TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA NGUYỄN THỊ XUÂN THU NGHIÊN CỨU PHÂN LẬP VÀ TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 CỦA CÁC HOẠT CHẤT SINH HỌC TỪ MỘT SỐ LOÀI THỰC VẬT THU HÁI TẠI MIỀN... T
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
NGUYỄN THỊ XUÂN THU
NGHIÊN CỨU PHÂN LẬP VÀ TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 CỦA CÁC HOẠT CHẤT SINH HỌC TỪ MỘT SỐ LOÀI THỰC VẬT THU HÁI TẠI MIỀN
Trang 2Trường Đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng
Người hướng dẫn khoa học:
Có thể tìm hiểu Luận án tại:
- Trung tâm Thông tin - Học liệu và Truyền thông, Đại học Đà Nẵng
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
DaihocDaNang
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh rối loạn chuyển hóa đặc trưng bởi tình trạng tăng đường huyết mãn tính, do hậu quả của sự thiếu hụt hoặc giảm hoạt động của insulin hoặc kết hợp cả hai Hậu quả của sự tăng glucose huyết là những biến chứng nghiêm trọng có thể đe dọa đến tính mạng của người bệnh Trên toàn cầu, tỷ lệ người mắc bệnh ĐTĐ năm 2016 là 8,5% dân số trưởng thành (422 triệu người) và con số được dự đoán sẽ tăng lên tới 9,9% vào năm
2045 Các trường hợp tử vong liên quan đến bệnh ĐTĐ phổ biến hơn ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, nơi có hơn 80% trường hợp tử vong xảy
ra Tổ chức Y tế Thế giới cho rằng bệnh ĐTĐ sẽ là một trong bảy nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong vào năm 2030
Các loài thực vật luôn là nguồn nguyên liệu cây thuốc quý giá, rất nhiều loại thuốc hiện có sẵn trên thị trường có nguồn gốc trực tiếp hoặc gián tiếp từ chúng Có ít nhất 1200 loài thực vật được sử dụng trong y học cổ truyền vì có tác dụng chống đái tháo đường, tuy nhiên chỉ có khoảng 450 cây đã được nghiên cứu để khám phá tác dụng của chúng được công bố Cây chè dây
(Ampelopsis cantoniensis (H & A.) PL.), họ Nho (Vitaceae) đã được nghiên
cứu nhiều về thành phần hóa học và hoạt tính chống oxy hóa, tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình khoa học nào về nghiên cứu hoạt tính chống
ĐTĐ Bên cạnh đó, cây lá đắng (Vernonia amygdalina Del.), họ cúc
(Asteraceae) đã có công trình nghiên cứu trên thế giới về khả năng chống ĐTĐ, tuy nhiên các nghiên cứu chưa nhiều và chưa mang tính toàn diện Vì vậy, việc tìm kiếm các loại thuốc trị đái tháo đường mới từ thực vật tự nhiên vẫn luôn hấp dẫn vì chúng có chứa những hợp chất có khả năng thay thế và
an toàn trong điều trị ĐTĐ
Trên nền tảng đó, để góp phần nghiên cứu tác dụng trị ĐTĐ của một số loài thực vật ở miền Trung, Việt Nam, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu phân lập và tác dụng điều trị bệnh đái tháo đường type 2 của các hoạt chất sinh học từ một số loài thực vật thu hái tại miền Trung”
DaihocDaNang
Trang 42 Mục tiêu của luận án
- Sàng lọc một số thực vật có tác dụng hạ đường huyết trên mô hình chuột ĐTĐ type 2 và xác định được thực vật có tác dụng hạ đường huyết tốt
- Phân lập được các hợp chất, xác định cấu trúc hóa học và làm rõ về cơ chế hoạt động hạ đường huyết của chúng
- Kết hợp các thực vật đã nghiên cứu có hiệu quả trong điều trị ĐTĐ để tạo thành cao hỗn hợp có hiệu quả hơn trong đều trị ĐTĐ, từ đó nghiên cứu
