- Một số khái niệm tiêu biểu+ “ Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trìnhvới mục đích giải trí” định nghĩa tại Anh- 1811 + “ Du lịch là sự ch
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
Trang 3MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 3
1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4
1.1 Một số khái niệm cơ bản về du lịch và điểm đến du lịch 4
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về du lịch 4
1.1.2 Khái niệm về điểm đến du lịch 6
1.2 Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch 7
1.2.1 Khái niệm 7
1.2.2 Các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch 7
1.2.3 Các phương pháp đo lường và kỹ thuật đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến 8
2 NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH ĐÀ LẠT 10
2.1 Khái quát chung về điểm đến du lịch Đà Lạt 10
2.2 Đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Đà Lạt 11
2.2.1 Đánh giá trên cơ sở so sánh với đối thủ cạnh tranh 11
2.2.2 Đánh giá theo mô hình SWOT 19
3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH ĐÀ LẠT 21
3.1 Mục tiêu phát triển du lịch Đà Lạt 21
3.2 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh 21
3.2.1 Củng cố phát triển nguồn lực 21
3.2.2 Chú trọng công tác bảo tồn 22
3.2.3 Đa dạng hóa các loại hình du lịch 23
3.2.4 Tăng cường hoạt động phát triển thị trường 24
3.2.5 Văn hóa du lịch 24
KẾT LUẬN 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Những thập niên gần đây, du lịch ngày càng phát triển, đa dạng hóa một cách sâu sắc và trở thành ngành kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới Theo thống kê của UNWTO, năm 2015 có 1.184 triệu lượt khách du lịch quốc tế, đóng góp 1,5 tỷ đô la Mỹ cho nền kinh tế thế giới Đến năm 2016 lượng khách du lịch quốc tế sẽ tăng lên từ 3,5 đến 4,5% Cùng với xu hướng chung của thế giới, du lịch Việt Nam cũng không ngừng phát triển, đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay Một trong những điểm du lịch nổi tiếng, hấp dẫn và thu hút khách du lịch trong nước và nước ngoài là Đà Lạt – Lâm Đồng, đem lại nguồn thu đáng kể cho kinh tế tỉnh Lâm Đồng cũng như góp phần quảng bá, phát triển du lịch Việt Nam Ước tính 9 tháng năm 2015, có 1.398.714 lượt khách đăng ký lưu trú, tăng 7,45% so với cùng kỳ; 115.628 lượt khách nước ngoài, tăng 7,75%; 1.283.086 lượtkhách trong nước, tăng 7,43% Những thế mạnh, tiềm năng gì giúp du lịch Đà Lạt cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế để có được những thành tựu như vậy?
Để tìn hiểu vấn đề này, nhóm chúng em quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu năng
lực cạnh tranh điểm đến du lịch Đà Lạt”.
Vì trình độ hiểu biết còn nhiều hạn chế nên bài tiểu luận của chúng em khó tránh khỏi những sai sót Chúng em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của cô để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn
Trang 51 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Một số khái niệm cơ bản về du lịch và điểm đến du lịch 1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về du lịch
1.1.1.1 Khái niệm “du lịch”
- Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định
- Một số khái niệm tiêu biểu+ “ Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của (các) cuộc hành trìnhvới mục đích giải trí” ( định nghĩa tại Anh- 1811)
+ “ Du lịch là sự chinh phục không gian của những người đến một địa điểm mà ở đó họ không có chỗ cư trú thường xuyên”( Glusman, Thụy Sỹ, năm 1930)
+ “ Du lịch là hiện tượng những người ở chỗ khác, ngoài nơi ở thường xuyên , đi đến bằng các phương tiện giao thông và sử dụng các xí nghiệp du lịch”( Kuns, Thụy Sỹ)
+ “ Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời”(Gs.Ts Hunziker và Gs.Ts Krapf)+ Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về
đi lại lưu trú, ăn uống, nghỉ dưỡng, trong một khoảng thời gian nhất định.( Trường ĐH Kinh tế quốc dân Hà Nội)
1.1.1.2 Khái niệm “khách du lịch”
Trong Pháp lệnh Du lịch của Việt Nam ban hành năm 1999 quy định:
Tại điểm 2, Điều 10, Chương I: “ Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi
du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”
Tại Điều 20, Chương IV: “Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách
du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế”
Trang 6“Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”.
“Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nướcngoài du lịch”
1.1.1.3 Sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi
sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ
sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó
Sản phẩm du lịch về cơ bản là không cụ thể, không tồn tại dưới dạng vật thể Thành phần chính của sản phẩm du lịch là dịch vụ (thường chiếm 80% - 90% về mặt giá trị), hàng hóa chiếm tỷ trọng nhỏ
Sản phẩm du lịch thường được tạo ra gắn liền với yếu tố tài nguyên du lịch
Phần lớn quá trình tạo ra và tiêu dùng các sản phẩm du lịchtrùng nhau về không gian và thời gian Chúng không thể cất đi, tồn kho như các hàng hóa thông thường khác
Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch thường không diễn ra đều đặn, mà có thể chỉ tập trung vào những thời gian nhất định trong ngày (đối với sản phẩm ở bộ phận nhà hàng), trong tuần (đối với sản phẩm của thể loại du lịch cuối tuần), trong năm ( đối với sản phẩm của một số loại hình du lịch như: du lịch nghỉ biển, du lịch nghỉ núi,…)
1.1.1.4 Các loại hình du lịch
Loại hình du lịch được hiểu là một tập hợp các sản phẩm du lịch có những đặc điểmgiống nhau, hoặc vì chúng thỏa mãn những nhu cầu, dộng cơ du lịch tương tự, hoặc được bán cho cùng một nhóm khác hàng, hoặc vì chúng có cùng một cách phân phối, một cách tổchức như nhau, hoặc được xếp chung theo một mức giá bán nào đó
Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi du lịch, du lịch được phân thành du lịch quốc tế và du lịch nội địa
Trang 7+ Du lịch quốc tế là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến của khách nằm ở lãnh thổ của các quốc gia khác nhau.
+ Du lịch nội địa là hình thức đi du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến của khách cùng nằm trong lãnh thổ của một quốc gia
Căn cứ vào nhu cầu làm nảy sinh hoạt động du lịch, du lịch được phân thành những loại hình sau:
Tài nguyên du lịch gồm 2 nhóm: Tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn
+ Các điều kiện về môi trường tự nhiên đóng vai trò là những tài nguyên thiên nhiên
về du lịch là: địa hình đa dạng, khí hậu ôn hòa, động thực vật phong phú, giàu nguồn tài nguyên nước và vị trí địa lý thuận lợi
+ Tài nguyên nhân văn là các giá trị văn hóa, lịch sử, các thành tựu chính trị và kinh
tế có ý nghĩa đặc trưng của một vùng hoặc một đất nước Chúng có sức hấp dẫn đặc biệt với số đông khách du lịch với nhiều nhu cầu và mục đích khác nhau của chuyến du lịch
1.1.2 Khái niệm về điểm đến du lịch
- “Điểm đến du lịch là vùng không gian địa lý mà khách du lịch ở lại ít nhất một đêm, bao gồm các sản phẩm du lịch, các dịch vụ cung cấp, các tài nguyên du lịch thu hút khách, có ranh giới hành chính để quản lý và có sự nhận diện về hình ảnh để xác định khả năng cạnh tranh trên thị trường”.( Tổ chức Du lịch Thế giới (UN-WTO)
Trang 8- Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của
khách du lịch”( Luật Du lịch 2005)
1.2 Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch 1.2.1 Khái niệm
