KHẢO SÁT KHẢ NĂNG GÂY ĐỘC TẾ BÀO UNG THƯ IN VITRO CỦA MỘT SỐ BÀI THUỐC CỔ TRUYỀN Nguyễn Thụy Vy 1 , Nguyễn Thái Hoàng Tâm 1 , Trần Ngọc Khả Vy 1 , Vũ Thị Thu Thủy 1 , Nguyễn Thị Bay 2
Trang 1KHẢO SÁT KHẢ NĂNG GÂY ĐỘC TẾ BÀO UNG THƯ IN VITRO CỦA MỘT SỐ BÀI
THUỐC CỔ TRUYỀN
Nguyễn Thụy Vy (1) , Nguyễn Thái Hoàng Tâm (1) , Trần Ngọc Khả Vy (1) , Vũ Thị Thu Thủy (1) ,
Nguyễn Thị Bay (2) , Hồ Huỳnh Thùy Dương (1)
(1)
Phòng thí nghiệm Sinh học phân tử, Bộ môn Di truyền, Khoa Sinh học,
Trường Đại học Khoa học Tự Nhiên, ĐHQG TP.HCM
(2)
Khoa Y học Cổ truyền, Đại học Y Dược TP.HCM
MỞ ĐẦU
Việt Nam có một nền y dược học cổ truyền lâu đời với nhiều danh y nổi tiếng như Chu Văn An, Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông,… Theo đánh giá của WHO, giống như ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Triều Tiên, y học
cổ truyền (YHCT) thực sự là một phần của hệ thống Y tế ở Việt Nam, với khoảng 30% bệnh nhân được điều trị bằng YHCT [10] Các bài thuốc cổ truyền cũng được nhiều nhóm nghiên cứu trên thế giới quan tâm nghiên cứu bằng các công cụ hiện đại Kết quả thu nhận được cho thấy nhiều cây thuốc và bài thuốc cổ truyền đã được đánh giá một cách khoa học, thuyết phục và là một kho tàng tự nhiên cần khai thác cho trị liệu các dạng ung thư [2, 4, 5, 8, 9] Tuy nhiên, cho đến nay ở Việt Nam chưa có nhiều công trình được công
bố về cơ chế hoạt động của bài thuốc cổ truyền hoặc dân gian mặc dù có nhiều bài thuốc đã được truyền miệng, và sử dụng khá rộng rãi
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành đánh giá độc tính tế bào của dịch chiết nước từ 4 bài thuốc cổ truyền, Song sâm địa thược thang (Codonopsis spp., Rehmannia glutinosa, Scrophularia buergeriana,
Hedyotis diffusa, Scutellaria barbata), Nh ị trần thang gia vị (Typhonium trilobatum, Poria cocos, Glycyrrhiza
spp., Scutellaria barbata), Hoàng liên gi ải độc thang (Coptis chinensis, Phellodendron chinense, Scutellaria
baicalensis, Paeonia lactiflora, Gardenia jasminoides), và Tiêu tích nhuy ễn kiên phương (Hedyotis diffusa,
Scutellaria barbata, Paeonia lactiflora, Ostrea gigas) trên 3 dòng tế bào ung thư người gồm ung thư cổ tử cung HeLa, ung thư vú MCF-7 và ung thư phổi NCI-H460
Từ khóa: bài thuốc cổ truyền, gây độc tế bào, Hoàng liên giải độc thang
NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Nguyên liệu: Các thành phần dược liệu của bài thuốc do Khoa Y học Cổ truyền, Đại học Y dược TP.HCM
cung cấp (bảng 1)
Bảng 1 Thành phần của 4 bài thuốc cổ truyền nghiên cứu
Song sâm địa thược thang
(BT1)
Codonopsis pilosula (15g), Rehmannia glutinosa (30g), Scrophularia bucrgeriana (30g), Hedyotis diffusa (30g), Scutellaria barbata (30g)
Glycyrrhiza spp (10g), Scutellaria barbata (30g)
Hoàng liên giải độc thang
(BT3)
Coptis chinensis (30g), Phellodendron chinense (30g), Scutellaria baicalensis (30g), Paeonia lactiflora (20g), Gardenia jasminoides (20g)
Tiêu tích nhuyễn kiên
phương (BT4)
Hedyotis diffusae (30g), Scutellaria barbata (30g), Palonia lactiflora (30g), Ostrea gigas (30g)
Hóa chất: Các hóa chất sử dụng trong nuôi cấy tế bào động vật bao gồm môi trường Eagle’s minimum
essential medium (E’MEM), L-glutamine, HEPES, amphotericin B, penicillin G, streptomycin, sulforhodamine
B (SRB) (Sigma), huyết thanh bào thai bò (FBS) (Gibco), các dụng cụ dùng trong nuôi cấy tế bào (Nunc)
Chuẩn bị dịch chiết nước: Dược liệu được cân theo tỷ lệ khối lượng của mỗi bài thuốc và được cắt nhỏ,
trộn đều, ngâm với nước cất 2 lần trong 5 phút rồi chắt toàn bộ nước ra Thêm một lượng nước mới vào
Trang 2dược liệu sao cho nước ngập qua mặt dược liệu khoảng 2-3 cm Đun dược liệu đến sôi rồi để ở nhiệt độ
