Bên cạnh các lợi ích mang lại từ hoạt động chăn nuôi như đáp ứng nhu cầu thực phẩm tiêu dùng hàng ngày cho xã hội mà còn là nguồn thu nhập quan trọng của rất nhiều hộ gia đình, thì chăn nuôi heo cũng nảy sinh nhiều vấn đề bất cập bởi các chất thải rắn, lỏng, khí phát sinh ngày càng nhiều chúng làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng dân cư, ảnh hưởng đến hệ sinh thái tự nhiên. Và nó đã gây nên một làn sóng mới phản đối từ các hộ dân sinh sống gần trại heo. Hiện nay trên địa bàn huyện, các hộ dân và trang trại nuôi heo tập trung đã áp dụng nhiều biện pháp xử lý chất thải từ chăn nuôi heo như: xây hầm bioga, hố ủ, bể xử lý chất thải, hệ thống xử lý chất thải bằng phủ bạt HDPE…tuy nhiên qua khảo sát và kiểm tra thì một số hệ thống xử lý chất thải không đạt yêu cầu, số lượng heo nuôi nhiều hơn so với khả năng xử lý của hầm nên lượng nước thải, chất thải và mùi hôi vẫn được đưa ra môi trường ngoài qua sông, suối làm ô nhiễm môi trường.
Trang 1Đề tài: “Ứng dụng mô
hình sinh kế chăn nuôi heo trên đệm lót sinh thái”.
Trang 2MỞ ĐẦU
Trong những năm trở lại đây tình hình chăn nuôi heo trên địa bàn huyệnCam Lâm đã có những bước phát triển mạnh mẽ không những tăng lên vềtổng đàn mà còn tăng lên về số lượng hộ chăn nuôi Đến tháng 8 măm 2014,tổng đàn heo trên địa bàn huyện lên đến 83.150 con với khoảng 1.500 hộ dân.Bên cạnh các lợi ích mang lại từ hoạt động chăn nuôi như đáp ứng nhucầu thực phẩm tiêu dùng hàng ngày cho xã hội mà còn là nguồn thu nhậpquan trọng của rất nhiều hộ gia đình, thì chăn nuôi heo cũng nảy sinh nhiềuvấn đề bất cập bởi các chất thải rắn, lỏng, khí phát sinh ngày càng nhiềuchúng làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng dân
cư, ảnh hưởng đến hệ sinh thái tự nhiên Và nó đã gây nên một làn sóng mớiphản đối từ các hộ dân sinh sống gần trại heo
Hiện nay trên địa bàn huyện, các hộ dân và trang trại nuôi heo tập trung
đã áp dụng nhiều biện pháp xử lý chất thải từ chăn nuôi heo như: xây hầmbioga, hố ủ, bể xử lý chất thải, hệ thống xử lý chất thải bằng phủ bạt HDPE…tuy nhiên qua khảo sát và kiểm tra thì một số hệ thống xử lý chất thải khôngđạt yêu cầu, số lượng heo nuôi nhiều hơn so với khả năng xử lý của hầm nênlượng nước thải, chất thải và mùi hôi vẫn được đưa ra môi trường ngoài quasông, suối làm ô nhiễm môi trường
Đối với các cơ sở chăn nuôi heo các chất thải không chỉ gây ô nhiễm môitrường mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe con người, làm giảm sức đềkháng của vật nuôi, tăng tỉ lệ mắc bệnh, năng suất bị giảm, tăng các chi phíphòng trị bệnh, dẫn đến hiệu quả kinh tế của người chăn nuôi không cao Với những lý do trên, vấn đề xử lý chất thải trong chăn nuôi trở nên cấpbách hơn bao giờ hết và nó sẽ trở thành vấn nạn của chăn nuôi ở thời điểmhiện tại và tương lai sau này, từ đó đặt ra vấn đề là phải có biện pháp, phương
Trang 3thức giải quyết sao cho có hiệu quả Bên cạnh các giải pháp đã áp dụng thànhcông trong việc xử lý môi trường chăn nuôi thì giải pháp nuôi heo trên đệmlót sinh thái là một biện pháp hữu hiệu Trước khi áp dụng rộng rãi thì việckiểm chứng về khả năng xử lý ô nhiễm môi trường, cũng như hiệu quả kinh tếcủa phương pháp này trên địa bàn huyện là cần thiết.