cơ chế hạ đường huyết và xác định độc tính cấp của cao hỗn hợp
3 Nội dung luận án
- Thu thập một số mẫu thực vật ở miền Trung được tham khảo là có tác dụng trong điều trị ĐTĐ Tách chiết các mẫu thực vật bằng cồn 70°, sàng lọc tác dụng hạ đường huyết của các cao chiết trên mô hình chuột ĐTĐ type 2
- Chiết phân đoạn lá chè dây và lá đắng bằng các dung môi có độ phân cực khác nhau và thử nghiệm khả năng hạ đường huyết của các cao phân đoạn đó trên chuột ĐTĐ type 2
- Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập từ các phân đoạn có hoạt tính hạ đường huyết tốt nhất
Nghiên cứu về cơ chế hạ đường huyết của các hợp chất phân lập qua việc đánh giá hiệu quả ức chế enzyme α-glucosidase và α-amylase cùng với thử nghiệm ảnh hưởng của chúng đến quá trình sinh các cytokine tiền viêm TNF-α, IL-6 và IL-8 (các các cytokine tiền viêm là một trong những nguyên nhân chính gây nên tình trạng kháng insulin), cytokine kháng viêm (IL-10) và tác dụng khôi phục biểu hiện hai protein pIRS-1 và pY20 của tế bào bào (đây
là hai protein rất cần thiết cho con đường truyền tín hiệu insulin)
- Nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết của cao hỗn hợp, tác dụng của cao hỗn hợp lên nồng độ cholesterol, triglyceride, hoạt tính ức chế enzym α-glucosidase và α-amylase, hàm lượng glycogen ở gan chuột ĐTĐ type 2 cũng như xác định độc tính cấp của hỗn hợp cao này
4 Những đóng góp mới của luận án
Sau khi phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và thế giới thì nhận thấy các kết quả nghiên cứu của luận án đã có những đóng góp mới
DaihocDaNang
Trang 5cho khoa học và thực tiễn như sau:
1 Trong nghiên cứu này có 5 loại thực vật (chè dây, hạt đu đủ, lá đu đủ, lá
và thân cỏ ngọt và lá đắng) lần đầu tiên nghiên cứu về hoạt tính hạ đường huyết ở Việt Nam, riêng với mẫu chè dây là chưa có công trình nào trên thế giới nghiên cứu về hoạt tính hạ đường huyết trên đối tượng này cũng như chưa được nhắc đến trong dân gian về công dụng này
2 Từ phân đoạn CEtOAc của cao chiết chè dây đã phân lập được 5 hợp chất tinh sạch, trong đó quercetin tuy không phải là chất mới nhưng lần đầu tiên được phân lập ở cây chè dây
3 Lần đầu tiên nghiên cứu hoạt tính ức chế enzyme amylase và glucosidase của các hợp chất phân lập từ cây chè dây
α-4 Hợp chất phloretin (được tách từ chè dây) lần đầu tiên được nghiên cứu
về tác dụng giảm tính kháng insulin ở tế bào 3T3-L1 gây ra bởi TNF-α cũng như tác dụng khôi phục biểu hiện hai protein pIRS-1 và pY20 của tế bào
5 Từ phân đoạn CBuOH của cao chiết lá đắng đã phân lập và xác định được 1 chất mới trong của lá đắng là vernonioside VN (LĐB) Chất này, vernonioside VN (LĐB), là chất mới lần đầu tiên được phân lập từ lá đắng và cũng là lần đầu tiên phân lập từ thiên nhiên
6 Vernonioside VN lần đầu tiên được nghiên cứu về khả năng ức chế quá trình sinh tổng hợp các cytokine tiền viêm TNF-α, IL-6, IL-8 và không ức chế cytokine kháng viêm IL-10
7 Cao chè dây (với liều uống 500mg kg) ngoài tác dụng hạ đường huyết
c n có tác dụng phục hồi tuỵ và gan chuột ĐTĐ type 2 bị tổn thương
8 Lần đầu tiên phát triển cao hỗn hợp không những có hiệu quả tốt trong