Theo Metin Kozak: “Năng lực cạnh tranh điểm đến là khả năng của một điểm
đến có thể cung cấp một cách tương xứng các sản phẩm du lịch cho du khách với sự thỏa mãn cao nhất, khác biệt hơn, với chất lượng cao hơn và tốt hơn so với các điểm đến khác và có thể duy trì bền vững những kết quả đó”
Có thể thấy năng lực cạnh tranh điểm đến là sự thể hiện thực lực và lợi thế củađiểm đến này so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của
du khách để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợithế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn du khách đểtồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đốithủ cạnh tranh trên thị trường
Năng lực canh tranh của điểm đến du lịch được tạo ra từ thực lực tiềm năngcủa điểm đến và là các yếu tố nội hàm của mỗi điểm đến Năng lực cạnh tranh điểmđến không chỉ được tính bằng các tiêu chí về tài nguyên tự nhiên, nhân văn, dịch vụ,vận chuyển,… mà còn gắn liền với ưu thế của sản phẩm du lịch điểm đến đó tạo racho thị trường, gắn với với thị phần mà nó nắm giữ
1.2.2 Các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch
Theo Metin Kozak, các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh điểm đến dulịch bao gồm:
- Đặc điểm của điểm đến Đây là một trong những nhân tố quyết định khá lớn
đến năng lực cạnh tranh của một điểm đến du lịch Nó bao gồm các yếu tố: nơi lưu trú,
sự sạch sẽ, cảm giác, trang thiết bị/dịch vụ, ẩm thực, điểm tham quan, sân bay, giaothông địa phương, trung tâm thông tin du khách, mua sắm
- Đặc điểm của du khách Bao gồm các yếu tố: thu nhập, khả năng chi tiêu, giới
tính, tuổi tác, trình độ, văn hóa, tôn giáo, thời gian rỗi, sở thích… Những yếu tố này chi
Trang 9phối lớn đến khả năng lựa chọn điểm đến du lịch của mỗi du khách.
- Hành vi của các công ty lữ hành Bao gồm việc lựa chọn các điểm đến du lịch
trong chương trình tour của mình, kể cả việc trung thành lựa chọn lại những điểm đến
đó vào những lần sau
- Các nhân tố bên ngoài Gồm các yếu tố: đối thủ cạnh tranh, suy thoái kinh tế,
an ninh, chính trị,… Những yếu tố này tác động khá lớn đến tâm lý du khách cũng nhưtác động vào quá trình lựa chọn điểm đến du lịch của họ
1.2.3 Các phương pháp đo lường và kỹ thuật đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến
1.2.3.1 Phương pháp đo lường
Có nhiều phương pháp đo lường năng lực cạnh tranh của một điểm đến Tuynhiên chúng em đã lựa chọn đo lường theo các tiêu chí của Metin Kozak
Đo lường theo các tiêu chí của Metin Kozak
Theo Metin Kozak, năng lực cạnh tranh điểm đến có thể được đánh giá theo cáctiêu chí định lượng và định tính:
*Theo định lượng
- Số lượng khách du lịch đến
-Doanh thu du lịch/năm
-Mức chi tiêu của khách
*Theo định tính
- Đặc điểm Kinh tế - Xã hội
-Nhân khẩu học của khách du lịch
-Mức độ hài lòng, không hài lòng, phàn nàn của du khách
-Nhận xét của các công ty lữ hành, các trung gian môi giới
-Chất lượng nguồn nhân lực du lịch
-Chất lượng các tiện nghi