Trang 4Theo Cục thống kê, năm 2013 số heo trong cả nước đạt 26,3 triệu con,trong đó Khánh Hòa 113,3 nghìn con Hình thức chăn nuôi nông hộ vẫn tậptrung phổ biến Nhà nước cũng đã có nhiều chính sách khuyến khích pháttriển chăn nuôi heo tại hộ gia đình nhằm giải quyết lao động nhàn rỗi, gópphần xóa đói giảm nghèo Tuy nhiên do việc phát triển chăn nuôi diễn ra tựphát, nhiều trang trại nuôi heo vẫn tập trung trong khu dân cư đã gây tác độngxấu đến ô nhiễm môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Theo Loehr (1984) [16] lượng phân thải ra hàng ngày bằng 6-8% khốilượng cơ thể heo Hill (1982) [11] báo cáo rằng lượng phân thải ra của heo cókhối lượng dưới 10 kg là 0,5 – 1 kg, từ 15-40 kg là 1-3 kg phân, từ 45-100 kg
là 3-5 kg phân một ngày đêm
Ô nhiễm môi trường do chăn nuôi heo gây ra chủ yếu từ các chất thảirắn, chất thải lỏng, khí (CO2, CH4, N2O, NH3, ) Những chất thải này gây ônhiễm nghiêm trọng không khí, ảnh hưởng tới môi trường sống của dân cư(mùi hôi, khí độc, tiếng ồn, ), nguồn nước, tài nguyên đất và ảnh hưởng chínhđến kết quả sản xuất chăn nuôi (Hoàng Kim Giao và Đào Lệ Hằng, 2006) [4].Theo Phùng Đức Tiến và cs (2009) [6], trong chăn nuôi heo, tỷ lệ có xử
lý chất thải tương ứng với 3 quy mô: nông hộ, gia trại và trang trại là 58,93%,68,75%, 65,63% Cho thấy các trại chăn nuôi quy mô lớn bắt đầu chú ý đếnvấn đề bảo vệ môi trường (có các biện pháp quản lý chất thải) thì các hộ chănnuôi nhỏ lẻ vấn đề ô nhiễm ngày một nghiêm trọng hơn
Chất thải chăn nuôi là một trong những nguồn chủ yếu làm tăng lượngkhí hiệu ứng nhà kính Trong quá trình dự trữ, xử lý và tái sử dụng phânchuồng một lượng lớn các khí hiệu ứng nhà kính như CO2, CH4, N20 sẽ đượcphát tán vào khí quyển
Đối với các cơ sở chăn nuôi, các chất thải gây ô nhiễm môi trường có
Trang 5ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe con người, làm giảm sức đề kháng vật nuôi,tăng tỉ lệ mắc bệnh, năng suất bị giảm, tăng các chi phí phòng trị bệnh, hiệuquả kinh tế của chăn nuôi không cao (Attar và Brake, 1988) [8]
Vì vậy, phải có biện pháp xử lý chất thải trong chăn nuôi nhằm giảmthiểu việc ô nhiêm môi trường do chăn nuôi heo gây ra
II TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của các kiểu chuồng đến sự thảiamoniac và hàm lượng amoniac trong chuồng (Bhamidi-marri và Pandey,
1996 [9]; Kavolelis, 2006) [15] Các tác giả đã báo cáo rằng, kiểu chuồngnuôi lợn đã ảnh hưởng tới nồng độ khí NH3 thải ra Nồng độ khí NH3 thấpnhất (10ppm) đã đo được ở nhóm lợn nuôi trên lớp đệm lót nền rơm lúa mạchdày và được thay hàng tuần so với nhóm nuôi sàn và nuôi nền bê tông
Việc sử dụng mùn cưa và các nguyên liệu khác như lúa mạch, lõi ngô,
