Để có thể hiểu rõ hơn về tầm quan trọng đó với đề tài: “Hiệp định chống bán phá giá của WTO và Luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ, thách thức, khó khăn trong xuất khẩu hàng hoá của Việt N
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1 HIỆP ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA WTO VÀ LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA HOA KỲ 4
1.1 Hiệp định chống bán phá giá 4
1.1.1 Khái niệm bán phá giá 4
1.1.2 Điều chỉnh chống bán phá giá của GATT 4
1.1.3 Xác định việc bán phá giá 5
1.1.4 Xác định biên độ phá giá và mức độ tổn thất 5
1.2 Luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ 7
1.2.1 Trường hợp áp dụng 7
1.2.2 Điều tra bán phá giá 7
1.2.3 Thuế suất chống bán phá giá 7
1.2.4 Trình tự tiến hành các thủ tục tố tụng 8
CHƯƠNG 2 NHỮNG THÁCH THỨC VÀ KHÓ KHĂN CÓ LIÊN QUAN TRONG XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM 10
2.1 Rào cản về văn hoá 10
2.2 Rào cản về cạnh tranh 10
2.3 Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ 11
2.4 Sự bất ổn của thị trường cà phê thế giới 11
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ 13
3.1 Nhạy bén nắm bắt cơ hội kinh doanh 13
3.2 Tìm hiểu văn hoá, tập quán tiêu dùng để có chiến lược kinh doanh phù hợp 13
Trang 23.3 Luôn tìm cho mình một lối đi riêng trên thị trường – đây là giải pháp
tăng trưởng an toàn và hiệu quả 14
3.4 Xây dựng thương hiệu một cách ấn tượng với công thức kinh doanh bắt đầu từ khách hàng 14
3.5 Duy trì hình ảnh của doanh nghiệp với phương châm “chất lượng là xương sống" 15
3.6 Tìm hiểu luật pháp, chính sách của các nước đối tác 15
KẾT LUẬN 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với xu thế toàn cầu hoá hiện nay, Tổ chức thương mại thế giới (WTO) kế thừa hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) bắt đầu hoạt động từ 1/1/1995 nhằm tạo điều kiện hơn nữa cho sự phát triển của hệ thống thương mại đa biên, đảm bảo cạnh tranh công bằng, lành mạnh, xoá bỏ dần các rào cản trong thương mại quốc tế Từ
đó cho đến nay, WTO đã không ngừng mở rộng cả về quy mô lẫn phạm vi hoạt động của mình, đã thực sự khẳng định được vai trò quan trọng của mình trong quá trình tự do hoá thương mại quốc tế Cùng với hệ thống các quy tắc, nguyên tắc, các hiệp định của mình, WTO đã tạo ra một hành lang pháp lý để từ đó các nước có thể đẩy nhanh tiến trình toàn cầu hoá, tự do thương mại, đồng thời tiếp nhận những cơ hội thuận lợi để phát triển nền kinh tế của mình Tuy nhiên, hoạt động của WTO cùng với hệ thống các nguyên tắc và hiệp định của mình không phải lúc nào cũng có lợi và đảm bảo được sự công bằng cho các nước thành viên, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển Để có thể hiểu rõ hơn
về tầm quan trọng đó với đề tài: “Hiệp định chống bán phá giá của WTO và Luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ, thách thức, khó khăn trong xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam” được chọn để nghiên cứu Tiểu luận được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Hiệp định chống bán phá giá của WTO và Luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ
Chương 2: Những thách thức và khó khăn có liên quan trong xuất khẩu hàng hoá Việt Nam
Chương 3: Một số đề xuất và kiến nghị
Trang 4CHƯƠNG 1 HIỆP ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA WTO VÀ LUẬT
CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA HOA KỲ
1.1 Hiệp định chống bán phá giá
Trong những năm gần đây các vụ kiện về bán phá giá trong thương mại quốc tế có
xu hướng gia tăng Trong khuôn khổ của WTO hành vi bán phá giá được điều tiết bởi Hiệp định chống bán phá giá, tên đầy đủ của hiệp định này là Hiệp định về thực hiện Điều VI của Hiệp định khung về thuế quan và thương mại 1994 Hiệp định gồm 3 phần với 18 điều và 2 phụ lục
1.1.1 Khái niệm bán phá giá
Một khái niệm bán phá giá được nêu ở Điều 2 của Hiệp định Một hành vi được coi là bán phá giá nếu như hàng hoá được sản xuất ở một nước và được bán ở nước khác với giá thấp hơn giá bán ở trong nước Thông thường bán phá giá được xem là hành vi thương mại không công bằng và do vậy các chính phủ có quyền hành động để chống lại việc bán phá giá nhằm bảo vệ quyền các ngành sản xuất nội địa Người ta thường phân biệt đa dạng bán phá giá: phân biệt giá quốc tế; định giá mang tính cướp bóc; và phá giá tuỳ từng lúc Trong ba dạng trên định giá mang tính cướp bóc được định nghĩa là việc đặt giá thấp hơn chi phí với mục đích làm tổn hại hoặc loại trừ đối thủ cạnh tranh ở ngành sản xuất nội địa để nâng giá hàng nhập khẩu về sau Do vậy, hình thức bán phá giá này thường được xem là lý do chủ yếu xem xét về mặt kinh tế của việc áp dụng luật chống bán phá giá