đó được ly tâm 4000g trong 15 phút để loại cặn, lọc qua màng lọc 0,2 micron và sử dụng trong ngày
Nuôi cấy tế bào: Các dòng tế bào ung thư sử dụng trong đề tài do Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ (NCI –
Frederick, MD, USA) cung cấp Tế bào được nuôi trong môi trường E’MEM có bổ sung L-glutamine (2 mM), HEPES (20 mM), amphotericin B (0,025 µg/ml), penicillin G (100 UI/ml), streptomycin (100 µg/ml), 10% (v/v)
Thử nghiệm SRB xác định độc tính tế bào: Tế bào được nuôi trong đĩa 96 giếng ở mật độ ban đầu 104 tế
bào được xử lý với dịch chiết ở những nồng độ khác nhau trong 48 giờ với giếng chứng là giếng có tế bào
được rửa với nước 5 lần Tế bào được nhuộm với SRB 0,2% (trong acetic acid) trong 20 phút ở nhiệt độ
bước sóng 492 và 620 nm Tỉ lệ ức chế tăng trưởng được tính theo công thức: (OD giếng chứng – OD giếng
có dịch chiết)/OD giếng chứng Tất cả các thí nghiệm được lặp lại ba lần [7]
KẾT QUẢ - THẢO LUẬN
Đầu tiên, để đánh giá khả năng gây độc tế bào ung thư của các bài thuốc, chúng tôi tiến hành thử nghiệm SRB với các dịch chiết thu được ở nồng độ 10% (v/v) (tương đương với nồng độ bài thuốc được hòa tan trong cơ thể [1]) trên 3 dòng tế bào ung thư HeLa, MCF-7 và NCI-H460 Sau 48 giờ ủ, cả 4 bài thuốc đều ức chế mạnh sự tăng trưởng của cả 3 dòng tế bào ung thư HeLa, MCF-7 và NCI-H460 với tỉ lệ (%) được thể hiện trong bảng 2
Bảng 2 Tỉ lệ (%) ức chế tăng trưởng của 4 bài thuốc ở nồng độ 10% (v/v) trên 3 dòng tế bào ung thư
0
20
40
60
80
100
Nồng độ (% v/v) dịch chiết
0 20 40 60 80 100
Nồng độ (% v/v) dịch chiết
-20 0 20 40 60 80 100
Nồng độ (% v/v) dịch chiết
Hình 1 Tác động ức chế tăng trưởng của 4 bài thuốc trên các dòng tế bào ung thư cổ tử cung HeLa (A), ung thư phổi NCI-H460 (B) và ung thư vú MCF-7 (C) sau 48 giờ
A
C
B
Trang 3Chúng tôi tiếp tục khảo sát sự tăng trưởng của 3 dòng tế bào ung thư sau 48 giờ dưới tác động của dịch chiết ở các nồng độ khác nhau để xác định giá trị IC50
Kết quả cho thấy cả 4 dịch chiết đều ức chế sự tăng sinh của các tế bào ung thư theo nồng độ (hình 1) Trong đó, dịch chiết nước của bài BT3 (Hoàng liên giải độc thang) có hoạt tính mạnh nhất với IC50 thấp hơn
từ 2-6 lần so với IC50 của các dịch chiết còn lại (bảng 3) Bài thuốc Hoàng liên giải độc thang trong một số công trình nghiên cứu gần đây đã được chứng minh có khả năng ức chế sự tăng sinh của dòng tế bào ung thư gan Hep-G2 và ung thư tủy U266 thông qua sự cảm ứng quá trình chết theo chương trình (apoptosis) [3, 6]
Bảng 3 Giá trị IC50 (% v/v) của dịch chiết nước 4 bài thuốc trên 3 dòng tế bào ung thư
Ngoài ra, kết quả ở bảng 3 còn cho thấy dòng tế bào MCF-7 thể hiện đáp ứng với các dịch chiết nhạy hơn
so với các dòng tế bào còn lại với IC50 của tất cả các dịch chiết trên dòng tế bào này đều thấp hơn từ 2-4 lần so với IC50 trên các dòng tế bào còn lại Các thí nghiệm tiếp theo đang được thực hiện nhằm tìm hiểu
cơ chế kháng ung thư của bài thuốc Hoàng liên giải độc thang cũng như đáp ứng của tế bào MCF-7
KẾT LUẬN
Những kết quả này đã bước đầu chứng minh được khả năng kháng ung thư in vitro của 4 bài thuốc cổ truyền khảo sát và mở ra các nghiên cứu sâu hơn về cơ chế tác động của các bài thuốc này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Campbell M.J., Hamilton B., Shoemaker M., Tagliaferri M., Cohen I., & Tripathy D., 2002 Antiproliferative activity of
Chinese medicinal herbs on breast cancer cells in vitro Anticancer Research, 22:3843-3852
2 Deng H., Nakajima K., Ma X., Hasumi K., Akatsuka T., & Wago H., 2001 Anti-tumour activity of traditional chinese
medicine, Ekki-Youketsu-Fusei-Zai, and its effects on immunocyte functions J Saitama Med School, 28:109-115