gỗ nghiền… để hấp thụ phân, nước tiểu, giảm mùi hôi và đặc biệt là cung cấpcho vật nuôi một môi trường sống thoải mái, gần với tự nhiên hơn đã đượcnhiều trang trại áp dụng ở nhiều nước như Đài Loan, Hongkong, Nhật Bản,Newzealand, Hà Lan… (Hong và cs., 1997 [12]; Honeyman và cs., 2003) [13]Một số nghiên cứu đã báo cáo rằng, với mô hình chăn nuôi này, lượngphân trong chuồng giảm rõ rệt do bị phân hủy nhanh, đồng thời tăng sự tích tụmột số chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng như N, phospho, potassium vàsinh khối vi sinh vật (Tiquia và Cs., 2002 [17]; Charest và cs., 2004) [10]Việc sử dụng các chất độn lót nền chuồng có liên quan đặc biệt tới sựthoải mái và tập tính tự nhiên của heo Các chất độn lót như rơm, mùn cưa
Trang 6có ảnh hưởng rõ rệt đến sự giảm tình trạng stress của heo khi so sánh vớiphương pháp nuôi nền bê tông (Jensen và Pederson, 2007) [14]
Công nghệ chăn nuôi sinh thái không có chất thải là một công nghệ chănnuôi mới, hiệu quả của Trung Quốc Công nghệ này dựa trên nền tảng côngnghệ lên men vi sinh đệm lót nền chuồng với chế phẩm sinh học “Chế phẩmlên men Hoạt tính 99” Đây là một sản phẩm bổ sung đa năng do Trung tâmchuyên khai thác sản phẩm kỹ thuật “Cao – Mới – Tinh” Nghi Xuân, TrungQuốc nghiên cứu thành công năm 1999 Chế phẩm lên men Hoạt tính 99 đượcgiới thiệu là chế phẩm lên men và phòng bệnh rất hữu hiệu Năng lực lên menmạnh cả thể dịch và thể rắn, kết hợp với công năng bảo vệ sức khỏe của độngvật tuyệt vời được xem như là không có đối thủ nào có thể cạnh tranh nổi ởTrung Quốc hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Đã có rất nhiều nghiên cứu cũng như đề xuất các giải pháp nhằm giảmthiểu ô nhiễm môi trường do chăn nuôi gây ra Các nghiên cứu trong nước tậptrung chủ yếu vào các biện pháp xử lý chất thải như:
Nghiên cứu xử lý nước thải chăn nuôi bằng phương pháp cơ học nhằmmục đích tách các chất không hòa tan và các chất dạng keo ra khỏi nước Xử
lý cơ học chỉ là bước đầu chuẩn bị cho xử lý sinh học Trong phương phápnày nước thải đi qua bể lắng, bể lọc để tách các chất lơ lững ra khỏi nước.Nghiên cứu xử lý chất thải chăn nuôi bằng phương pháp lý, hóa như: sửdụng các chất có khả năng oxi hóa kỵ khí để khử ammonium trong nước thải.Nghiên cứu xử lý chất thải chăn nuôi bằng phương pháp sinh học là quátrình phân giải các hợp chất hữu cơ chứa trong nước thải bằng hệ vi sinh vậtvới nhiều chủng loại Hiện nay các chất thải rắn trong chăn nuôi ở Việt Nam,được xử lý chủ yếu là ủ nóng và hầm biogas Trong khi đó, các chất thải lỏng
Trang 730% được xử lý qua hầm biogas, 30% được xử lý qua hồ sinh học và 40% sửdụng trực tiếp để tưới hoa màu, nuôi cá hoặc đổ trực tiếp vào hệ thống thoátnước chung của cộng đồng (Đào Lệ Hằng, 2009) [3] Tuy nhiên phương phápnày còn gặp phải một số khó khăn như: Yêu cầu nguồn vốn lớn, cần diện tíchđất lớn để xây hầm.
