1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Tiểu luận FTU) NGHIÊN cứu một số CUỘC KHỦNG HOẢNG nợ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI và bài học CHO VIỆT NAM

45 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Một Số Cuộc Khủng Hoảng Nợ Công Trên Thế Giới Và Bài Học Cho Việt Nam
Tác giả Lê Phương Chi, Đoàn Thị Quỳnh Trang
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Lan
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Tài Chính Công
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 910,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể: khi chính phủ tăng cường huyđộng trong nước để tài trợ cho hoạt động của mình thường là sau khủng hoảng nợcông, chính phủ phải huy động với lãi suất cao, và do đó, lãi suất thị t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠN G

-o0o -MÔN: TÀI CHÍNH CÔNG

Đề tài:

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CUỘC KHỦNG HOẢNG

NỢ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO

VIỆT NAM.

Đoàn Thị Quỳnh Trang – 1413310134 Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Lan

Hà Nội, 2017

Trang 2

MỞ ĐẦU 7

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NỢ CÔNG VÀ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG 8

I Nợ công 8

1 Khái niệm 8

2 Các nhân tố ảnh hưởng nợ công 8

3 Phân loại nợ công 9

4 Tác động của nợ công đến các biến số kinh tế 9

II Khủng hoảng nợ công 10

1 Khái niệm 10

2 Dấu hiệu nhận diện 11

Chương II THỰC TRẠNG CÁC CUỘC KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI 13

I CUỘC KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG Ở CHÂU MỸ LATINH 13

1 Nguyên nhân 13

2 Diễn biến của cuộc khủng hoảng 17

3 Hậu quả của các cuộc khủng hoảng 18

II CUỘC KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG Ở KHU VỰC CHÂU ÂU 19

1 Diễn biến cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu 19

2 Nguyên nhân cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu 26

3 Hậu quả của cuộc khủng hoảng 28

Trang 3

Chương III TÌNH HÌNH NỢ CÔNG VIỆT NAM VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA THẾ GIỚI NHẰM TRÁNH KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG CHO VIỆT

NAM 31

I Tình hình nợ công của Việt Nam 31

1 Quy mô nợ công 31

2 Cơ cấu và kỳ hạn nợ công 34

3 Tình hình sử dụng nợ công: 35

II Đánh giá tình hình nợ công Việt Nam 36

1 Tác động 36

1.1 Tác động tích cực 36

2 Những nguy cơ về khủng hoảng nợ công 37

3 Nguyên nhân tạo nên khủng hoảng nợ công 39

III Những bài học kinh nghiệm của thế giới nhằm tránh khủng hoảng nợ công cho Việt Nam trong tương lai 41

1 Phát triển kinh tế theo con đường bền vững trong dài hạn, ổn định kinh tế vĩ mô 41

2 Giám sát và quản lý chặt chẽ, có hiệu quả hơn các nguồn đầu tư từ NSNN, trái phiếu chính phủ, vốn ODA 42

3 Giảm thâm hụt NSNN 42

4 Ngăn chặn sự sụp đổ từ khu vực ngân hàng 42

5 Hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô và quản lý nợ 43

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ

ODA Hỗ trợ phát triển chính thức - Official

Development Assistance

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1 Tổng vốn đầu tư (% GDP) 15

Bảng 2 Nợ của chính phủ theo phần trăm GDP của Đức, Ý, HY Lạp Đơn vị: % 22

Bảng 3 Gánh nặng nợ công Việt Nam giai đoạn 2010-2015 31

DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1 Tăng trưởng GDP và cán cân thương mại tại Mỹ latinh 1962 – 2010 14

Hình 2 So sánh lợi suất trái phiếu chính phủ kì hạn 10 năm giữa Đức và Hy Lạp 19

Hình 3 Tình hình vay nợ của Hy Lạp 20

Hình 4 Đồ họa các khoản cứu trợ cho Hy Lạp 21

Hình 5 Nợ chính phủ/GDP của những nước đang được xem là có thể cần được giải cứu 23

Hình 6 So sánh rủi ro nợ công các nước 24

Hình 7 GDP bình quân đầu người (USD) 27

Hình 8 Lợi tức trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm của các nước từ năm 2008 đến 2011 28

Hình 9 Thị trường chứng khoán châu Âu và Athens năm 2010 28

Hình 10 Tỷ lệ nợ công/GDP của Việt Nam từ 2010-2016 31

Hình 11 Nợ công bình quân đầu người của Việt Nam (2006-2015) 32

Hình 12 Nợ công bình quân đầu người của một số nước Đông Nam Á (2011-2015) 33

Hình 13 Quy mô nợ công Việt Nam đầu năm 2017 – hình minh họa 33

Hình 14 Cơ cấu nợ công Việt Nam năm 2015 34

Hình 15 Hệ số ICOR việt nam qua các năm 36

Hình 16 Thu – chi và thâm hụt ngân sách 2013-2016 (tỷ VNĐ) 40

Trang 7

MỞ ĐẦU

Ngân sách Nhà nước bao gồm các khoản thu và chi của nhà nước, tổng chi tiêu củangân sách nhà nước vượt quá các khoản thu không mang tính hoàn trả của ngânsách nhà nước thì nước đó rơi vào tình trạng thâm hụt ngân sách

Trong lịch sử phát triển tài chính, thâm hụt ngân sách nhà nước đã trở thành mộthiện tượng khá phổ biến trong các nước phát triển và các nước kinh tế chậm pháttriển Các cuộc khủng hoảng nợ công nổi bật nhất trên thế giới có thể kể đến đấychính là cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Mỹ Latinh năm 1890 và cuộc khủnghoảng nợ công ở khu vực châu Âu Các cuộc khủng hoảng này không chỉ ảnhhưởng đến mỗi mình khu vực đấy mà còn ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới và đedọa đến tiến trình phục hồi kinh tế toàn cầu

Sau khi gia nhập Tổ chức Kinh tế Thế giới (WTO) vào năm 2007, nền kinh tế ViệtNam đã hội nhập khá sâu vào kinh tế thế giới, thể hiện qua tỷ lệ xuất nhập khẩu vàdòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam chiếm tỷ lệ khá cao Các cuộc khủnghoảng nợ công xảy ra trên thế giới ít nhiều cũng đã ảnh hưởng đến nền kinh tế củaViệt Nam Không những vậy, khủng hoảng nợ công xảy ra ở châu Mỹ Latinh vàchâu Âu cũng để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho Việt Nam khi nhìn lại vấn đề

nợ công và mô hình tăng trưởng kinh tế

Vì vậy, chúng em viết bài tiểu luận này nhằm mục đích hệ thống hóa được một sốvấn đề lý luận về nợ công và khủng hoảng nợ công Từ đó để có thể phân tích vàđánh giá được các cuộc khủng hoảng nợ công tiêu biểu trên thế giới cũng như phântích và đánh giá được thực trạng nợ công ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, cóthể rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc đảm bảo an toàn nợcông, tránh khủng hoảng nợ công trong tương lai

