Chính vì lẽ đó, nhóm chúng em quyết định chọn đề tài “Nợ công – Mối lo của kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây” với mong muốn làm rõ hơn nguyên nhân cũng như những tác động của nợ c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
TIỂU LUẬN
Nợ công – Mối lo của kinh tế Việt Nam
trong những năm gần đây
Nguyễn Kiều Trinh 1714410233
Nguyễn Thị Kim Ngân 1714410164
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NỢ CÔNG 4
1.1 Khái niệm 4
1.2 Phân loại 4
1.3 Các hình thức vay nợ của chính phủ 4
1.4 Yếu tố ảnh hưởng tới tính toán nợ công 5
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỢ CÔNG VIỆT NAM 6
2.1 Quy mô nợ công 6
2.2 Cơ cấu nợ công 8
2.2.1 Nợ của Chính phủ 9
2.2.2 Nợ được Chính phủ bảo lãnh 10
2.2.3 Nợ của chính quyền địa phương 11
2.3 Khả năng thanh toán và tính thanh khoản của nợ công Việt Nam: 11
2.4 Đánh giá tình hình nợ công 13
CHƯƠNG 3: NGUYÊN NHÂN GÂY RA RỦI RO NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM 14
3.1 Nguyên nhân trực tiếp 14
3.1.1 Hiệu quả sử dụng vốn 14
3.1.2 Thâm hụt ngân sách nhà nước 15
3.1.3 Cơ cấu khoản nợ 16
3.1.4 Yếu tố lãi suất 17
3.2 Nguyên nhân gián tiếp 17
CHƯƠNG 4: KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP 18
KẾT LUẬN 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế thế giới đang có những chuyển biến ngày càng mạnh mẽ và có những biến đổi vô cùng khó lường, điển hình là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng nợ công diễn ra tại Hy Lạp năm 2008 và lan sang các nước châu Âu vào năm 2009 Chính vì lẽ đó, nợ công và các tác động của nợ công luôn là vấn đề nóng được các nhà lãnh đạo các quốc gia trên Thế giới đặc biệt quan tâm
Hiện nay, vấn đề chính được Chính phủ và các nhà hoạch định chính sách tại Việt Nam quan tâm là cách làm thế nào để nợ công Việt Nam luôn đảm bảo ở mức an toàn Có nhiều người cho rằng, nợ công là vấn đề chung, là nhiệm vụ mà Chính phủ cần giải quyết mà không biết rằng vấn đề này ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của chính chúng ta Chính vì lẽ đó, nhóm chúng em quyết định chọn
đề tài “Nợ công – Mối lo của kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây” với mong muốn làm rõ hơn nguyên nhân cũng như những tác động của nợ công đến nền kinh tế, từ đó đưa ra các giải pháp cần thiết để đảm bảo ngưỡng an toàn của
nợ công Việt Nam, đông thời nêu cao ý thức người dân trong việc chung tây giảm thiểu công nợ quốc gia
Để làm rõ vấn đề đã đặt ra, nhóm chúng em chia vấn đề ra thành 4 phần:
Chương I: Tổng quan về nợ công Chương II: Thực trạng nợ công Việt Nam Chương III: Nguyên nhân gây ra rủi ro nợ công ở Việt Nam Chuơng IV: Kiến nghị và giải pháp
Chúng em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô Hoảng Bảo Trâm đã giúp chúng em có thể hoàn thành tốt đề tài này
Do thời gian có hạn, chúng em chưa thể đi sâu nghiên cứu chi tiết vấn đề, đồng thời còn hạn chế về mặt kiến thức nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong cô và các bạn đóng góp ý kiến giúp cho đề tài của chúng em được hoàn thiện hơn
Chúng em xin chân thành cảm ơn
Trang 4nợ Chính phủ thường là phần trăm so với GDP Nợ thường được tính tại từng thời