Nghiên cứu ứng dụng các chế phẩm sinh học trong chăn nuôi và xử lýchất thải: Một trong những chế phẩm được biết đến sớm nhất là chế phẩm visinh EM (Effective Microoganisms) có nghĩa là vi sinh vật hữu hiệu do giáo
sư Tiến sĩ Teruo Higa – trường Đại học tổng hợp Ryukius, Okinawa, NhậtBản nghiên cứu và ứng dụng thành công vào sản xuất nông nghiệp vào đầunhững năm 1980 Chế phẩm này có từ 80 -125 loài vi sinh vật khác nhau baogồm các loại vi khuẩn (quang hợp cố định đạm, vi khuẩn lactic, axidacetid…), các loại xạ khuẩn nấm men, nấm sợi…
Theo các tác giả: (Phùng Thị Vân và cs, 2004 [7]; Lê Khắc Quảng, 2004[5]; Bùi Hữu Đoàn, 2009 [2]) cho biết một số nghiên cứu sử dụng EM trongchăn nuôi có tác dụng khử mùi hôi, ruồi, muỗi, ve gây hại, cải thiện sức khỏegia súc và chất lượng sản phẩm
Đối với chế phẩm EM, do không nhận được giống gốc, không biết cụ thểthành phần các chủng vi sinh vật cụ thể trong chế phẩm nên không đảm bảo
sự nhân truyền giống tốt và nhiều lý do khác mà chế phẩm EM đã không duytrì được những hiệu quả tác dụng ban đầu Vì vậy các nhà khoa học đã nghiêncứu chế tạo các chế phẩm khác trên nguyên lý của chế phẩm EM như EM,BIO.EMS, S.EM01, EMIC, EMUNIV, EMC, VEM, EMINA, BIOMIXI,BIOMIX2, MAX.250, ACTIVE CLEANER, BALASA-N01,…
Các nhà nghiên cứu đã tiến hành rất nhiều các nghiên cứu về ảnh hưởngcủa các kiểu chuồng trại cũng như nền chuồng đến tập tính tự nhiên, lợi ích,sức khỏe gia súc (Vũ Chí Cương, 2010) [1] Một trong những kiểu chuồng
Trang 8đang đem lại nhiều ưu điểm về giảm ô nhiễm môi trường là kiểu chuồng ủphân tại chỗ hay là phương thức nuôi sử dụng nền độn lót lên men vi sinh vật.Theo thống kê của Cục Chăn nuôi, tại Hội nghị toàn quốc tổng kết kinhnghiệm và kết quả sau 3 năm áp dụng mô hình đệm lót sinh học trong chănnuôi (2011 – 2013) ngày 22 tháng 5 năm 2014, cả nước có 40 tỉnh/thành phốthực hiện Trong đó có 691 trang trại và 57.755 hộ có sử dụng đệm lót sinhhọc trong chăn nuôi gà với tổng số khoảng 5.400.000 m2 nền đệm lót; 28trang trại và 3.658 hộ có sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn vớitổng số khoảng 70.000 m2 nền đệm lót