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, kết cấu bài tiểu luận gồm có

Trang 8

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NỢ CÔNG VÀ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG

I.Nợ công

1.1 Khái niệm

Khái niệm nợ công đến ngày hôm nay vẫn còn khá nhiều tranh cãi bởi kháiniệm nợ công không chỉ mang tính học thuật mà nó còn chứa đựng cả ý đồ mangtính kinh tế - chính trị của những người sử dụng nó

Quỹ tiền tệ quốc tế IMF và Ngân hàng Thế giới World Bank đều xác định: “

Nợ công là nghĩa vụ nợ của khu vực công, bao gồm nghĩa vụ nợ của các tổ chứcsau:

- Chính phủ trung ương

- Các cấp chính quyền địa phương

- Ngân hang trung ươngCác tổ chức độc lập nhưng nguồn vốn hoạt động của nó do ngân sách nhànước quyết định (trên 50% vốn thuộc chủ sở hữu nhà nước), và trong trường hợp

vỡ nợ nhà nước phải trả nợ thay cho các tổ chức đó”

Quan niệm về nợ công của Việt Nam được xác định rõ trong Luật quản lý nợcông, số 29/2009/QH12 ngày 17/06/2009 như sau:

“…nợ công bao gồm:

- Nợ chính phủ

- Nợ đươc chính phủ bảo lãnh

- Nợ chính quyền địa phương

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng nợ công

 Cân bằng ngân sách cơ bản:

Khi các khoản thâm hụt ngân sách nhỏ thì việc đi vay để tài trợ cũng giảm đi

 Lãi suất thực tếKhi lãi suất thực tế trên thị trường tăng có thể làm cho các khoản vay trở nênđắt hơn và ngược lại Mặt khác lã suất tăng lên – chi phí đi vay tăng lên Chính phủ

sẽ gặp khó khan trong việc huy động vốn

 Tốc độ tăng trưởng thực tế:

Nền kinh tế tăng trưởng tốt điều đó có nghĩa việc sử dụng vốn vay đã đem lạihiệu quả do đó triển vọng trả được nợ trở nên sang sủa hơn so với khi nền kinh tếkém tăng trưởng Mặt khác khi nền kinh tế tăng trưởng cao thì mức độ tiết kiệm

Trang 9

trong nền kinh tế lớn, khả năng huy động được nguồn vốn vay từ trong nước cũngtăng lên.

 Lãi suất ngoại tệ:

Lãi suất ngoại tệ ảnh hưởng trực tiếp đến các khoảng vay nước ngoài Khi lãisuất ngoại tệ tăng, các khoản vay ngoại tệ trở nên đắt đỏ hơn và ngược lại

 Tỷ giá:

Có thể xảy ra rủi ro tỷ giá, với các yếu tố khác không đổi, tỷ giá tăng khi trả

nợ sẽ làm khoản nợ công đắt hơn khi tính bằng nội tệ Ngược lại, ta sẽ có lợi nếuđến lúc trả nợ tỷ giá giảm so với lúc đi vay

3.3 Phân loại nợ công

 Dựa vào thời hạn vay và trả nợ:

 Nợ ngắn hạn (nợ có thời hạn thanh toán còn lại dưới một năm)

 Nợ trung – dài hạn (có thời hạn thanh toán còn lại từ một năm trở lên)

 Dựa vào chủ thể cho vay:

 Nợ trong nước (các khoản vay từ người cho vay trong nước)

 Nợ nước ngoài (các khoản vay từ người cho vay ngoài nước)

 Dựa vào nghĩa vụ trả nợ:

 Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp (của chính quyền các cấp)

 Nghĩa vụ trả nợ dự phòng (các khoản nợ được chính phủ bảo lãnh)

4.4 Tác động của nợ công đến các biến số kinh tế

4.1 Tác động tới tăng trưởng kinh tế

Có thể thấy ở một phương diện nào đó, khủng hoảng nợ công là tình trạng áchtắc trong quá trình tài chính công và làm giảm sút chức năng tài chính công Chonên, có thể thấy khủng hoảng nợ công sẽ dẫn đến suy giảm tăng trưởng kinh tế vàlàm cho tài chính quốc gia trở nên suy yếu đi Lúc đó sẽ dẫn đến tình trạng thắt chặtchi tiêu để giảm thâm hụt ngân sách

Nhiệm vụ của chính phủ là phải giải quyết được vấn đề thâm hụt ngân sáchnhưng lại không đẩy nền kinh tế trở lại tình trạng suy thoái

Khi nợ công tăng cao, nền kinh tế bị hạ bậc tín nhiệm, dẫn đến là mục tiêu củacác thế lực đầu cơ quốc tế

Vì vậy, cần phải xác định được tình trạng nợ công của quốc gia, phân tíchđược tính chất của nợ công Đó là nợ trong nước hay vay nợ nước ngoài; tốc độtăng trưởng kinh tế; lượng dự trữ quốc gia…

Trang 10

Khi một quốc gia lâm vào tình trạng vỡ nợ, không thực hiện được các nghĩa

vụ nợ (trả nợ gốc và lãi ) thì quốc gia đó sẽ ngay lập tức bị hạ mức tín nhiệm Việcchính phủ huy động thông qua trái phiếu (hay hình thức vay khác) đều trở nên khókhan và lãi suất sẽ cao hơn

Khi tín nhiệm trái phiếu quốc tế của chính phủ bị tụt hạng, nhất là khi bịkhủng khoảng nợ công, chính phủ sẽ thiên về huy động vốn từ thị trường trongnước Tình trạng lấn át đầu tư có thể dẫn đến khu vực tư nhân thu hẹp sản xuất vàdẫn đến suy giảm kinh tế trong trung hạn Cụ thể: khi chính phủ tăng cường huyđộng trong nước để tài trợ cho hoạt động của mình (thường là sau khủng hoảng nợcông), chính phủ phải huy động với lãi suất cao, và do đó, lãi suất thị trường trongnước sẽ gia tăng, khu vực tư nhân sẽ thu hẹp đầu tư do không tiếp cận được vốn vìkhi đó đầu tư công đã cạnh tranh nguồn vốn của khu vực tư nhân…

Việc đầu tư nhiều, kém hiệu quả, tăng vay nợ dẫn đến lấn át đầu tư và khủnghoảng nợ công Tuy nhiên trên phương diện trung hạn, sau các cuôc khủng hoảng

nợ công là một chu kỳ tăng cường huy động mới mạnh mẽ hơn để trang trải chocác khoản cứu trợ từ cộng đồng quốc tế Và điều đó có thể dẫn đến hiệu ứng lấn átđầu tư tư nhân, lãi suất cao do chính phủ tăng huy động hoặc tăng thuế để tận thuđảm bảo nguồn trả nợ