3 Hsu Y.L., Kuo P.L., Tzeng T.Z., Sung S.C.,Yen M.H., Lin L.T & Lin, C.C., 2008 Huang-lian-jie-du-tang, a traditional
Chinese medicine prescription, induces cell-cycle arrest and apoptosis in human liver cancer cells in vitro and in vivo
Journal of Gastroenterology and Hepatology, 23:290-299
4 Kim J.B., Koo H.N., Joeng H.J., Lyu Y.S., Park S.G., Won J.H., Kim Y.K., Hong S.H., & Kim H.M., 2005 Induction of apoptosis by Korean medicine Gagam-whanglyun-haedotang through activation of caspase-3 in human leukemia cell
line, HL-60 Journal of Pharmacological Sciences, 97:138-145
5 Lian Z., Niwa K., Gao J., Tagami K., Mori H., & Tamaya T., 2003 Association of cellular apoptosis with anti-tumor
effects of the Chinese herbal complex in endocrine-resistant cancer cell line Cancer Detection and Prevention,
27:147-154
6 Ma Z., Otsuyama K., Liu S., Abroun S., Ishikawa H., Tsuyama N., Obata M., Li F.J., Zheng X., Maki Y., Miyamoto K
& Kawano M.M., 2005 Baicalein, a component of Scutellaria radix from Huang-Lian-Jie-Du-Tang (HLJDT), leads to
suppression of proliferation and induction of apoptosis in human myeloma cells Blood, 105: 3312-3318
7 Nguyễn Thái Hoàng Tâm, Nguyễn Thụy Vy, Tất Tố Trinh , Nguyễn Thị Tuyết Giang, Nguyễn Ngọc Hạnh, Hồ Huỳnh Thùy Dương, 2007 Chuẩn hóa thử nghiệm Sulforhoddamin B (SRB) để xác định tính gây độc tế bào của hợp chất
tự nhiên Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống, Nxb KH&KT, Quy Nhơn, 809-811
8 Sun A., Chia J.S., Chiang C.P., Hsuen S.P., Du J.L., Wu C.W., & Wang W.B., 2005 The Chinese Herbal Medicine
Tien-Hsien Liquid Inhibits Cell Growth and Induces Apoptosis in a Wide Variety of Human Cancer Cells The Journal
of Alternative and Complementary Medicine, 11:245-256
9 Thabrew M.I., Mitry R.R., Morsy M.A., & Hughes R.D., 2005 Cytotoxic effects of a decoction of Nigella sativa,
Hemidesmus indicus and Smilax glabra on human hepatoma HepG2 cells Life Sciences, 77:1319-1330
10 WHO, 2002 WHO Traditional Medicine Strategy 2002-2005 WHO, Geneva
LỜI CẢM ƠN
Đề tài này nhận được sự tài trợ từ Chương Trình Y tế (2008-2010) của Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM
Trang 4SUMMARY
IN VITRO ANTICANCER ACTIVITY OF FOUR TRADITIONAL REMEDIES
Nguyen Thuy Vy (1) , Nguyen Thai Hoang Tam (1) , Tran Ngoc Kha Vy (1) , Vu Thi Thu Thuy (1) ,
Nguyen Thi Bay (2) , Ho HuynhThuy Duong (1)
(1)
Lab of Molecular Biology, Department of Genetics, Faculty of Biology, University of Science, Vietnam National University - Ho Chi Minh City
(2)
Faculty of Traditional Medicine, University of Medicine & Pharmacy HCM City
ABSTRACT
Scrophularia buergeriana, Hedyotis diffusa, Scutellaria barbata), Nh ị trần thang gia vị (Typhonium
trilobatum, Poria cocos, Glycyrrhiza spp., Scutellaria barbata), Hoàng liên gi ải độc thang (Coptis chinensis,
Phellodendron chinense, Scutellaria baicalensis, Paeonia lactiflora, Gardenia jasminoides), và Tiêu tích
nhuyễn kiên phương (Hedyotis diffusa, Scutellaria barbata, Paeonia lactiflora, Ostrea gigas) were evaluated for their antiproliferative effect on three human cancer cell lines, HeLa, MCF-7, and NCI-H460 Overall, all the decoctions demonstrated growth inhibitory activity on all of the cancer cell lines Decoction of Hoang lien giai doc thang showed the highest activity, and the breast cancer cell lines MCF-7 tended to be more sensitive to most of the decoctions compared with other cell lines These results indicate the potential use of these remedies as antineoplastic agents and suggest further studies on investigating their mechanism(s) of action
Keywords: traditional remedy, cytotoxicity, Hoang lien giai doc thang