III GIỚI THIỆU VỀ ĐỆM LÓT SINH THÁI
1 Giới thiệu về đệm lót sinh thái.
Hiện nay trên thế giới đã áp dụng nhiều phương thức chăn nuôi như chănnuôi hữu cơ, chăn nuôi an toàn sinh học,… và mới đây là công nghệ chănnuôi heo trên đệm lót sinh thái Công nghệ chăn nuôi này dựa trên nền tảngcông nghệ lên men vi sinh độn lót nền chuồng Với công nghệ này toàn bộphân và nước tiểu nhanh chóng được vi sinh vi sinh vật phân giải và chuyểnthành nguồn thức ăn protein sinh học cho chính gia súc
Hơn nữa, chăn nuôi theo công nghệ này không phải dùng nước rửachuồng và tắm cho gia súc nên không có nước thải từ chuồng nuôi gây ônhiễm nguồn nước và môi trường xung quanh Trong chuồng nuôi không cómùi hôi thối vì sinh vật vật hữu ích trong chế phẩm đã có sự cạnh tranh vàtiêu diệt vi sinh vật thối rữa gây lên men sinh mùi khó chịu Vì không sử dụngnước rửa chuồng và tắm cho gia súc nên trong chuồng không có chỗ cho muỗisinh sôi và vì vi sinh vật nhanh chóng phân giải phân nên cũng không có chỗcho ruồi đẻ trứng Nhờ có hệ vi sinh vật hữu ích tạo được “bức tường lửa”ngăn chặn các vi sinh vật gây bệnh nên chăn nuôi theo công nghệ này hạn chế
Trang 9được tới mức thấp nhất sự lây lan bệnh tật giữa gia súc với nhau cũng nhưgiữa gia súc với người.
Nhờ đảm bảo về mặt vệ sinh môi trường nên sản phẩm chăn nuôi có độ
vệ sinh an toàn thực phẩm cao Chất lượng sản phẩm tốt hơn nhờ con vật vậnđộng nhiều, không bị stress hay bệnh tật, tiêu hóa và hấp thu được nhiều axitamin
Về mặt kinh tế, đây là công nghệ đem lại hiệu quả cao nhờ tiết kiệm 80%nước dùng (chỉ dùng nước cho uống và phun giữ ẩm), tiết kiệm được 60% sứclao động (không phải tắm, rửa chuồng và dọn phân), tiết kiệm 10% thức ăn(nhờ heo ăn được vi sinh vật sinh ra trên đệm lót không những cung cấpprotein chất lượng cao, kích thích tiêu hóa), giảm thiểu chi phí về thuốc thú y(do lợn ít bị bệnh)
2 Nguyên lý cơ bản của kỹ thuật chăn nuôi heo trên đệm lót
Là đảm bảo quyền sống của động vật, đem lại lợi ích trực tiếp cho vậtnuôi, đó là tạo môi trường trong sạch không ô nhiễm, gần với tự nhiên làmkhôi phục bản năng sinh sống của chúng: tự do đi lại, đào bới, do đó chúng
có tâm trạng thoải mái, giảm căng thẳng, tăng cường dinh dưỡng (nhờ cungcấp một nguồn protein vi sinh vật có giá trị trong đệm lót) do đó làm tăng tỉ lệtiêu hóa, tăng sức đề kháng, tăng sự sinh trưởng và sinh sản
3 Cơ chế hoạt động của đệm lót sinh thái
Thành phần cơ bản của đệm lót lên men bao gồm: các chủng loại vi sinhvật có lợi đã được tuyển chọn và nguyên liệu làm chất độn (chất xơ)
+ Vai trò của các chủng loại vi sinh vật
- Tạo ra các hợp chất hữu cơ như rượu, axit có tác dụng giữ cho đệm lót
ở độ pH ổn định, có lợi cho vi sinh vật có ích và không có lợi cho các vi sinhvật gây bệnh trong đệm lót
Trang 10- Phân giải mạnh các chất thải động vật thành các protein cho các vi sinhvật có ích.