4.3 Tác động tới lạm phát, tăng giáKhủng hoảng nợ công thường kéo theo hoặc đi kèm khủng hoảng tiền tệ ngânhang

Trong ngắn hạn, khi GDP tăng, cầu tiền tệ sẽ tăng lên Nếu cung tiền tệ khôngđổi, cầu tiền tăng sẽ làm cho lãi suất thị trường tăng, dẫn đến đồng nội tệ tăng giá,kéo theo nhập siêu, khuyến khích nhập khẩu cản trở xuất khẩu Trong dài hạn, cảlạm phát và lãi suất danh nghĩa cùng tăng theo cùng sự gia tăng của cung tiền

Hiện tượng này thường thấy ở các nước đang phát triển do nguồn thu từ thuếcòn hạn chế trong khi nhu cầu chi tiêu của chính phủ lại lớn Tại các nước pháttriển in tiền để tài trợ cho chi tiêu chính phủ cũng xảy ra, nhưng thường là tronggiai đoạn chiến tranh, khi nhu cầu chi tiêu và các khoản nợ chính phủ quá lớn,chính phủ chọn cách phát hành trái phiếu để tài trợ cho các khoản chi tiêu

Việc tăng nợ công còn tác động tới lạm phát thông quá kênh khác Khi các hộgia đình nắm giữ nhiều trái phiếu chính phủ hơn, họ sẽ cảm thấy giàu hơn hẳn dẫnđến chi tiêu nhiều hơn

Trang 11

II.Khủng hoảng nợ công

1.1 Khái niệm

Cũng giống như tình trạng đa khái niệm của nợ công, tùy thuộc vào từng góc

độ nhìn nhận và đánh giá sự kiện, khủng hoảng nợ công được cắt nghĩa theo các cơ sở khác nhau.

Hiểu một cách khái quát nhất, khủng hoảng nợ xảy ra khi thâm hụt ngân sách luỹ kế đến một thời điểm nào đó vượt quá khả năng kiểm soát, điều tiết và trả nợ của chính phủ, dẫn đến suy giảm các hoạt động kinh tế kéo dài và trầm trọng Trải qua thời gian dài vận động phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung, khái niệm về vấn đề khủng hoảng nợ công cũng được thay đổi nhiều lần và riêng rẽ đối với từng tổ chức, khu vực độc lập.

Theo cách tiếp cận từ các khoản nợ khất lại, Detragiache và Spilimbergo (2001) xác định rằng cuộc khủng hoảng nợ sẽ xảy ra nếu một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau đây xảy ra:

- Có những khoản nợ gốc hoặc lãi chưa hoàn trả hoặc đang trả dở dang song phải xin khất lại nghĩa vụ trả nợ đối với chủ nợ (ngân hàng, tổ chức sở hữu trái phiếu) chiếm trên 5% tổng dư

nợ

- Có một thỏa thuận gia hạn hoặc tái cơ cấu nợ với chủ nợ được liệt kê trong Báo cáo Phát triển Tài chính Toàn cầu (GDF) của Ngân hàng Thế giới (WB) Nhìn nhận khủng hoảng nợ công tương đương với tình trạng “tiền phá

sản”, Sy(2004) đưa ra lập luận: giống như việc mất khả năng thanh toán những khoản nợ trong khu vực tài chính doanh nghiệp, khủng hoảng nợ công là biểu hiện “tiền phá sản” của trái phiếu chính phủ Theo định nghĩa đó, Sy đã chỉ ra từ năm 1994 đến năm 2002, trên thế giới xảy ra 140

sự kiện “tiền phá sản”, làm giảm uy tín và năng lực của thị trường trái phiếu Chính phủ

Trong thời điểm hiện nay, định nghĩa về nợ công của tổ chức Standard and Poor’s, quỹ tiền tệ thế giới IMF và Ngân hàng thế giới WB là một số cách giải thích được ưa thích trích dẫn và sử dụng nhiều hơn cả Theo Quỹ tiền tệ thế giới IMF, một quốc gia được xác nhận lâm vào khủng hoảng nợ nếu nó được tổ chức Standard & Poor’s liệt vào danh sách các nước không có khả năng hoàn trả nợ hoặc phải xin vay từ IMF một khoản lớn (vượt quá 100%

hạn mức tín dụng đề ra) để tài trợ cho khoản nợ nói trên Ở đây, tiêu chuẩn được đưa ra để Standard and Poor’s xác định một quốc gia là không có khả năng hoàn trả nợ là việc chính phủ của quốc gia đó không thể thanh toán đủ gốc hoặc tiền lãi cho các khoản nợ nước ngoài vào ngày đáo hạn hoặc trong thời gian ân hạn quy định (bao gồm các khoản phát sinh trong nghiệp vụ thanh toán nợ bằng hối phiếu, nghiệp vụ SWAPs tài sản nợ, …) Như vậy, tình hình vay nợ bất thường với quy mô lớn tại Quỹ tiền tệ quốc tế IMF là một trong những dấu hiệu báo trước cho những bất ổn trong tình trạng nợ công của một quốc gia, có thể dẫn đến nguy cơ khủng hoảng nhanh chóng.

Trang 12

2.2 Dấu hiệu nhận diện

Dựa vào những định nghĩa nêu trên, có thể chỉ ra một số đặc trưng quan trọng mang tính bản chất đối với các cuộc khủng hoảng nợ công trên thế giới

 Một là, khủng hoảng nợ công mang bản chất là khủng hoảng kinh tế, làm suy giảm các hoạt động kinh tế kéo dài và trầm trọng hơn cả suy thoái trong chu kỳ kinh tế

 Hai là, khủng hoảng nợ công không phân biệt quốc gia phát triển hay quốc gia đang phát triển Điều này có nghĩa là, bên cạnh vấn đề thiếu nợ thường xuyên tái diễn ở các quốc gia thuộc “Thế giới thứ ba”, khủng hoảng nợ hoàn toàn có khả năng xảy ra ở những nước phát triển, nơi nền kinh tế tăng trưởng một cách tương đối cao và ổn định

 Ba là, khủng hoảng nợ công một khi đã diễn ra thường kéo dài trong một thời gian, kéo theo nhiều hệ lụy không chỉ trên lĩnh vực kinh tế mà còn trong chính trị - văn hóa - xã hội

 Bốn là, khủng hoảng nợ công gắn liền với mức độ tín nhiệm của chính phủ quốc gia xảy ra sự kiện Khi nợ công liên tục tăng cao, nền kinh tế bị hạ bậc tín nhiệm theo báo cáo của các tổ chức chuyên đánh giá tín nhiệm công ty và quốc gia, niềm tin của người dân

và giới đầu tư bị lung lay; khi đó nền kinh tế dễ trở thành mục tiêu tấn công của các thế lực đầu

cơ quốc tế.