hạ đường huyết ở chuột ĐTĐ type 2 (giảm 64.40% so với thời điểm 0 h) mà còn có tác dụng giảm nồng độ cholesterol và triglycide, ngăn chặn sự suy giảm glycogen trong mô gan cũng như ức chế hoạt động của enzym α-glucosidase và α-amylase
5 Cấu trúc của luận án
Luận án gồm 135 trang Phần mở đầu 04 trang, kết luận và kiến nghị 02 trang, các công trình đã công bố 01 trang, tài liệu tham khảo 18 trang và phụ
DaihocDaNang
Trang 6lục Nội dung chính của luận án chia làm 03 chương: Chương 1: Tổng quan gồm 39 trang; Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu gồm 21 trang
và Chương 3: Kết quả và thảo luận 50 trang
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
Phần tổng quan tài liệu tập hợp các nghiên cứu mới nhất trong nước và quốc tế về các vấn đề liên quan đến bệnh ĐTĐ (khái niệm và tác động), bệnh sinh ĐTĐ type 2, thảo dược trong điều trị ĐTĐ
CHƯƠNG 2 NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nguyên liệu và đối tượng nghiên cứu
- Nguyên liệu: gồm 20 loại thực vật khác nhau bao gồm: chè dây, lá vằng,
lá nếp, quả chuối hột, bùm bụp, hạt đu đủ, lá đu đủ, quả sung, quả ké đầu ngựa, thân và lá nở ngày đất, râu bắp, lá đắng, lá sa kê, thân và lá giảo cổ lam, thân và lá dây thìa canh, lá sen, thân và lá lược vàng, vỏ quế, lá húng quế, thân
và lá cỏ ngọt Các mẫu thực vật được thu hái chủ yếu vào tháng 7-9 vào năm 2016-2017, một số mẫu được mua tại các địa phương
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Chuột nhắt trắng đực dòng Swiss, trọng lượng từ 18-22 g, được cung cấp bởi cơ sở chăn nuôi Suối Dầu - Viện Vắc xin và Sinh phẩm
y tế Nha Trang
+ Tế bào đại thực bào Raw 264.7 và tế bào mỡ 3T3-L1 được cung cấp bởi phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ enzyme Đại học Quốc gia Hà Nội
2.2 Hóa chất
Streptozotocin (Sigma), kit ELISA định lượng Insulin (Thermo), Pioglite (Ấn Độ), D-glucose (Trung Quốc), enzym α-glucosidase (Sigma), α-amylase (Sigma), silicagel (0,04-0,063 mm- erck) Bản mỏng tráng sẵn pha thường DC-Alufolien 60 F254 (Merck), silicagel pha đảo RP-18 (30-50 m- YMC, Fujisilisa, Chemical Ltd), bản mỏng pha đảo R-18 (Merck), dung môi các loại ( erk và Trung Quốc), LPS (lipopolysacharide-Sigma), Kit ELISA IL-6, TNF-α, IL-
DaihocDaNang
Trang 710, Kháng thể 𝛽-Actin, p-IRS1, and pY20 primary antibodies, Anthrone
2.3 Thiết bị nghiên cứu
áy đo đường huyết One Touch (JOHNSON&JOHNSON-Mỹ), que thử đường huyết One Touch (Trung Quốc), hệ thống phân tích Elisa (Thermo Scientific-Mỹ), cột sắc k các cỡ khác nhau (Trung Quốc, Đức), kính hiển vi (Olympus-Nhật), máy cô quay chân không Buchi (Đức), máy cắt tiêu bản (Thermo Scientific-Mỹ), các thiết bị xác định cấu trúc và các thiết bị thông thường khác
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp chiết xuất: xử lý mẫu, chiết mẫu bằng cồn 700, chiết thu phân đoạn bằng các dung môi có độ phân cực tăng dần: n-hexane, ethylacetate, n-buthanol
2.4.2 Phương pháp gây chuột nhắt ĐTĐ type 2: nuôi chuột béo bằng chế
độ ăn giàu chất béo (35% chất béo, 34% carbohydrat, 20% protein và 11%
các thành phần khác- HFD-high fat diet), xác định chỉ số hóa sinh
(cholesterol, triglyceride), gây chuột nhắt ĐTĐ type 2 thực nghiệm bằng cách
tiêm STZ với liều 120 mg/kg, định lượng đường huyết, nghiệm pháp dung nạp glucose, định lượng insulin máu chuột bằng kỹ thuật ELISA
