệ số:
^β1 là hệ số chặn hay còn gọi là hệ số tự do
Trang 25^β2 là hệ số hồi quy riêng phần ứng với biến độc lập thâm hụt cán cân ngân sách BD.
^β3 là hệ số hồi quy riêng phần ứng với biến độc lập lạm phát INF
^β4 là hệ số hồi quy riêng phần ứng với biến độc lập tài khoản vãng lai CA
^β5 là hệ số hồi quy riêng phần ứng với biến độc lập tín dụng nội địa khu vực
tư DC
^β6 là hệ số hồi quy riêng phần ứng với biến độc lập vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài FDI
ε là nhiễu của mô hình
Phương pháp thu thập dữ liệu
-Biến GDP, CA, FDI được lấy dữ liệu từ The World Bank data (https://data.worldbank.org) -Biến INF,được lấy dữ liệu từ InternationalMonetary Fund ( http://www.imf.org)
-Biến BD,DC được lấy dữ liệu từ asia development bank (https://www.adb.org/)
Trang 26year gdp bd inf ca dc fdi
Trang 27CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1 Kết quả nghiên cứu 1.1 Mô tả thống kê dữ liệu
Từ bảng dữ liệu mô tả thống kê dữ liệu được thể hiện trong bảng sau đây:
Summary Statistics using the observations 1998 – 2016
Variable
Trang 28FDI 5.43 5.20 1.90 3.26 9
1.2Mô tả tương quan giữa các biến
Sử dụng phần mềm Gretl, ma trận tương quan giữa các biến được thể hiện trong bảng dưới đây:
1.0000
0.3904
0.1317
0.2528
0.0920
0.3330
-GDP
1.0000
0.3734
-0.4663
0.6116
0.1725
BD
1.0000
0
-0.242
0.462
INF
Trang 291.0000
0.0465
0.4747
-CA
1.0000
0.5536
DC
1.0000
FDI
- Nhận xét tương quan cùng chiều, ngược chiều:
GDP và BD tương quan âm cho thấy quan hệ tương quan ngược chiều giữa GDP và BD Tăng thâm hụt cán cân ngân sách thì tốc độ tăng trưởng giảm
GDP và INF tương quan âm cho thấy quan hệ tương quan ngược chiều giữa GDP và INF, lạm phát tăng thì GDP giảm
GDP và CA tương quan âm cho thấy quan hệ tương quan ngược chiều giữa
CA và GDP, thặng dư tài khoản vãng lai tăng thì GDP giảm