Trang 13

Chương II THỰC TRẠNG CÁC CUỘC KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI

I.CUỘC KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG Ở CHÂU MỸ LATINH

1.1 Nguyên nhân

Cuộc khủng hoảng nợ cuối thập niên 70 và trong thập niên 80 ở các quốc gia Mỹ Latinh được xem là thảm họa lớn nhất trong lịch sử khu vực này kể từ sau cuộc Đại khủng hoảng những năm 1930s

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng nợ tại Mỹ Latinh, đầu tiên phải kể đến việc khu vực này đầu tư quá nhiều vào cơ sở hạ tầng nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa dẫn đến thực trạng chính phủ bội chi một cách trầm trọng Bên cạnh đó, để thực hiện được mục tiêu công nghiệp hóa của mình, các quốc gia này phải nhập khẩu nhiều nguyên liệu vật liệu cũng như công nghệ sản xuất lớn từ nước ngoài, điều này dẫn đến sự gia tăng đột biến trong tỷ lệ nhập siêu Hai điều này dẫn đến một nhu cầu lớn về nguồn vốn của chính phủ, và họ đã thực hiện việc

đi vay từ các quốc gia phát triển khác và các tổ chức tài chính quốc tế.

Mô hình công nghiệp hóa do nhà nước khai triển ở khu vực Mỹ Latinh bắt đầu nhận được nhiều lời phê bình từ các nhà kinh tế cũng như các chính trị gia trong thập niên 60 (Hirschman,1971; Fishlow,1988; Love,1994) Các nhà kinh tế học đã chỉ ra rằng mô hình này với

sự can thiệp quá sâu của nhà nước, thiếu những tự do thông thường của thị trường đã sớm thể hiện sự không hiệu quả việc tăng thuế và sử dụng những hàng rào mậu dịch hạn chế nhập khẩu.

Trong khi đó, giới chính trị gia lại phê bình sự yếu kém của nền kinh tế trong việc thoát khỏi sự phụ thuộc vào thế giới bên ngoài, và đặc biệt, họ cho rằng sự mất cân bằng trong xã hội vẫn là hệ quả được kế thừa trong quá khứ ở khu vực này Hirschman (1971), mặc dù không chia sẻ quan điểm với giới chính trị gia, nhưng ông cũng thể hiện được suy nghĩ của mình về mô hình này ở khu vực Mỹ Latinh, đó là: “ Công nghiệp hóa được kỳ vọng sẽ thay đổi trật tự xã hội, tuy nhiên tất cả những gì nó làm được chỉ là phát triển sản xuất.”

Những khiếm khuyết của mô hình này dần dần ảnh hưởng sâu rộng đến tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội Sự mâu thuẫn đầu tiên xuất hiện ở nhóm các quốc gia trong khối Southern Cone (Argentina, Chile, Paraguay, Uruguay), là nơi chứng kiến những sự thay đổi rõ rệt trong xã hội đi kèm với sự kìm hãm của tốc độ tăng trưởng Theo như phân tích của Fishlow (1988), điều này xuất phát từ việc các quốc gia vẫn duy trì một chế độ quân chủ độc tài trong quá trình chuyển dịch lên nền kinh tế thị trường, dẫn đến sự mâu thuẫn căn bản giữa tự do thị trường

và sự can thiệp của chính phủ trên con đường phát triển.

Ở những quốc gia khác mặc dù cũng có nhiều sự thay đổi trong xã hội, nhưng lại không bắt nguồn trực tiếp từ việc chuyển dịch lên nền kinh tế thị trường Khu vực Trung Mỹ, nơi trở thành trung tâm của cuộc khủng hoảng nợ công những năm 1980s, lại gặp phải vấn đề về sở hữu đấ trong nông nghiệp và việc áp dụng mô hình tăng trưởng phụ thuộc vào xuất khẩu thay vì mô hình

Trang 14

công nghiệp hóa do nhà nước dẫn dắt Colombia là một ví dụ điển hình, khi kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, sự mâu thuẫn trong xã hội ở quốc gia này được giải thích bởi sự mất cân bằng trong sở hữu ruộng đất , tồn tại kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai Những mâu thuẫn này bị đẩy lên cao trào vào thập niên 80 và 90 bởi sự can thiệp của giới buôn lậu.

Trên thực tế, không phải tất cả các quốc gia Mỹ Latinh đều chịu ảnh hưởng bởi sự yếu kém trong điều hành kinh tế vĩ mô Đây chỉ là vấn đề nghiêm trọng xảy đến với Brazil và nhóm các quốc gia Southern Cone, ít nhất là cho đến trước thập niên 70 Tuy nhiên, sự tồn tại thâm hụt ngân sách ngày càng phát triển mạnh ở hầu hết các quốc gia Mỹ Latinh trong thời kỳ cuối của mô hình công nghiệp hóa dưới sự dẫn dắt chủ đạo của nhà nước Đây là hậu quả của sự mất cân bằng cán cân thương mại lẫn sự gia tăng nhu cầu đầu tư tại khu vực này Điều này đã thúc đẩy các quốc gia ngày càng tích cực đi vay từ nước ngoài.

Hình 1 Tăng trưởng GDP và cán cân thương mại tại Mỹ latinh 1962 – 2010

(Nguồn: World Bank Database)

Khoảng thời gian hai thập kỷ bắt đầu từ đầu những năm 1960s áp dụng mô hình công nghiệp hóa, mặc dù thường xuyên tồn tại thâm hụt thương mại nhưng nhìn chung tốc độ tăng trưởng trong thời gian này vẫn ở mức cao, trung bình vào khoảng 5% mỗi năm Tuy nhiên bắt đầu vào khoảng cuối thập niên 70 cho đến giữa thập niên 80, tăng trưởng kinh tế bắt đầu có dấu hiệu suy giảm, thậm chí chạm mức tăng trưởng âm Mặc dù trong thập niên 80 này tồn tại thặng

dư thương mại, nhưng tăng trưởng kinh tế dù có phục hồi vẫn không thể quay lại so với mức trong hai thập niên trước đó Tăng trưởng kinh tế khu vực trong thời gian này cũng phụ thuộc

Trang 15

nhiều vào mức đầu tư từ nước ngoài Kể từ sau Thế chiến thứ II đến giữa thập niên, tỷ lệ đầu tư chỉ dao động khoảng 20% GDP, đã tăng lên mức xấp xỉ 25% trong giai đoạn 1975-1980 Ngay sau đó, bước sang thập niên 80 là khoảng thời gian bắt đầu xảy ra khủng hoảng toàn khu vực , tỷ

lệ đầu tư giảm mạnh xuống còn gần 19% trong thập niên 90 và tiếp tục giảm xuống chỉ còn khoảng 18% trong thập niên tiếp theo Điểu này càng chứng tỏ sự nhảy vọt của vốn vay nước ngoài trong khoảng thời gian diễn ra cuộc khủng hoảng nợ ở khu vực này.