1.2.3.2 Kỹ thuật đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến
- Đánh giá trên cơ sở so sánh với đối thủ cạnh tranh
Trang 10Hiện chỉ có điểm đến du lịch Lào Cai có nhiều sản phẩm du lịch tương đồngvới Đà Lạt, ngoài ra có một số địa phương có sản phẩm du lịch núi như Tam Đảo(Vĩnh Phúc), Bà Nà (Đà Nẵng), Măng Đen (Kon Tom),… Tuy nhiên, Tam Đảo hayMăng Đen có quy mô nhỏ, khó mà so sánh được với Đà Lạt Còn Đà Nẵng, mặc dù
có sản phẩm du lịch núi Bà Nà nhưng điểm đến này có thêm các yếu tố từ du lịchbiển, du lịch văn hóa,… hỗ trợ Vì thế tác giả lựa chọn so sánh chính với Lào Cai vàviệc so sánh với điểm đến du lịch Đà Nẵng chỉ có tính chất tham khảo thêm
Bài nghiên cứu so sánh theo các tiêu chí định lượng của Metin Kozak, baogồm: số lượng khách du lịch đến, doanh thu du lịch/năm, mức chi tiêu của khách dulịch và thời gian lưu lại của khách du lịch
-Đánh giá theo mô hình SWOT
Phương pháp được đo lường bằng việc phân tích điểm mạnh (Strenghts), điểmyếu (Weaknesses), cơ hội (Opportunities), thách thức (Threats) các yếu tố nội tại bêntrong và bên ngoài
Phương pháp này, cho phép các tổ chức, các doanh nghiệp và các ban ngành dulịch nghiên cứu một cách có hệ thống các điều kiện của SWOT để đưa vào trong tiếntrình phân loại sự lựa chọn chiến lược và chiến thuật kinh doanh có hiệu quả
Phương pháp này được thực thi qua nội dung sau:
- Lập một bảng gồm bốn ô, tương ứng với bốn yếu tố của mô hình SWOT:
điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức Bốn ô tương ứng với các giải pháp giữa cơhội – điểm mạnh; cơ hội – điểm yếu; thách thức - điểm mạnh và thách thức – điểm yếu
Trong mỗi ô, nhìn nhận lại và viết ra các đánh giá dưới dạng gạch đầu dòng một cách rõ ràng
- Thẳng thắn và không bỏ sót trong quá trình thống kê Tập trung đến nhữngquan điểm của mọi người
- Biên tập lại, xóa bỏ những đặc điểm trùng lặp, gạch chân những đặc điểmriêng biệt, quan trọng
-Phân tích ý nghĩa của chúng
- Vạch rõ những hành động cần làm, như củng cố các kỹ năng quan trọng, loại
Trang 11bỏ các mặt còn hạn chế, khai thác các cơ hội, bảo vệ khỏi các nguy cơ, rủi ro.
2 NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH ĐÀ LẠT 2.1 Khái quát chung về điểm đến du lịch Đà Lạt
Thành phố Đà Lạt là tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Đồng, nằm trên cao nguyên Lâm Viên,thuộc vùng Tây Nguyên, Việt Nam Cuối thế kỷ 19, khi tìm kiếm một địa điểm để xâydựng trạm nghỉ dưỡng dành cho người Pháp ở Đông Dương, Toàn quyền Paul Doumer đãquyết định chọn cao nguyên Lâm Viên theo đề nghị của bác sĩ Alexandre Yersin, ngườitừng thám hiểm tới nơi đây vào năm 1893 Trong nửa đầu thế kỷ 20, từ một địa điểm hoang
vu, những người Pháp đã quy hoạch và xây dựng lên một thành phố xinh đẹp với nhữngbiệt thự, công sở, khách sạn và trường học, một trung tâm du lịch và giáo dục của ĐôngDương khi đó Trải qua những khoảng thời gian thăng trầm của hai cuộc chiến tranh cùnggiai đoạn khó khăn những thập niên 1970–1980, Đà Lạt ngày nay là một thành phố 211ngàn dân, đô thị loại I trực thuộc tỉnh, giữ vai trò trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa củatỉnh Lâm Đồng