kỳ, từng giai đoạn So sánh tổng nợ nước ngoài với GDP là nhằm so sánh nợ với những gì một quốc gia làm ra, để xác định khả năng trả nợ của quốc gia đó
Nợ công là do sự mất cân đối thu chi và dẫn tới thâm hụt ngân sách Nhu cầu chi tiêu quá nhiều trong khi các nguồn thu không đáp ứng nổi buộc chính phủ phải
đi vay tiền thông qua nhiều hình thức (như phát hành công trái, trái phiếu, hiệp định tín dụng) và vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thương mại, các thể chế tài chính quốc tế… để bù vào khoản thâm hụt, từ đó dẫn đến tình trạng nợ Không phải cho đến bây giờ nợ công mới xảy ra
1.2 Phân loại
- Theo thời hạn đi vay, nợ công gồm:
+ Nợ ngắn hạn: là các khoản nợ có thời hạn vay dưới một năm để bù đắp các khoản bội chi tạm thời của ngân sách Nhà nước Nguồn trả nợ ngắn hạn là các khoản thu ngân sách Nhà nước được thực hiện trong tương lai
+ Nợ trung và dài hạn: là các khoản nợ có thời hạn vay từ một năm trở lên để huy động vốn cho đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng Nguồn trả nợ được thu từ phí, giá dịch vụ và từ nguồn thu của ngân sách Nhà nước
- Theo phạm vi huy động vốn, nợ công được chia thành:
+ Nợ vay trong nước: Được thực hiện bằng cách phát hành trái phiếu Chính phủ để vay dân cư, các tổ chức kinh tế - xã hội và ngân hàng trong nước
+ Nợ vay nước ngoài: Vay nợ nước ngoài của Chính phủ là phương thức huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ ra nước ngoài; kí kết các hợp đồng vay nợ với Chính phủ, với các tổ chức tài chính tiền tệ thế giới và từ nguồn ODA
1.3 Các hình thức vay nợ của chính phủ
- Phát hành trái phiếu chính phủ:
+ Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương
Trang 5+ Ngoài phương thức phát hành trực tiếp qua hệ thống kho bạc nhà nước, còn
có đấu thầu trái phiếu chính phủ qua thị trường chứng khoán; Phát hành trái phiếu chính phủ dưới hình thức đại lý phát hành;Phát hành trái phiếu chính phủ dưới hình thức bảo lãnh, bán lẻ trái phiếu
+ Trái phiếu chính phủ phát hành bằng nội tệ được coi là không có rủi ro tín dụng vì Chính phủ có thể tăng thuế thậm chí in thêm tiền để thanh toán cả gốc lẫn lãi khi đáo hạn Trái phiếu chính phủ phát hành bằng ngoại tệ (thường là các ngoại
tệ mạnh có cầu lớn) có rủi ro tín dụng cao hơn so với khi phát hành bằng nội tệ vì chính phủ có thể không có đủ ngoại tệ để thanh toán và ngoài ra còn có rủi ro về
tỷ giá hối đoái
- Vay trực tiếp chính là việc Chính phủ vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thương mại, các thể chế siêu quốc gia Hình thức này thường được Chính phủ của các nước có độ tin cậy tín dụng thấp áp dụng vì khi đó khả năng vay nợ bằng hình thức phát hành trái phiếu chính phủ của họ không cao
1.4 Yếu tố ảnh hưởng tới tính toán nợ công
- Tốc độ tăng trưởng GDP:
Khi tốc độ tăng trưởng GDP cao tương đối so với tốc độ tăng nợ công thì tỷ lệ
nợ công so với GDP có xu hướng giảm Khi tăng trưởng GDP cao hơn lãi suất thực thì độ biến thiên của tỷ lệ nợ công ((1+rt)/(1+gt) = фt) sẽ thấp hơn, do đó sẽ ít có đột biến về nợ công
- Lạm phát:
Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế là tốc độ tăng trưởng GDP danh nghĩa được điều chỉnh theo tỷ lệ trượt giá GDP Lạm phát cao đồng nghĩa với việc lãi suất thực tế thấp hơn Tỷ lệ trượt giá GDP lớn đồng nghĩa với việc tốc độ tăng trưởng GDP thực tế thấp hơn Các lý thuyết cũng như thực tiễn cho thấy, lạm phát là hệ quả của chính sách tiền tệ và có quan hệ với vay nợ trong nước Các chính phủ hoàn toàn có thể tác động đến mức độ nợ và gánh nặng nợ thông qua tác động đến lạm phát (chẳng hạn in tiền), từ đó một cách không chính thức làm giảm nghĩa vụ
nợ của chính phủ
- Các khoản nợ tiềm tàng:
Bao gồm các khoản chi trả trợ cấp cho hưu trí, bảo hiểm xã hội,… hay các khoản vay được Chính phủ đứng ra bảo lãnh nếu trong tương lai không có khả năng
thanh toán Những khoản chi này cũng cần được tính vào nợ công Bởi lẽ suy cho cùng đó cũng là các khoản tiền mà Chính phủ phải chi ra
Trang 6CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỢ CÔNG VIỆT NAM 2.1 Quy mô nợ công
Sau 30 năm mở cửa kinh tế, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có
ý nghĩa lịch sử Tiềm lực của đất nước đã lớn mạnh hơn nhiều, đời sống vật chất
và tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện, chính trị - xã hội ổn định
Tuy nhiên, Việt Nam vẫn thuộc nhóm các nước đang phát triển, quy mô nền kinh tế của Việt Nam vẫn là nhỏ so với mặt bằng chung của thế giới, nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp thô và công nghiệp nhẹ là chủ yếu Do đó, hiện tại và trong tương lai gần, việc tăng vay nợ chính phủ nói riêng và nợ công nói chung là một nhu cầu tất yếu vì Việt Nam vẫn rất cần sự hỗ trợ về mặt tài chính (tức là vay nợ và viện trợ phát triển chính thức) từ các tổ chức đơn phương, đa phương trên thế giới để phát triển nền kinh tế hơn nữa Dưới đây
là bảng thống kê về quy mô nợ công của nước ta trong giai đoạn 2010-2018:
Dư
nợ công (tỷ đô)
Nợ công/
GDP
Nguồn: Tổng hợp Bản tin nợ công số 4,5,6,7 - Bộ tài chính
Hình 1: Biểu đồ thể hiện dư nợ công trên đầu người và tỷ lệ nợ công trên GDP
Trang 7Theo nhiều chuyên gia, quy mô nợ công thực tế có thể cao hơn so với mức công
bố do cách thức xác định nợ công của Việt Nam và một số tổ chức quốc tế có sự khác biệt Nhưng nhìn chung có thể thấy, quy mô nợ công qua các năm trong giai đoạn này đều tăng dần Năm 2010, dư nợ công của nước ta là 46,987 tỷ USD, tương đương 534 USD trên người, chiếm 56,3% so với tổng GDP, và chỉ trong vòng 3 năm, đến cuối năm 2013, con số dư nợ công đã lên đến 72,280 tỷ USD, tăng 70,4% so với cuối năm 2010 Tuy nhiên, nợ công so với GDP năm 2013 là 54,5%GDP thấp hơn năm 2010 (56,3%),nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP
và nợ Chính phủ so với GDP năm 2013 cũng thấp hơn năm 2010; đồng thời nghĩa
vụ trả nợ của Chính phủ so với thu NSNN đã giảm từ mức 17,6% năm 2010 xuống 15,2% năm 2013
Giai đoạn 2014-2015, Tốc độ tăng trưởng nợ công so với GDP là 12,2%/năm cho giai đoạn từ 2014 - 2015 Đây là một vấn đề đáng lo ngại vì Việt Nam nằm trong những quốc gia có tỷ lệ nợ trên GDP tăng nhanh nhất (tăng trên 10%/năm) cho dù có thành tích tăng trưởng kinh tế ấn tượng Đến cuối năm 2015, dư nợ công của nước ta là 94,319 tỷ USD, tương đương 61% GDP, bình quân mỗi người dân nợ công gánh số nợ công là hơn 1000 USD Nếu xét về chỉ tiêu nợ công bình quân đầu người thì Việt Nam ở mức khá thấp so với một số quốc gia khác trong khu vực Asean Cũng số liệu năm 2015, nước có chỉ số nợ công bình quân đầu người cao nhất là Singapore với 56000 USD, tiếp theo là Malaysia 7697 USD, Thái Lan 3451 USD Việt Nam, Indonesia, Philippines có chỉ số nợ bình quân đầu người năm 2015 xấp xỉ khoảng 1000 USD và đều duy trì tỷ lệ nợ công/GDP ở mức 45%-60%