Bảng 1 Tổng vốn đầu tư (% GDP)

Tổng vốn đầu tư (% GDP)

1 950- 57

1 958-67

1 968-74

1 975-80

1 981-90

1 991-97

1 998-03

2 004-08

2 008-10

Quốc gia lớn 23,9 20,1 21,6 24,3 19,1 19,6 18,3 21,5 23,3

Quốc gia nhỏ 14,2 15,7 18,1 21,5 17,0 19,2 20,0 19,8 19,1

Mỹ Latinh 19,1 17,6 19,5 22,6 17,8 19,4 19,4 20,5 20,8

Các quốc gia lớn

21,0 19,5 22,2 25,1 18,9 18,2 18,0 19,9 20,9

Các quốc gia nhỏ

15,8 16,8 17,7 22,2 16,9 18,6 19,3 19,1 18,7

Mỹ Latinh 20,7 19,1 21,9 24,9 18,8 18,2 18,1 19,8 20,7

(Nguồn: Bertola & Ocampo (2012))

Mô hình công nghiệp hóa dưới sự dẫn dắt của nhà nước đồng thời cũng mang đến nhiều khó khăn liên quan đến chính sách tài khóa ở các quốc gia này Fitz Gerald (1978) đã diễn giải điều này qua ba xu hướng: sự gia tăng nhu cầu chi tiêu của chính phủ trong khi phần trăm chi tiêu cho các chương trình phúc lợi xã hội lại có xu hướng giảm; sự dịch chuyển của cơ cấu thuế từ

Trang 16

thuế tài sản và thu nhập sang các loại thuế gián tiếp; sự gia tăng nhu cầu vay vốn nước ngoài nhằm hỗ trợ khu vực tư nhân.

Ngoài những nguyên nhân kể trên, chúng ta cần xem xét đến những nguyên nhân bên ngoài khác góp phần dẫn đến khủng hoảng Đầu tiên phải kể đến cú sốc giá dầu tăng lần thứ nhất đã làm cho cán cân vãng lai của các nước OPEC thặng dư Vì thu nhập từ xuất khẩu dầu vượt quá khả năng hấp thu của nền kinh tế, các nước OPEC đã đem gửi hầu hết số tiền họ kiếm được vào các thị trường tiền tệ London và New York, nơi được coi là có độ an toàn cao với nhiều cơ hội đầu tư Khoản tiền này lại được các ngân hàng đem đầu tư vào các nước châu Mỹ Latinh hiện đang có tiềm năng tăng trưởng kinh tế mạnh Hầu hết các khoản tín dụng bằng USD dưới hình thức cho vay hợp vốn bởi các ngân hàng quốc tế, có lãi suất thả nổi và lấy lãi suất LIBOR làm cơ

sở Các ngân hàng thực hiện cho vay với lãi suất thả nổi Khi lãi suất biến động thì các con nợ chính là người gánh chịu rủi ro chứ không phải các ngân hàng Hơn nữa, vì các khoản vay này đều là khoản vay Chính phủ, được Chính phủ đứng ra bảo lãnh nên các ngân hàng cho rằng mức

độ rủi ro vỡ nợ là không đáng kể Đây chính là nhận thức sai lầm của các ngân hàng khi họ tiến hành cho vay ào ạt tại châu Mỹ Latinh Một ví dụ tiêu biểu ở đây chính là Citi Bank đã đầu tư hơn 174% dư nợ tín dụng trên vốn tự có vào 5 nước châu Mỹ Latinh, trong đó có Mexico.

Một nguyên nhân khác từ bên ngoài là do thâm hụt ngân sách Mỹ tăng lên nhanh chóng làm cho mức lãi suất LIBOR tăng từ 9,5 lên 16,6 % năm 1978 Lãi suất cao đã đẩy giá USD lên giá và như vậy đã làm tăng giá trị thực của các khoản nợ nước ngoài bằng USD của các con nợ

và lãi suất trên các khoản nợ cũng tăng theo.

Nguyên nhân tiếp theo là do sau cú sốc tăng giá dầu lần thứ nhất, các nước phát triển đã có những chính sách linh hoạt đối phó với việc này như bảo hộ mậu dịch, hạn chế nhập khẩu… và

đã làm cho khối lượng xuất khẩu của Mexico nói riêng và các nước kém phát triển nói chung không những bị thu hẹp mà thu nhập từ xuất khẩu cũng giảm mạnh Mexico không thể trông chờ vào các nguồn thu từ nhập khẩu để trang trải cho các chi phí nghĩa vụ nợ của mình hiện đang tăng nhanh đột biến.

Các nước châu Mỹ Latinh vào những năm 1980 là các nước kém phát triển trung binh với mức thu nhập bình quân đầu người thấp, khoảng $4014/năm Cơ cấu nền kinh tế Mexico phát triển lệch lạc, dựa vào xuất khẩu dầu là chủ yếu Các ngành kinh tế trọng điểm lại nằm trong tay Chính phủ, được Chính phủ bảo hộ Đồng thời, thị trường chứng khoán Mexico chưa phát triển, còn ở mức độ sơ khai nên các công ty phải vay vốn ngân hàng để kinh doanh Trong khi đó, các ngân hàng lớn trực thuộc Chính phủ lại buộc phải duy trì mức lãi suất thực thấp để khuyến khích đầu tư Chính chế độ lãi suất thực thấp này đã không khuyến khích tiết kiệm trong nước và vì thế gây ra tình trạng cung vốn không đáp ứng đủ cầu vốn, điều này buộc chính phủ Mexico phải đi vay nợ nước ngoài để tài trợ cho một số ngành nghề trọng điểm Sở dĩ chính phủ Mexico dễ dàng

đi vay nợ nước ngoài là vì vào những năm 1970, sau khi chính phủ thu được các khoản lợi lớn từ việc tăng giá dầu trong hai cú sốc giá dầu vào năm 1973-1974 và 1979 ( ngành công nghiệp dầu khíc của Mexico do Chính phủ nắm giữ) Vì thế Mexico đã được các ngân hàng đánh giá là nước

Trang 17

có độ an toàn tín dụng cao qua việc đánh giá trữ lượng dầu của nước này và thông qua những cải thiện trong chi tiêu công cộng và phát triển các chương trình xã hội khác.

Mặt khác, tỷ lệ lạm phát của Mexico tăng quá cao năm 1981 ở mức 27% và do đồng Peso của Mexico được neo cố định với USD nên được định giá quá cao Peso được đánh giá quá cao cộng với thâm hụt ngân sách lớn 16,2% năm 1092 và giảm thu nhập từ xuất khẩu dầu đã làm cho tài khoản vãng lai của Mexico bị thâm hụt trầm trọng, ở mức 2,5% GDP năm 1981 và 6,2% năm

1982 Mặc dù đã có những nỗ lực của Chính phủ cho việc phá giá đồng Peso vào tháng 2/1982, nhưng Chính phủ lại tỏ ra bất lực trong việc kiểm soát vấn đề thâm hụt ngân sách qua các chính sách giảm thâm hụt ngân sách và giảm cung ứng tiền, và vì thế tác động của việc phá giá chỉ dừng lại ở việc làm tăng thêm áp lực lạm phát.