Với độ cao 1.500 mét so với mực nước biển và được các dãy núi cùng quần hệ thựcvật rừng bao quanh, Đà Lạt thừa hưởng một khí hậu miền núi ôn hòa và dịu mát quanhnăm Lịch sử hơn một thế kỷ cũng để lại cho thành phố một di sản kiến trúc giá trị, được vínhư một bảo tàng kiến trúc châu Âu thế kỷ 20 Những tài nguyên thiên nhiên và nhân vănphong phú giúp Đà Lạt trở thành một trong những điểm du lịch nổi tiếng của Việt Nam,mỗi năm thu hút hàng triệu du khách tới thăm viếng và nghỉ dưỡng Đà Lạt còn là mộttrung tâm giáo dục và nghiên cứu khoa học, một thành phố đa dạng về tôn giáo với sự hiệndiện của hàng trăm ngôi chùa, nhà thờ, tu viện một vùng nông nghiệp trù phú đặc biệt vớinhững sản phẩm rau và hoa Nhờ khí hậu ôn hòa, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp và di sảnkiến trúc phong phú, Đà Lạt còn được biết đến với nhiều tên gọi khác như "Thành phố mùsương", "Thành phố ngàn thông", "Thành phố ngàn hoa", "Xứ hoa Anh Đào" hay
"Tiểu Paris"
Mặc dù là một đô thị du lịch nổi tiếng, nhưng Đà Lạt lại là một thành phố thiếu vắngcác địa điểm văn hóa, giải trí đa dạng Quá trình đô thị hóa ồ ạt khiến thành phố ngày nayphải chịu nhiều hệ lụy Nhiều cánh rừng thông dần biến mất, thay thế bởi các công trìnhxây dựng hoặc những vùng canh tác nông nghiệp Do không được bảo vệ tốt, không ít danh
Trang 12thắng và di tích của thành phố rơi vào tình trạng hoang tàn, đổ nát Sự phát triển thiếu quyhoạch trong những thập niên gần đây khiến kiến trúc đô thị Đà Lạt chịu nhiều biến dạng vàtrở nên nhem nhuốc Trong khắp thành phố, nhiều ngôi biệt thự cùng không ít những côngtrình kiến trúc chịu sự tàn phá của thời gian mà không được bảo tồn, gìn giữ.
2.2 Đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Đà Lạt 2.2.1 Đánh giá trên cơ sở so sánh với đối thủ cạnh tranh
Đối thủ cạnh tranh là bất kỳ điểm đến du lịch nào có mục đích thu hút cùng một đối tượng khách hàng mà điểm đến du lịch Đà Lạt cũng đang muốn thu hút Điều này có nghĩa
là phải xem xét cả những đối thủ cung cấp các sản phẩm dịch vụ có khả năng thay thế cho sản phẩm hay dịch vụ của điểm đến du lịch Đà Lạt
Khi liệt kê đối thủ cạnh tranh của điểm đến du lịch Đà Lạt, chúng em tập trung xem xét những yếu tố sau:
- Những đối thủ cung cấp sản phẩm du lịch, dịch vụ tương tự như điểm đến du lịch
Đà Lạt Về cơ bản, sản phẩm du lịch của Đà Lạt chủ yếu là sản phẩm du lịch núi, phần lớn tập trung vào loại hình du lịch nghỉ mát và nghỉ dưỡng Hiện cả nước có một số điểm đến
du lịch có những sản phẩm du lịch tương tự Đà Lạt để thu hút đối tượng khách nghỉ mát và nghỉ dưỡng như: Sapa (Lào Cai), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Bà Nà (Đà Nẵng),… Tuy nhiên, với Tam Đảo, đây chỉ là một thị trấn nhỏ, ít điểm tham quan, khó kết nối với các sản phẩm