2.4.3 Sàng lọc tác dụng hạ đường huyết của 20 mẫu thực vật trên chuột nhắt ĐTĐ type 2: bằng cách cho chuột ĐTĐ type 2 uống các cao chiết với
liều 500 mg kg trọng lượng chuột hoặc mẫu đối chứng (uống nước cất); chuột uống trong 21 ngày và theo dõi đường huyết
2.4.4 Kỹ thuật làm tiêu bản đúc cắt gan và tụy chuột
2.4.5 ghi n cứu tác ụng hạ đường huyết củ c chiết phân đ ạn ẫu
á ch ây á đắng t n chuột nhắt ĐTĐ type 2
2.4.6 hả át hả n ng ức chế in-vit enzy e glucosidase và amylase của các hợp chất phân lập từ cây ch ây và á đắng
α-2.4.7 Đánh giá tác động lên biểu hiện của các cytokines gây viêm và cải thiện tính kháng insulin dựa trên dòng tế bào bào Raw 264.7 và 3T3-L1:
DaihocDaNang
Trang 8quy trình nuôi hoạt hóa tế bào, đánh giá độc tố của các hợp chất tinh sạch tới khả năng sống của Raw 264.7 và 3T3-L1, đánh giá khả năng sản xuất cytokine bằng ELISA kit, phương pháp đánh giá khả năng ức chế kháng insulin trên tế bào, đánh giá biểu hiện protein của IRS1 và Y20,
2.4.8 Chuẩn bị cao hỗn hợp các thả ược c hả n ng hạ đường huyết
phối hợp các cây thảo dược để tăng hiệu quả trong điều trị ĐTĐ, xác định hàm lượng glycogen
2.4 Phương pháp phân ập các chất sắc k lớp mỏng; sắc k cột
2.4.1 Phương pháp ác định cấu t úc h học: Phương pháp phổ khối
lượng, phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân
2.4.11 Xử lý số liệu: Các thí nghiệm đều được lặp lại với số lần thích hợp
Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS (Version 22) với các phép thử thống kê phù hợp
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả tách chiết mẫu
Kết quả tách chiết 20 mẫu thực vật cho thấy các mẫu thực vật khác nhau cho phần trăm tách chiết khác nhau Lá chè dây và dây thìa canh cho phần trăm tách chiết khá cao tương ứng là 26,00% và 22,62% Lược vàng và hạt
đu đủ có phần trăm tách chiết tương đối thấp lần lượt là và 11,25% và 9,25%
3.2 Mô hình chuột nhắt ĐTĐ type 2 thực nghiệm
Chuột được chia thành 2 nhóm là nhóm ăn thường (ND) và nhóm ăn thức
ăn giàu chất béo (có 35% chất béo), hay còn gọi là nhóm nuôi béo (HFD) Sau 8 tuần ăn thức ăn giàu béo (A), các nhóm chuột được đo các chỉ số mỡ máu, rồi được tiến hành tiêm STZ để gây ĐTĐ và sau 10 ngày tiêm STZ, chúng được đo nồng độ insulin và so sánh với nhóm ND để khẳng định chuột ĐTĐ type 2
DaihocDaNang
Trang 9Hình 3.1: Mô hình gây chuột nhắt ĐTĐ type 2 thực nghiệm
Ghi chú: *p < 0,05, (giá trị p của t-test giữa lô thí nghiệm và c
c Trọng ượng chuột của hai nhóm ND và HFD; B Sự khác biệt về các chỉ s mỡ máu chuột ở nhóm ND và HFD; C Nồng ộ glucose máu trên chuột béo sau tiêm STZ so sánh với nhóm ch ng;
D Nồ ộ insulin huyế ươ của các lô chuột khác nhau
Kết quả của hình 3.1 cho thấy sự thay đổi trọng lượng cơ thể của chuột sau 8 tuần cho ăn (A), nhóm chuột được nuôi bằng chế độ ăn nhiều chất béo (HFD) có trọng lượng trung bình là 60,42 ± 1,03 g, tăng gấp ba lần so với ban đầu (20,69 ± 0,36 g) và gần gấp đôi so với nhóm ăn thức ăn tiêu chuẩn (ND) cùng thời điểm (38,95 ± 0,68 g) Chỉ số chất béo được đo bằng nồng độ cholesterol và chất béo trung tính (B) của chuột HFD tăng đáng kể về mặt thống kê khi so sánh với lô chuột ND (p<0,01) Chỉ số cholesterol của nhóm HFD tăng (78,26%) Tương tự, chỉ số triglyceride của HFD tăng mạnh với lượng 160,16%