2. 2 Diễn biến của cuộc khủng hoảng

Cuộc khủng hoảng nợ bắt đầu ở Mỹ Latinh thập niên 80, nhưng trên thực tế nguồn gốc sâu

xa của nó đã bắt đầu msnh nha từ những năm 1970 Đến đầu thập niên 80, các nước Mỹ Latinh bắt đầu gặp khó khăn trong việc trả nợ vì nền kinh tế thế giới suy thoái những năm 1979, 1980 đã tác động tiêu cực đến tăng trưởng và xuất khẩu của các nước này Hầu hết các tổ chức tài chính

và ngân hàng thế giới đều đã từ chối hoặc giảm cho vay các nước châu Mỹ Latinh khác Trong khi đó, các khoản nợ vay của chính phủ các nước còn lại chủ yếu là ngắn hạn và các nước gặp khó khăn trong thanh toán nợ khi các tổ chức cho vay từ chối gia hạn các khoản vay Hàng tỷ USD nhanh chóng đến hạn thanh toán và các dòng vốn bắt đầu thoái lui khỏi các quốc gia trong khu vực và các nước không còn được phép vay thêm.

Cuộc khủng hoảng nợ bắt đầu vào tháng 8/1982 khi Mexico tuyên bố vỡ nợ Điều này đã đồng loạt kéo theo các quốc gia khác như Argentina (1982, 1989), Bolivia (1980,1986,1989), Brazil (1983, 1986- 1987) và Ecuador (1982, 1984) Cuộc khủng hoảng đã gây ra những tác động tiêu cực đến nền kinh tế các quốc gia Trong suốt những năm đầu của cuộc khủng hoảng, tăng trưởng GDP các nước trong khu vực chỉ còn 2%, một con số thấp kỷ lục khi so sánh với các năm trước.

Để có tiền trả nợ, chính phủ đã cầu viện những tổ chức quốc tế như Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) Để đạt được thỏa thuận , các nước phải chấp nhận thắt lưng buộc bụng, phá giá nội tệ hay tự do hóa thương mại để cải thiện nền tài chính Hậu quả là kinh tế tăng trưởng trì trệ, thu nhập bình quân đầu người giảm dẫn đến chênh lệch giàu nghèo ngày càng

rõ rệt Cho đến tận thập niên 90, khủng hoảng ở Mỹ Latinh mới bắt đầu có chuyển biến.

Cuộc khủng hoảng nợ tại khu vực Mỹ Latinh có thể chia làm ba giai đoạn chính Giai đoạn đầu tiên từ trước diễn ra khủng hoảng cho đến năm 1985 Trong giai đoạn này, có rất nhiều sự thay đổi đã được thực hiện với việc các nhà kinh tế và hoạch định chính sách dự đoán rằng cuộc khủng hoảng sẽ diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn, cuộc khủng hoảng sẽ kết thúc ngay khi nền kinh tế có các dấu hiệu phục hồi Họ cho rằng đây là một cuộc khủng hoảng thanh khoản hơn

là một cuộc khủng hoảng trong khả năng thanh toán Tại một số quốc gia, chính phủ đã thể hiện

Trang 18

lập trường cứng rắn của mình trong việc đối phó với cuộc khủng hoảng nợ, tiêu biểu là trường hợp thủ tướng Alan Garcisa đưa ra quyết định giới hạn sự vay nợ của Peru dưới mức 10% doanh thu từ xuất khẩu Bên cạnh đó là cố gắng thành lập một liên hiệp giữa các chủ nợ của khu vực này Điển hình là cuộc hội nghị diễn ra tại Cartagena, Chile vào năm 1984 Sau cuộc hội nghị này, các khoản nợ của Bolivia hay Venezuela vẫn phải tiếp tục thỏa hiệp trực tiếp với các ngân hàng của họ, còn Argentina vẫn tỏ thái độ cứng rắn không chịu thỏa hiệp Điều này có thể thấy rằng dù đã cố gắng nhưng khu vực này vẫn chưa thể có sự đồng thuận nhất định trong khu vực, nhiều quốc gia muốn tự mình giải quyết các khoản nợ của chính mình Chính sự bảo thủ này đã dẫn đến việc trong khi Mỹ dần dần phục hồi sau cuộc khủng hoảng ngân hàng thì khu vực Mỹ Latinh lại càng lún sâu thêm vào cuộc khủng hoảng.

Cuộc khủng hoảng bắt đầu giai đoạn hai từ tháng 9 năm 1985 với sự khởi đầu của kế hoạch Baker lần thứ nhất (Baker Plan) tại Seoul nhằm đưa ra được những điều chỉnh trong việc tạo ra những điều luật cho vay hiệu quả hơn cùng với những gói tín dụng đi kèm với nó Gói cứu trợ vào thời điểm này thực sự không đủ để giải quyết hoàn toàn khủng hoảng, và hai năm tiếp theo được thay thế bằng kế hoạch Baker lần hai, đổi mới trong việc tạo điều kiện cho các hoạt động mua lại hoặc trao đổi nợ và cho phép phát hành trái phiếu với lãi suất thấp.

Giai đoạn ba của cuộc khủng hoảng bắt đầu vào tháng 3 năm 1989, tức là gần 7 năm sau kể

từ ngày bắt đầu cuộc khủng hoảng, với sự thực thi của kế hoạch Brady (Brady Plan), bao gồm việc giảm bớt cán cân nợ, đi kèm với việc tạo điều kiện cho khu vực Mỹ Latinh được vay mượn

từ các nguồn tài trợ tư nhân quốc tế Đây là giai đoạn cuối cùng của cuộc khủng hoảng, sau đó các quốc gia Mỹ Latinh cũng dần đi vào phục hồi kinh tế Tuy nhiên, một thập kỷ sau suy thoái

vì khủng hoảng đã làm cho mức đóng góp của khu vực này vào GDP thế giới giảm 1.5% cùng với việc GDP đầu người trong khu vực giảm 8% so với quốc gia công nghiệp và 23% so với mức trung bình toàn thế giới

3.3 Hậu quả của các cuộc khủng hoảng

Các nước gặp khủng hoảng do nợ nước ngoài vượt GDP và họ không còn khả năng trả nợ.

Những nước như Brazil, Argentina, Mexico đã vay mượn rất nhiều tiền từ các tổ chức tín dụng và các tập đoàn công nghiệp quốc tế để triển khai các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng Khi nền kinh tế các nước này đang tăng trưởng, các chủ nợ rất vui vẻ cấp vốn Thế nhưng từ năm 1975 đến 1982, khoản nợ của Mỹ Latinh với các ngân hàng thương mại tăng lên theo mức lãi suất 20,4%/năm.

Như vậy, khoản nợ của họ từ mức 75 tỷ USD vào năm 1975 đã tăng gấp bốn lần, lên mức 315 tỷ USD vào năm 1983, tương đương 50% GDP khu vực này Cùng lúc đó, Mỹ và EU tăng lãi suất ngân hàng, càng khiến khoản nợ của Mỹ Latinh thêm chồng chất.