du lịch khác trong tỉnh, do vậy khó mở rộng quy mô du lịch Với Bà Nà (Đà Nẵng), mặc dùquy mô không thể bằng Đà Lạt, nhưng nằm trong một thành phố có hoạt động du lịch khá phát triển, có thể kết hợp nối tuyến với du lịch biển, du lịch văn hóa… Bên cạnh đó, sân bay quốc tế Đà Nẵng là một trong ba đầu mối giao thông hàng không quan trọng của cả nước Trong ba điểm vừa nêu thì Sapa (Lào Cai) có nhiều điểm tương đồng với Đà Lạt, là đối thủ cạnh tranh lớn của Đà Lạt ở thời điểm hiện tại và tương lai
- Những đối thủ cạnh tranh cùng cấp Đây là những đối thủ thu hút khá lớn lượng khách quốc tế và nội địa Mỗi tỉnh thành đều có những sản phẩm du lịch đặc trưng, do vậy phần lớn các tỉnh thành đều có những sức hút nhất định để thu hút du khách Một trong những sức hút đó chính là số lượng các khu, điểm du lịch ở địa phương đấy Có thể thấy ĐàLạt có thể bị chia sẻ thị trường khách nội địa và một phần khách quốc tế từ các địa phương:
Trang 13Khánh Hòa (Nha Trang), Bình Thuận (Phan Thiết), Bà Rịa – Vũng Tàu (Vũng Tàu), Kiên Giang (Phú Quốc),…
- Những điểm đến du lịch tạo ra những sản phẩm du lịch có khả năng thay thế sản phẩm du lịch của Đà Lạt Trước kia, Đà Lạt là một trong những điểm đến hấp dẫn cho du khách đến từ thành phố Hồ Chí Minh, Đông Nam Bộ và Tây Nam bộ Nhưng xu hướng gầnđây cho thấy, trong các dịp nghỉ lễ, dòng du khách bắt đầu chuyển hướng sang những điểm đến du lịch mới nổi thời gian gần đây như Phan Thiết (Bình Thuận), Phú Quốc (Kiên Giang)
Như vậy, chúng em chủ yếu tập trung so sánh với các địa phương có sản phẩm du lịch tương đồng là Sapa (số liệu du lịch Lào Cai) và Đà Nẵng Có thể xem Sapa có nhiều sản phẩm tương đồng với Đà Lạt hơn nên các số liệu du lịch của Sapa được lựa chọn để so sánh chính với Đà Lạt Với Đà Nẵng, mặc dù có điểm du lịch núi Bà Nà nhưng Đà Nẵng lại
có nhiều sản phẩm du lịch khác bổ trợ như du lịch biển nên Đà Nẵng được đưa vào để thamkhảo thêm Với số liệu du lịch của Đà Lạt, chúng em sử dụng số liệu du lịch chung của Lâm Đồng vì phần lớn du khách khi đến với Lâm Đồng đều đến với Đà Lạt
Các số liệu so sánh được trình bày qua bảng sau:
Bảng: Tổng lượt khách, doanh thu và số ngày lưu trú bình quân của du khách đến Đà Lạt, Lào Cai và Đà Nẵng giai đoạn 2009-2013:
Trang 14Tiêu chí Điểm đến 2009 2010 2011 2012 2013
khách (nghìnlượt khách)
Khách quốc tế(nghìn lượtkhách)
Khách nội địa(nghìn lượtkhách)
Đà Lạt 2.370 2.951,5 3.345,8 3.736,4 3.968,5
Doanh thu dulịch (tỉ đồng)
-Nguồn:
Báo cáo kết quả hoạt động năm 2009, 2010, 2011, 2012, 2013
(Sở Văn hóa, Thể Thao & Du lịch Đà Nẵng)
Báo cáo kết quả hoạt động năm 2009, 2010, 2011, 2012, 2013
( Sở Văn hóa, Thể Thao & Du lịch Lào Cai)
Báo cáo kết quả hoạt động năm 2009, 2010, 2011, 2012, 2013
( Sở Văn hóa, Thể Thao & Du lịch Lâm Đồng.)
So với Sapa và Đà Nẵng, tổng lượt khách của Đà Lạt qua các năm khá cao Kháchđến Đà Lạt có tốc độ tăng đều qua các năm, và có xu hướng tăng nhẹ trong năm 2013 Với
du lịch Đà Nẵng, mặc dù có thêm các sản phẩm du lịch biển bổ trợ nhưng tổng lượt khách