Sau 10 ngày tiêm STZ, nồng độ glucose trong máu của nhóm được cho
ăn HFD tại các thời điểm khác nhau sau khi tiêm rất cao; những khác biệt này
có nghĩa thống kê khi so sánh với chuột ND + STZ (nhóm đối chứng) cùng thời điểm tương ứng (C) Do đó, nhóm HFD + STZ sau 10 ngày có biểu
DaihocDaNang
Trang 10hiện rõ ràng của bệnh tiểu đường khi so sánh với các nhóm chuột không mắc bệnh tiểu đường còn lại (đệm ND + đệm; ND + STZ và HFD + đệm) có ý nghĩa thống kê (giá trị p <0,01 )
Chúng tôi nhận thấy rằng chuột HFD + STZ có nồng độ insulin ở mức bình thường (18,84 ± 2,11 µIU/ml) so với các lô chuột đối chứng ND + đệm;
ND + STZ và HFD + đệm (21,10 ± 1,78; 27,32 ± 3,80 và 27,53 ± 4,25 µIU/ml ), sự khác biệt hoàn toàn không có nghĩa thống kê (D) Theo Sawant và cộng sự các con chuột có nồng độ đường huyết ≥ 300 mg dl và nồng độ insulin nằm trong khoảng 12,4 - 49,65 µIU ml được xem là chuột ĐTĐ type 2
3.3 Tác dụng hạ đường huyết của 20 cao chiết thực vật trên chuột ĐTĐ type 2
Hình 3.2: Đường huyết của chuột ĐTĐ type 2 sau 21 ngày điều trị
bằng cao chiết thực vật
c ớ c c
A sàng lọc ợt I; B sàng lọc ợt II; C sàng lọc ợt III; D sàng lọc ợt IV
Kết quả hình 3.2 cho thấy, ở sàng lọc đợt I (A), chuột uống cao chiết mẫu chè dây và quả chuối hột sau 21 ngày đường huyết giảm lần lượt là 56,60%
và 45,84% so với thời điểm 0 giờ (p < 0,01) Đối với cao chiết quả bùm bụp cho thấy tác dụng hạ đường huyết so với nhóm đối chứng tuy nhiên chưa cao, chuột sau 21 ngày điều trị có nồng độ đường huyết c n khá cao (16,49
DaihocDaNang
Trang 11mmol/l) (p < 0,05) Các mẫu thực vật còn lại là lá nếp và chè vằng không có tác dụng hạ đường huyết khi so sánh với mẫu đối chứng Ở sàng lọc đợt II (B), trong số 5 mẫu cao chiết thực vật, chỉ có mẫu cao lá đu đủ, hạt đu đủ vào cao quả sung thể hiện hoạt tính hạ đường huyết, trong đó cao lá đu đủ và hạt
đu đủ thể hiện hoạt tính tốt nhất: chuột uống cao lá đu đủ đường huyết tại thời điểm ngày thứ 21 giảm 47,62%, chuột uống cao hạt đu đủ giảm 53,18% so với thời điểm 0 giờ Sàng lọc đợt III (C), với 5 mẫu nghiên cứu tiếp theo, chúng tôi đã phát hiện ra khả năng hạ đường huyết đáng kể của cao chiết lá dây thìa canh và cao thân và lá cỏ ngọt (p < 0,01), chuột uống dây thìa canh đường huyết giảm 61,08%, chuột uống cỏ ngọt đường huyết giảm 54,93% Đối với sàng lọc đợt IV, trong số 5 mẫu cao chiết đem sàng lọc chỉ có mẫu cao chiết giảo cổ lam và lá đắng cho thấy khả năng hạ đường huyết đáng kể ở chuột ĐTĐ type 2 Chuột sau khi uống giảo cổ lam đường huyết giảm 58,86% và lá đắng giảm 56,21% (p ≤ 0,01)
Như vậy, trong quá trình sàng lọc 20 mẫu thực vật chúng tôi nhận thấy rằng có 8 mẫu thực vật cho kết quả hạ đường huyết tốt trên mô hình chuột ĐTĐ type 2: Lá chè dây, quả chuối hột, hạt đu đủ, lá đu đủ, lá dây thìa canh,
lá và thân cỏ ngọt, giảo cổ lam và lá đắng Qua tham khảo tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước, mẫu lá chè dây và lá đắng là hai trong số 8 mẫu thực vật
có hoạt tính hạ đường huyết và chưa được nghiên cứu ở Việt Nam; đặc biệt, cho chè dây chưa có bất kì nghiên cứu nào trên thế giới về hoạt tính hạ đường huyết của nó Vì vậy chúng tôi quyết định chọn hai loại thực vật đó cho các nghiên cứu sâu hơn về hoạt tính chống ĐTĐ