Vào tháng 8-1982, Bộ trưởng Tài chính Mexico Jesus Silva-Herzog tuyên bố, Mexico không còn khả năng trả khoản nợ nước ngoài 85 tỷ USD và yêu cầu đàm phán lại thời hạn trả nợ với các chủ nợ Hậu quả, hầu hết các ngân hàng thương mại đã giảm đáng kể hoặc ngừng hẳn các khoản cho vay mới với cả khu vực Mỹ Latinh Hàng tỷ USD trước đó được hứa hẹn cho vay đều

Trang 19

đình hoãn Những khoản vay mới lúc này đều kèm theo nhiều điều kiện ngặt nghèo và các con nợ buộc phải chấp thuận sự can thiệp của IMF Trong thời kỳ này, các quan chức IMF liên tục có các chuyến đi con thoi từ nước này sang nước khác ở Mỹ Latinh để đưa ra các chương trình “thắt lưng buộc bụng” tạo cơ hội để các nước khủng hoảng có thể trả nợ.

Chính vì vậy, tỷ lệ tăng trưởng và mức sống của các nước trong khu vực sụt giảm đáng kể, dẫn đến sự phản đối gay gắt IMF và các chính sách của tổ chức này Chính điều này đã dẫn đến nhiều thay đổi về chính trị Bộ trưởng Tài chính Mexico Herzog phải ra đi khi ông bị cáo buộc quá “vâng lời IMF” mà không tính đến sự bất ổn trong nước Sau đó đến lượt chính phủ của Tổng thống Peru Alan Garcia phải từ chức Chính phủ mới sau đó bác bỏ “công thức” do IMF đưa ra

và tự cho phép mình khất nợ với IMF Năm 1983, khoản nợ nước ngoài của Brazil lên mức 111

tỷ USD và nước này buộc phải nhờ cậy đến IMF sau khi các ngân hàng thương mại từ Tây Âu và

Mỹ đều từ chối không cho Brazil vay tiếp.

II.CUỘC KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG Ở KHU VỰC CHÂU ÂU

1.1 Diễn biến cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu

 Hy Lạp – nơi hình thành khủng hoảng nợ công

Năm 2010, cuộc khủng hoảng nợ công chủ yếu xảy ra ở Hy Lạp khi chi phí cho các khoản nợ Chính phủ liên tục tăng lên:

Hình 2 So sánh lợi suất trái phiếu chính phủ kì hạn 10 năm giữa Đức và Hy

Lạp

(Nguồn: Website tạp chí kinh doanh quốc tế Bloomberg)

Nhìn vào hình 1, có thể thấy, lợi suất trái phiếu chính phủ kì hạn 10 năm củachính phủ Hy Lạp tăng một cách đột ngột trong khoảng từ năm 2010 với mức đỉnhđiểm là hơn 35%/năm vào khoảng năm 2011

Trang 20

Ngày 2/5/2010, các nước thành viên khu vực Eurozone và IMF đã thông quakhoản vay 110 tỷ euro cho Hy Lạp, với điều kiện nước này phải thắt lưng buộcbụng khắc nghiệt.

Hình 3 Tình hình vay nợ của Hy Lạp

(Nguồn: Open Europe, BIS, IMF, ECB)

Hơn một năm sau khi nhận được khoản hỗ trợ 110 tỉ euro, Hy Lạp vẫn tiếp tục

ở trong nguy cơ vỡ nợ IMF ước tính nợ quốc gia của Hy Lạp có thể lên đến 172%

GDP (so với mức khoảng 120% lúc bắt đầu rơi vào khủng hoảng nợ) trong khithâm hụt ngân sách của nước này lúc bấy giờ cao hơn dự kiến và nước này đangcần một khoản hỗ trợ mới (Nguồn: Toàn cảnh khủng hoảng nợ công châu Âu)

Và cho dù Hy Lạp có nhận được tiền tài trợ mới, được giãn nợ thì cũng không

có nghĩa là Hy Lạp có thể tránh được chuyện bị các tổ chức xếp hạng tín nhiệm dánnhãn “vỡ nợ” Điều đó có nghĩa là lối lo về khủng hoảng nợ có thể tiếp tục tác độngxấu đến thị trường cổ phiếu, nhất là cổ phiếu ngân hang và trái phiếu

Khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp kéo dài đến năm 2015 Có thể nói, cuộc khủng hoảng tài chính bùng phát từ năm 2008 đã vắt kiệt sức của những người dân

Hy Lạp Hai gói cứu trợ liên tiếp trị giá 240 tỷ euro (271,58 tỷ USD) cùng với các biện pháp “thắt lưng buộc bụng” nghiêm ngặt đã giúp Hy Lạp thoát khỏi nguy cơ

vỡ nợ năm 2010 Tuy nhiên, Hy Lạp trên thực tế chỉ số nhờ tiền cứu trợtrong khi nền kinh tế không có dấu hiệu khởi sắc

Tháng 10/ 2011, sau các cuộc đàm phán xuyên đêm, lãnh đạo các nước châu

Âu đã đồng ý giảm nợ cho Hy Lạp do nước này vẫn liên tục gặp rắc rối về tài

Trang 21

chính Các nhà đầu tư sẽ chỉ nhận được 50% giá trị số trái phiếu Hy Lạp họ đang giữ Nhờ đó mà Hy LẠp đã giảm được đáng kể số nợ phải trả.

Đầu tháng 3/2012, các chủ nợ tư nhân đồng ý hoán đổi 85% nợ cho Hy Lạp, giúp cắt giảm khoản 100 tỷ euro khỏi nghĩa vụ quốc gia này Ngay lập tức, ngày 9/3/2012, Fitch và Moody’s đồng loạt xếp hạng tín nhiệm của Hy Lạp xuống vỡ nợ

Trước đó, vào ngày 28/2/2012, Athens cũng bị Standard & Poor’s xem là vỡ nợ một phần Hy LẠp bị coi như là đã vỡ nợ

Tháng 4/2014, nhà đầu tư chào mừng Hy Lạp quay lại thị trường trái phiếu sau 4 năm vắng bóng Nhu cầu trái phiếu kỳ hạn 5 năm của nước này đã khiến nhiều người gọi đây là ”điểm bắt đầu của sự kết thúc” cho hoạt động cứu trợ Hy Lạp, dù nhận định đó còn có vẻ quá sớm

Tháng 2 năm 2015, nhóm Bộ trưởng Tài chính của các nước Eurozone (Eurogroup) chấp thuận gia hạn nợ them 4 tháng cho Hy Lạp, sau khi Chính phủ nước này nộp đề xuất cải tổ ngay trước hạn chót Các biện pháp này gồm kiểm soátchi tiêu công, giảm tham nhũng và trốn thuế Hy Lạp sau đó được yêu cầu thanh toán cho các chủ nợ khác nhau trong giai đoạn tháng 4 – tháng 6/2015 Tuy nhiên không một hạn chót nào được đáp ứng