Đỉnh điểm đến năm 2016, về số tuyệt đối, dư nợ công lên đến 107,490 tỷ đô,
về số tương đối, tỷ lệ nợ công/GDP ở mức 63,7%, áp sát ngưỡng kiểm soát 65%
của Quốc hội Nguyên nhân là do sự sụt giảm nguồn thu ngân sách, cùng với sự gia tăng nhu cầu thực hiện các nghĩa vụ chi tiêu, đặc biệt là chi để trả lương cho cán bộ ăn lương từ ngân sách, đã góp phần gây ra tình trạng lạm chi ngân sách và giảm đầu tư công, nhất là từ Ngân sách nhà nước Đối diện với tình trạng sụt giảm nghiêm trọng nguồn thu thì nguồn vay nợ của chính phủ trong giai đoạn này, đặc biệt là vay nợ từ các nguồn trong nước, được sử dụng làm công cụ chủ yếu để trang trải cho bội chi ngân sách và ngăn ngừa một sự sụt giảm hơn nữa trong đầu
tư công Điều đó đã dẫn đến sự gia tăng mạnh về dư nợ công và dư nợ Chính phủ,
tỷ lệ nợ công/ GDP của Việt Nam lên tới 63,7% GDP trong năm 2016
Nhưng nước ta đã kiểm soát, quản lý chặt chẽ hơn tình hình nợ công trong giai đoan 2016-2018 Tỷ lệ nợ công trên GDP trong năm 2018 đã giảm xuống còn 58,4%, là mức thấp nhất trong 3 năm qua, mặc dù số dư nợ công rất cao và bình quân mỗi người phải gánh 1456 USD, tương đương với 32 triệu đồng Theo báo
Trang 8cáo của Bộ Tài chính, nếu như trong giai đoạn 2014 - 2015, tốc độ tăng của nợ công của Việt Nam ở mức bình quân là 18,1%/năm thì giai đoạn 2016 - 2018 đã
kéo xuống bình quân còn 8,6%/năm, riêng năm 2018 chỉ còn ở mức 6%
Có thể nói, tình hình nợ công có nhiều triển vọng khả quan nhờ việc Luật Quản
lý nợ công đi vào cuộc sống, qua đó đã tạo ra những thay đổi cơ bản về thống nhất chức năng huy động vốn vay nợ công; tăng cường các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý nợ công Bởi lẽ, theo thống kê của bộ tài chính, thu nhập trung bình của người lao động Việt Nam là 2200 USD/người/năm Theo quy định, con
số trên đã cho thấy Việt Nam đã thoát khỏi nhóm các nước nghèo và là nước có thu nhập trung bình Vì vậy, các khoản vay với ưu đãi về lãi suất và thời hạn sẽ không còn nữa mà chúng ta phải vay các khoản với lãi suất cao hơn và thời hạn cũng ngắn hơn Điều này chỉ ra rằng, nếu Việt Nam vay thì cần đầu tư một cách hiệu quả đồng vốn, tạo lãi thì mới giảm được áp lực từ nợ công Đặc biệt, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 952/QĐ-BTC về Kế hoạch triển khai thi hành Luật Quản lý nợ công, trong đó xác định việc triển khai thi hành Luật Quản lý nợ công là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Bộ Tài chính trong năm 2018, đòi hỏi các đơn vị có liên quan phải ưu tiên tập trung nguồn lực
và tổ chức thực hiện đảm bảo đúng tiến độ, chất lượng, hiệu quả và tiết kiệm
2.2 Cơ cấu nợ công
Nợ công của Việt Nam hiện nay gồm có nợ của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương Trong đó, nợ của Chính phủ và nợ được Chính phủ bảo lãnh là hai thành phần chính của nợ công tại Việt Nam với
tỷ lệ lần lượt là 80% và 17%, nợ của chính quyền địa phương có xu hướng tăng nhẹ nhưng không đáng kể, chiếm khoảng 3% trong tổng nợ công của Việt Nam