3.4.1 Ảnh hưởng của dịch chiết ch ây và á đắng lên kết quả mô bệnh học của tụy và gan
3.4.1.1 Ảnh hưởng lên cấu trúc mô tụy
Để kiểm tra ảnh hưởng của các dịch chiết này đến tình trạng cấu trúc mô tụy của chuột, chúng tôi tiến hành đánh giá đại thể tiêu bản mô bệnh học của chuột ĐTĐ type 2 ở các lô thí nghiệm sau khi cho uống 500mg/kg chè dây và
lá đắng, kết quả được trình bày ở hình 3.3
DaihocDaNang
Trang 12Hình 3.3: Ảnh vi thể tiêu bản đúc cắt tụy của chuột (vật kính 400)
Ghi chú: A Tụy chuột bình ư ng; B Tụy chuột bị ĐTĐ y e 2 c u ng ước cất; C Tụy của chuột bị ĐTĐ au k c u ng cao chiết lá chè dây; D Tụy của chuột bị ĐTĐ au k u ng cao chiế á ắng
Ở chuột bình thường (A), mật độ tiểu đảo tụy bình thường, hình thái bình thường Các tế bào tiểu đảo tụy có hình thái và kích thước bình thường, phân
bố đồng đều không thấy dấu hiệu tổn thương Chuột ĐTĐ type 2 uống nước cất (B), tụy bị tổn thương, mật độ tiểu đảo tụy giảm, tiểu đảo tụy biến dạng, thoái hoá và giảm về kích thước So sánh với chuột ĐTĐ cho uống cao chiết chè dây và lá đắng, chúng tôi quan sát thấy mật độ và kích thước tiểu đảo tụy giảm hơn so với bình thường nhưng tiểu đảo tụy có sự phục hồi, không bị biến dạng teo lại (C, D)
3.4.1.2 Ảnh hưởng lên cấu trúc mô gan
Hình 3.4: Ảnh vi thể tiêu bản đúc cắt gan của chuột (vật kính 400)
Ghi chú: A Gan chuộ bì ư ng; B Gan chuộ ĐTĐ y e 2 u ước cất; C Gan chuộ ĐTĐ y e 2 u ng cao chiết lá chè dây; D Gan chuộ ĐTĐ type 2 u ng cao chiế á ắng
DaihocDaNang
Trang 13Từ kết quả được trình bày ở hình 3.4 cho thấy, tế bào gan chuột bình thường (A) có hình khối đa diện bao bọc bởi màng tế bào, ở giữa là nhân Trong nhân thường có 1-2 hạch nhân to tròn, bắt màu xanh Tế bào chất, bắt màu eosin tương đối đều nhau nên toàn bộ các tế bào gan đều có màu hồng nhạt Các tế bào gan thuộc mỗi bè Remak xếp sít nhau Chuột bị bệnh ĐTĐ type 2 cho uống nước muối sinh lý (B), các tế bào gan có biểu hiện thoái hóa, tạo thành các đám hỗn độn với nhiều hình dạng khác nhau, các tế bào biến dạng méo mó rời rác, một số tế bào có nhân và tế bào chất bắt màu đậm hơn, dây tế bào gan bị biến dạng trầm trọng Như vậy việc tiêm thuốc STZ sau một thời gian đã làm tổn thương tế bào gan trầm trọng Chuột bị bệnh ĐTĐ type 2 được điều trị bằng cao chiết chè dây và lá đắng (C, D), hình dạng và kích thước của tế bào và nhân tế bào không bị biến dạng, các tế bào gan vẫn thấy nhân nằm ở trung tâm tế bào, nhân tế bào bắt màu bình thường, dây tế bào gan ít bị biến dạng Các tế bào gan của chuột ĐTĐ type 2 uống cao chiết ít bị tổn thương hơn so với tế bào gan ở lô chuột ĐTĐ type 2 đối chứng và khôi phục gần giống với tiêu bản gan chuột bình thường
3.4.2 Nghiên cứu cao chiết phân đ ạn lá chè dây
3.4.2.1 Nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết của các cao chiết phân đoạn chè dây
Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, từ ngày thứ 7, CEtOAc thể hiện hoạt tính hạ đường huyết (p < 0,05) và hoạt tính hạ đường huyết là tốt nhất tại ở ngày thứ 21 (p < 0,01) CBuOH có tác dụng hạ đường huyết bắt đầu ở ngày thứ 14 và cao nhất vào ngày thứ 21 Riêng đối với CHe không có tác dụng hạ đường huyết, chuột uống cao chiết sau 21 ngày nồng độ đường huyết không hề thay đổi
DaihocDaNang