- Sử dụng các khí thải gây độc trong chuồng nuôi để sinh trưởng, pháttriển
- Ức chế các vi khuẩn có hại, vi khuẩn gây thối rữa, vi khuẩn gây bệnhđường ruột,… do có khả năng sinh ra các chất kháng vi khuẩn như axit lactic,axit axetic, rượu ethylic, ester,
+ Vai trò của nguyên liệu làm đệm lót
Tạo ra môi trường sống cho hệ vi sinh vật Yêu cầu của nguyên liệu phải
có thành phần xơ cao, không độc và không gây kích thích Đặc biệt nguyênliệu phải bền vững với sự phân giải của vi sinh vật, đảm bảo thời gian sử dụngkéo dài Các loại chất độn xếp theo thứ tự: mùn cưa, trấu, vỏ lạc, thân câyngô, bả mía,
4 Giới thiệu về chế phẩm Balasa N01
Chế phẩm Balasa N01 do TS Nguyễn Khắc Tuấn và TS Nguyễn ThịTuyết Lê sản xuất tại cơ sở sản xuất Minh Tuấn Địa chỉ số 15 đường F, tổdân phố Thành Trung, thị trấn Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội
Đây là kết quả nghiên cứu, thử nghiệm lâu dài từ trước năm 2002 vàtrong giai đoạn 2007 – 2012 của các tác giả từ Đề tài nghiên cứu “Nghiên cứusản xuất chế phẩm Balasa N01 để tạo đệm lót sinh thái trong chăn nuôi”
Bộ Nông nghiệp và PTNT đã tiến hành công nhận tiến bộ kỹ thuật chochế phẩm Balasa N01 và quy trình ứng dụng chế phẩm Balasa N01 làm đệmlót sinh thái trong chăn nuôi heo và gà
Thành phần và chức năng sinh học của các chủng vi sinh vật có trong chếphẩm Balasa N01, bao gồm 4 chủng vi sinh vật sau:
Trang 11+ Chủng Streptococcus lactis: có khả năng chuyển hóa các hợp chất cóchứa N hữu cơ, các carbohydrate và lipid thành CO2 và nước;
+ Chủng Bacillus subtilis: có khả năng chuyển hóa các hợp chất chứa Nhữu cơ, các carbohydrate và lipid thành H2S và SO4;
+ Chủng Saccharomyces cereviseae: có khả năng chuyển hóa NH3 thànhprotein của vi sinh vật;
+ Chủng thuộc giống Thiobacillus spp: cũng có khả năng chuyển hóa cáchợp chất chứa N hữu cơ, các carbohydrate và lipid thành H2S và SO4;
Việc phân lập, chọn lọc và sản xuất các chủng vi sinh vật tiềm năng cómặt trong môi trường tự nhiên theo tiêu chí phải đạt các yêu cầu về phòng trịbệnh đường ruột, xử lý chất thải gây ô nhiễm trong chăn nuôi heo Để trên cơ
sở đó nuôi giữ, nuôi cấy, sản xuất, phối trộn các vi sinh vật này để cho ra chếphẩm Balasa N01 có khả năng xử lý môi trường tốt trong chăn nuôi heo
CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
I MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Trang 12Nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giảm chi phí đầu vào, nâng caohiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi, góp phần phát triển chăn nuôi an toàn,hiệu quả và bền vững.
II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Nội dung 1: Khảo sát về tình hình sinh kế chăn nuôi heo trên địa bàn
huyện và những tác động của việc chăn nuôi đến môi trường sống của cộng
đồng
Nội dung 2: Chọn hộ triển khai mô hình trình tại các xã Cam An Nam,
Cam Thành Bắc, Cam Hòa
Nội dung 3: Xây dựng mô hình trình diễn, theo dõi, thu thập thông tin và
xử lý số liệu liên quan
Nội dung 4: Tổng kết đánh giá và rút ra các kết luận về mô hình sinh kế
chăn nuôi heo trên đệm lót sinh thái đến việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường
và đề xuất ý kiến để phát triển mô hình trên địa bàn huyện Cam Lâm