Tỷ lệ nợ của Chính phủ trong tổng nợ công tương đối ổn định, dao động ở mức 80% và có xu hướng tăng nhẹ Đi cùng với nợ tăng cao, cơ cấu nợ công cũng đã
có sự thay đổi Bởi lẽ nhu cầu huy động ngày càng lớn, trong khi khả năng tiếp cận nguồn vốn ưu đãi nước ngoài dần hạn chế, Chính phủ đã phải dựa chủ yếu vào nguồn vay trong nước Do phần lớn nợ công là nợ nước ngoài và có xu hướng tăng lên nên rủi ro của cuộc khủng hoảng nợ công là nguy hiểm mặc dù tỷ lệ nợ công trong GDP đang có xu hướng giảm Nợ trong nước tăng cũng giúp giảm rủi
ro tỷ giá và góp phần phát triển thị trường vốn trong nước Bên cạnh đó, nợ trong nước cũng gây ra những tác động tiêu cực đến nền kinh tế như: tăng lãi suất, thu hẹp luồng vốn cho khu vực tư nhân và áp lực lên lạm phát Theo báo cáo Chính phủ, tỷ lệ nợ công trên GDP có xu hướng giảm dần các năm gần đây, như năm
2017 là 61,4% GDP; năm 2018 là 61% GDP và dự kiến năm 2019 khoảng 61,3%
Trang 9GDP Tuy nhiên, nợ công (nợ Chính phủ, nợ Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương) giảm, nhưng trong đó nợ Chính phủ lại tăng, hiện khoảng 51,7% GDP trong khi trần là 54% GDP Điều này đồng nghĩa khoản tiền trả nợ gốc hàng năm của Chính phủ tăng lên
2.2.1 Nợ của Chính phủ
Nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền phát hành theo quy định của pháp luật Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tính đến cuối năm 2017, tổng số
nợ Chính phủ là 2.587,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 80% tổng dư nợ công và tương đương 51,8% GDP năm 2017 Như vậy, Chính phủ đã không giữ được mục tiêu duy trì nợ Chính phủ ở mức dưới 50% GDP Nguồn gốc chủ yếu làm phát sinh nợ Chính phủ chính là do bội chi ngân sách Theo Điều 7.2 Luật NSNN năm 2015
“số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển” Tuy nhiên trong một vài năm gần đây, trước tình hình khó khăn của ngân sách, quy định này đã không được thực hiện đúng nguyên tắc đề ra Năm 2018, tỷ lệ nợ Chính phủ so với GDP tăng đến 52,1%, tỷ lệ so với 2017 thay đổi không nhiều nhưng GDP năm 2018 đạt mức tăng trưởng kỷ lục 7,08% với giá trị 5.535,3 nghìn tỷ đồng nên nợ Chính phủ ở mức 3.376,53 nghìn tỷ đồng Như vậy về giá trị, nợ Chính phủ năm 2018 đã tăng 130% so với năm 2017
Trang 10(ĐVT: nghìn tỷ VND)
Chỉ tiêu 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018
Dư nợ 889.3 1092.8 1279.5 1528.1 1826.1 2064.6 2373.2 2587.4 3376.5
Nợ trong nước 530.3 666.4 727.4 763.2 810.1 867.8 947.5 1040.0 1357.4
Nợ nước ngoài 359.1 426.4 552.1 764.8 1015.9 1196.8 1425.7 1547.4 2019.2
2.2.2 Nợ được Chính phủ bảo lãnh
Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh Báo cáo của Bộ Tài chính cho thấy tính đến cuối năm 2017, tổng số nợ thực tế được Chính phủ bảo lãnh là 455.122 tỷ đồng, tương đương khoảng 21 tỷ USD, chiếm tỷ lệ 17,5%
tổng nợ công, tức hơn 11% GDP Trong số 21 tỷ USD nợ được Chính phủ bảo lãnh, số nợ vay nước ngoài chiếm khoảng 55% Việc vay nợ nước ngoài nhiều sẽ khiến bên đi vay đối diện với rủi ro do biến động tỷ giá, làm cho áp lực trả nợ tăng lên Trong trường hợp rủi ro xảy ra, khiến cho bên đi vay không trả được nợ, trách nhiệm trả nợ đương nhiên thuộc về Chính phủ