Ngày 1/7/2015, IMF phát đi thông báo xác nhận HY Lạp không trả nợ đúng hạn Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, một nền kinh tế phát triển như Hy Lạp bị Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) kết luận vỡ nợ Với tuyên bố này, Hy Lạp mặc nhiên không được quyền tiếp cận bất cứ khoản vay nào của quỹ cho tới khi thanh toán xong nghĩa vụ nợ cũ

Hình 4 Đồ họa các khoản cứu trợ cho Hy Lạp

Trang 22

(Nguồn: Open Europe, BIS, IMF, ECB)

 Ý – điểm lây lan mới của cuộc khủng hoảng

Sau Hy Lạp, Ý chính là mối quan tâm thứ hai của thị trường tài chính cùnggiới báo chí Nếu Hy Lạp bị xếp hạng vỡ nợ, nhiều nhà đầu tư sẽ lại quay sang muavàng và bán đi các trái phiếu chính phủ có vấn đề khác như Ý Chính vì vây, Ý cóthể trở thành nạn nhân mới của cuộc khủng hoảng

Bảng 2 Nợ của chính phủ theo phần trăm GDP của Đức, Ý, HY Lạp

Đơn vị: % Nước

Ngày đăng: 11/10/2022, 08:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

cơng nghiệp hóa do nhà nước dẫn dắt. Colombia là một ví dụ điển hình, khi kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, sự mâu thuẫn trong xã hội ở quốc gia này được giải thích bởi sự mất cân bằng trong sở hữu ruộng đất , tồn tại kể từ sau chiến tranh thế giới - (Tiểu luận FTU) NGHIÊN cứu một số CUỘC KHỦNG HOẢNG nợ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI và bài học CHO VIỆT NAM
c ơng nghiệp hóa do nhà nước dẫn dắt. Colombia là một ví dụ điển hình, khi kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, sự mâu thuẫn trong xã hội ở quốc gia này được giải thích bởi sự mất cân bằng trong sở hữu ruộng đất , tồn tại kể từ sau chiến tranh thế giới (Trang 14)
Mô hình cơng nghiệp hóa dưới sự dẫn dắt của nhà nước đồng thời cũng mang đến nhiều khó khăn liên quan đến chính sách tài khóa ở các quốc gia này - (Tiểu luận FTU) NGHIÊN cứu một số CUỘC KHỦNG HOẢNG nợ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI và bài học CHO VIỆT NAM
h ình cơng nghiệp hóa dưới sự dẫn dắt của nhà nước đồng thời cũng mang đến nhiều khó khăn liên quan đến chính sách tài khóa ở các quốc gia này (Trang 15)
Bảng 1. Tổng vốn đầu tư (% GDP) - (Tiểu luận FTU) NGHIÊN cứu một số CUỘC KHỦNG HOẢNG nợ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI và bài học CHO VIỆT NAM
Bảng 1. Tổng vốn đầu tư (% GDP) (Trang 15)
 Hy Lạp – nơi hình thành khủng hoảng nợ cơng - (Tiểu luận FTU) NGHIÊN cứu một số CUỘC KHỦNG HOẢNG nợ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI và bài học CHO VIỆT NAM
y Lạp – nơi hình thành khủng hoảng nợ cơng (Trang 19)
Hình 3. Tình hình vay nợ của Hy Lạp - (Tiểu luận FTU) NGHIÊN cứu một số CUỘC KHỦNG HOẢNG nợ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI và bài học CHO VIỆT NAM
Hình 3. Tình hình vay nợ của Hy Lạp (Trang 20)
Bảng 2. Nợ của chính phủ theo phần trăm GDP của Đức, Ý, HY Lạp Đơn vị: % - (Tiểu luận FTU) NGHIÊN cứu một số CUỘC KHỦNG HOẢNG nợ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI và bài học CHO VIỆT NAM
Bảng 2. Nợ của chính phủ theo phần trăm GDP của Đức, Ý, HY Lạp Đơn vị: % (Trang 22)
GV: Các hình vẽ trong SGK, phiếu bài tập, phần thưởng, các câu hỏi.    HS: Vở - (Tiểu luận FTU) NGHIÊN cứu một số CUỘC KHỦNG HOẢNG nợ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI và bài học CHO VIỆT NAM
c hình vẽ trong SGK, phiếu bài tập, phần thưởng, các câu hỏi. HS: Vở (Trang 24)
Hình 6. So sánh rủi ro nợ công các nước - (Tiểu luận FTU) NGHIÊN cứu một số CUỘC KHỦNG HOẢNG nợ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI và bài học CHO VIỆT NAM
Hình 6. So sánh rủi ro nợ công các nước (Trang 24)
Cuộc khủng hoảng nợ công này cũng khiến cho tình hình chính trị của Bồ Đào Nha trở nên gay gắt - (Tiểu luận FTU) NGHIÊN cứu một số CUỘC KHỦNG HOẢNG nợ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI và bài học CHO VIỆT NAM
u ộc khủng hoảng nợ công này cũng khiến cho tình hình chính trị của Bồ Đào Nha trở nên gay gắt (Trang 25)
Hình 7. GDP bình quân đầu người (USD) - (Tiểu luận FTU) NGHIÊN cứu một số CUỘC KHỦNG HOẢNG nợ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI và bài học CHO VIỆT NAM
Hình 7. GDP bình quân đầu người (USD) (Trang 27)
Hình 8. Lợi tức trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm của các nước từ năm 2008 đến 2011 - (Tiểu luận FTU) NGHIÊN cứu một số CUỘC KHỦNG HOẢNG nợ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI và bài học CHO VIỆT NAM
Hình 8. Lợi tức trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm của các nước từ năm 2008 đến 2011 (Trang 28)
Hình 9. Thị trường chứng khốn châu Âu và Athens năm 2010 - (Tiểu luận FTU) NGHIÊN cứu một số CUỘC KHỦNG HOẢNG nợ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI và bài học CHO VIỆT NAM
Hình 9. Thị trường chứng khốn châu Âu và Athens năm 2010 (Trang 29)
I.Tình hình nợ công của Việt Nam - (Tiểu luận FTU) NGHIÊN cứu một số CUỘC KHỦNG HOẢNG nợ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI và bài học CHO VIỆT NAM
nh hình nợ công của Việt Nam (Trang 31)
Chương III. TÌNH HÌNH NỢ CÔNG VIỆT NAM VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA THẾ GIỚI NHẰM TRÁNH KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG CHO VIỆT NAM - (Tiểu luận FTU) NGHIÊN cứu một số CUỘC KHỦNG HOẢNG nợ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI và bài học CHO VIỆT NAM
h ương III. TÌNH HÌNH NỢ CÔNG VIỆT NAM VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA THẾ GIỚI NHẰM TRÁNH KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG CHO VIỆT NAM (Trang 31)
Hình 11. Nợ cơng bình qn đầu người của Việt Nam (2006-2015) - (Tiểu luận FTU) NGHIÊN cứu một số CUỘC KHỦNG HOẢNG nợ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI và bài học CHO VIỆT NAM
Hình 11. Nợ cơng bình qn đầu người của Việt Nam (2006-2015) (Trang 32)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w