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Tổng số 36 con heo thương phẩm F1 (Du x LY), có trọng lượng từ 7 –
8 kg/con
- Chế phẩm sinh học Balasa N01 được cung cấp bởi Cơ sở sản xuất MinhTuấn Địa chỉ số 15 đường F, tổ dân phố Thành Trung, thị trấn Trâu Quỳ, GiaLâm, Hà Nội
- Trấu và mùn cưa dùng làm đệm lót
Trang 13IV PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài được triển khai tại 3 hộ dân thuộc các xã Cam Hòa, Cam ThànhBắc và Cam An Nam
+ Hộ ông Nguyễn Văn Lực: thôn Lập Định 2, xã Cam Hòa
+ Hộ ông Nguyễn Xuân Vinh: thôn Tân Sinh Đông, xã Cam Thành Bắc.+ Hộ ông Hồ Đức Hùng: thôn Vĩnh Đông, xã Cam An Nam
Thời gian thực hiện mô hình từ tháng 5 đến tháng 11 năm 2014
V CÁCH TIẾP CẬN
Dựa vào các kết quả nghiên cứu, thử nghiệm lâu dài từ trước năm 2002
và trong giai đoạn 2007 – 2012 của các tác giả từ Đề tài nghiên cứu “ Nghiêncứu sản xuất chế phẩm Balasa-N01 để tạo đệm lót sinh thái trong chăn nuôi” Chế phẩm Balasa-N01 do TS Nguyễn Khắc Tuấn và TS Nguyễn ThịTuyết Lê nghiên cứu và sản xuất tại cơ sở sản xuất Minh Tuấn, ở địa chỉ số 15đường F, tổ dân phố Thành Trung, thị trấn Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội
Chế phẩm Balasa-N01 đã được thử nghiệm thành công tại một số địaphương trên cả nước như: Hà Nam, Hậu Giang, Bắc Giang, Đồng Tháp, BếnTre, Thanh Hóa, Tây Ninh, Nam Định, Hưng Yên, Quảng Ninh, Phú Thọ,Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh
Cục Chăn nuôi đã ban hành Quyết định số 222/QĐ-CN-MTCN ngày15/8/2013 về việc Thành lập Hội đồng Khoa học Công nghệ chuyên ngànhcông nhận tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới cho “Chế phẩm Balasa-N01 đểlàm đệm lót sinh học trong chăn nuôi”
Báo cáo số 2886/BC-BNN-CN ngày 23/8/2013 của Bộ Nông nghiệp vàPTNT về việc báo cáo Ứng dụng công nghệ đệm lót sinh học trong chăn nuôi
Trang 14Tham khảo thông tin về kết quả triển khai thực hiện mô hình tại một sốtỉnh trong nước và các mô hình đã triển khai thực hiện trên địa bàn huyện
VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Phương pháp điều tra
Các thông tin sơ cấp và thứ cấp được thu thập bằng cách tiếp cận vớicán bộ và các hộ dân chăn nuôi heo trên địa bàn huyện Số lượng phiếu điềutra là 55 phiếu, trong đó: 5 phiếu là cán bộ ở các xã Cam Hòa, Cam ThànhBắc, Cam An Nam, Suối Tân và thị trấn Cam Đức 50 phiếu còn lại là các hộchăn nuôi heo trên địa bàn 5 xã với số lượng 10 phiếu/xã Với những thôngtin trên phiếu điều tra, người được hỏi có thể trả lời một hoặc nhiều đáp ánkhác nhau Thiết kế phiếu cho hai nhóm đối tượng phỏng vấn (cán bộ vàngười dân) là khác nhau
2 Đánh giá khả năng xử lý mùi của đệm lót.
Đánh giá bằng cảm quan tại chuồng nuôi về các chỉ tiêu như: Khả năngtiêu hủy phân; khả năng xử lý mùi hôi và khí độc; đánh giá về ruồi, muỗitrong môi trường nuôi heo
3 Đánh giá khả năng sinh trưởng của heo khi nuôi trên đệm lót
a Về khả năng kháng bệnh của heo
Hàng ngày theo dõi các bệnh về đường tiêu hóa, hô hấp và các bệnh kháccủa heo Ghi chép đầy đủ số con bị bệnh, thuốc điều trị, số ngày điều trị, sốcon khỏi bệnh
Tỷ lệ mắc bệnh (%) = (tổng số con mắc bệnh/tổng số con theo dõi) x 100
b Xác định khả năng tăng trưởng của heo
Bằng cách tính khối lượng heo lúc thả vào chuồng nuôi và khối lượng
Trang 15heo sau thời gian nuôi.
Tính khối lượng tăng trọng trung bình hàng ngày trong thời gian nuôi thịt(g/con/ngày)
c Đánh giá hiệu quả sử dụng thức ăn
- Tính tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng
Hiệu quả sử dụng thức ăn được tính toán dựa trên lượng thức ăn tiêu tốntrong thời gian nuôi thịt
Tiêu tốn thức ăn (kgTĂ/ kgTT) = Lượng thức ăn thu nhận (kg)/khốilượng thịt hơi tăng (kg)
d Ước tính hiệu quả kinh tế
Lợi nhuận = Tổng thu – tổng chi
Tổng thu = Tổng khối lượng heo xuất chuồng (kg) x giá bán (đ/kg)
Tổng chi bao gồm: Tiền giống, chi phí thức ăn, chi phí thuốc thú y, điệnnước, nhân công lao động, chi phí làm lớp đệm
+ Tiền giống (đ) = Khối lượng heo (kg) x giá giống (đ/kg)
+ Chi phí thức ăn (đ) = Khối lượng thức ăn (kg) x giá thức ăn (đ/kg)+ Chi phí thức ăn/1 kg tăng trọng (đ/kg) = FCR (kg TA/kg TT) x giáthức ăn (đ/kg)
VII TÍNH MỚI, TÍNH ĐỘC ĐÁO, SÁNG TẠO
Việc ứng mô hình sinh kế chăn nuôi heo trên đệm lót sinh thái gópphần xử lý triệt để chất thải từ chăn nuôi heo, phù hợp với quy mô nông hộ.Tạo sinh kế bềnh vững cho người chăn nuôi heo
Đề tài cũng đưa ra phương thức chăn nuôi mới, giảm chi phí sản xuấtthông qua tiết kiệm sức lao động Tăng sức đề kháng cho heo, giúp heo tăng
Trang 16trưởng tốt, tăng chất lượng thịt.
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I THỰC TRẠNG CHĂN NUÔI HEO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
Qua điều tra khảo sát và đánh giá sự ảnh hưởng của các hoạt động sinh
kế chăn nuôi heo trên địa bàn huyện chúng tôi có một số nhận xét như sau:Huyện Cam Lâm có vị trí khá thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôihàng hóa Trong những năm trở lại đây tình hình chăn nuôi heo trên địa bànhuyện ngày một gia tăng không chỉ về số lượng hộ mà còn số lượng đầu con
và đặc biệt đã hình thành một số trại chăn nuôi tập trung quy mô lớn từ 300đến 1.000 con/lứa
Theo thống kê của Trạm Thú y Cam Lâm đến tháng 8 năm 2014 thì sốlượng heo tổng đàn trên 83.150 con với trên 1.500 hộ chăn nuôi Trong đóchăn nuôi nông hộ là 27.030 con, chiếm 32,5%; chăn nuôi trang trại tư nhân
và gia công cho công ty CP là 125 trang trại 56.120 con, chiếm 67,5%
Chăn nuôi hộ gia đình chiếm 92 %, tập trung ở khu dân cư, phân tán, nhỏ lẻgắn liền với đất ở, với quy mô trung bình 20 con /hộ, phát triển trong tình trạng
tự phát
Có đến 40% số hộ được khảo sát cho rằng chăn nuôi heo chiếm 60%tổng thu nhập của nông hộ trong năm, và có đến 22% số hộ cho rằng chănnuôi heo chiếm đến 95% tổng thu nhập của hộ gia đình
Nhận thức về việc gây ô nhiễm môi trường xung quanh do chăn nuôi heogây ra là rất lớn có đến 96% số hộ đồng ý, và 4% còn lại không cho ý kiến.Tuy nhiên, khi được hỏi về mức độ gây hại thì chỉ có 06 hộ chiếm 12% thừanhận rằng, chăn nuôi heo gây ô nhiễm đáng kể cho môi trường xung quanh,
có đến 33 hộ chiếm 66% thì cho rằng chăn nuôi heo chỉ gây hại ở mức độbình thường, 22% còn lại cho rằng có gây hại nhưng không đáng kể Điều này