1.1.2 Điều chỉnh chống bán phá giá của GATT
Cả GATT 1947 và GATT 1994 đều không đưa ra luật chống bán phá giá mà chỉ cho phép các thành viên có thể áp dụng các biện pháp chống bán phá giá và đưa ra các quy tắc điều chỉnh việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá Hiệp định chống bán phá giá cho phép các chỉnh phủ được phép áp đặt các biện pháp chống bán phá giá khi ngành cạnh tranh nội địa thực sự bị tổn hại
Muốn áp dụng các biện pháp chống phá giá một nước phải:
- Chỉ ra được đang diễn ra việc bán phá giá (theo định nghĩa bán phá giá);
Trang 5- Tính toán được mức độ phá giá, hay biên phá giá, có nghĩa là giá xuất khẩu thấp hơn bao nhiêu so với giá trị ở thị trường nội địa của nước xuất khẩu;
- Chứng minh được rằng phá giá gây ra tổn thất đủ lớn về mặt vật chất
- Biện pháp chống bán phá giá các nước thường áp dụng là áp đặt thuế chống bán phá giá nhằm tăng giá trở lại mức thông thường
1.1.3 Xác định việc bán phá giá
Một sản phẩm được gọi là được bán phá giá nếu như giá xuất khẩu là thấp hơn giá trị thông thường của nó Giá trị thông thường được định nghĩa là giá trong điều kiện thương mại bình thường của hàng hoá tương tự tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu
Trong trường hợp không xác định được giá trị thông thường theo định nghĩa trên, ví dụ
do sản phẩm tương tự không được bán ở thị trường nội địa, thì giá trị thông thường được xác định như sau:
- Dựa vào nước xuất khẩu thứ ba: lấy giá nhà xuất khẩu bán cho nước thích hợp thứ ba
- Tính toán giá trị thông thường: bằng chi phí sản xuất ở nước xuất xứ cộng với một mức chi phí hợp lý về quản lý, bán hàng, và đưa mức lợi nhuận hợp lý
Về điểm này, Hiệp định cũng đưa ra mức những quy định cụ thể cho một số trường hợp đặc thù Trong trường hợp nước bán phá giá có nền kinh tế phi thị trường, WTO cho phép thành viên của nó có thể không chấp nhận giá cả hoặc chi phí trong nền kinh tế phi thị trường đó làm cơ sở thích hợp cho việc tính toán giá trị thông thường do
họ cho rằng giá hoặc chi phí đó là chính phủ áp đặt và không bị chi phối bởi các lực lượng thị trường Trong trường hợp đó cơ quan điều tra có quyền sử dụng giá cả hoặc chi phí ở nước thứ ba làm căn cứ cho việc tính giá trị thông thường Trên thực tế, đây là một điều thiệt thòi cho các nước bị quy cho là không có nền kinh tế thị trường vì chi phí thường bị đánh giá cao hơn nhiều so với thực tế Đây là trường hợp xảy ra trong vụ các chủ trại cá basa Hoa Kỳ kiện các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá
1.1.4 Xác định biên độ phá giá và mức độ tổn thất
Biên phá giá thường xác định bằng cách so sánh bình quân gia quyền của giá bán nội địa với bình quân gia quyền của giá bán ở thị trường xuất khẩu, hoặc bằng cách so
Trang 6sánh giá nội địa và giá xuất khẩu trên cơ sở giao dịch với giao dịch Để xác định mức độ tổn thất do việc bán phá giá gây ra, WTO yêu cầu phải có qúa trình điều tra tuân thủ các thủ tục quy định Về nguyên tắc, quá trình điều tra phải tạo cơ hội cho các bên liên quan đưa ra các bằng chứng của mình
Hiệp định đưa ra các quy định cụ thể sau:
- Việc điều tra chống bán phá giá phải được chấm dứt ngay lập tức nếu các cơ quan có thẩm quyền xác định rằng biên phá giá là không đáng kể, cụ thể là nhỏ hơn 2%
so với giá xuất khẩu;
- Việc điều tra cũng phải kết thúc nếu tổng mức nhập khẩu bị phá giá là không đáng kể, có nghĩa là tổng mức nhập khẩu từ một nước là nhỏ hơn 3% tổng mức nhập khẩu sản phẩm đó Tuy nhiên, việc điều tra vẫn có thể tiến hành nếu nhiều nước gộp lại chiếm bằng hoặc hơn 7% tổng mức nhập khẩu mặc dù từng nước chỉ cung cấp ít hơn 3%;
- Các biện pháp chống bán phá giá chỉ là hiệu lực trong vòng 5 năm tính từ ngày
có hiệu lực, trừ khi việc điều tra chỉ ra rằng việc chấm dứt các biện pháp chống bán phá giá sẽ lại dẫn đến sự tổn thất cho ngành sản xuất nội địa;
- Phải bảo đảm rằng các bên có liên quan đều được tạo cơ hội đầy đủ để đưa ra các bằng chứng hoặc bảo vệ các lý lẽ của mình;
- Nếu việc điều tra có thể minh chứng được rằng có việc bán phá giá và ngành nội địa bị tổn hại, thì nước xuất khẩu có thể nâng giá bán của mình đến mức phù hợp nhằm tránh bị áp đặt thuế chống bán phá giá;
- Mọi khiếu kiện về sự không nhất trí với Hiệp định có thể tham khảo quy tắc giải quyết tranh chấp của WTO
Ngoài các nội dung chính trên, Hiệp định còn có cơ chế cho phép tiến hành chống bán phá giá nhân danh nước thứ ba khi nước thứ ba uỷ quyền và yêu cầu (Điều 14) Về mặt tổ chức thực hiện, Uỷ ban thực thi chống bán phá giá sẽ chịu trách nhiệm giám sát thi hành luật Việc tham vấn và giải quyết các tranh chấp liên quan sẽ dựa trên thoả thuận ghi nhận quy tắc và thủ tục điều chỉnh giải quyết tranh chấp (DSU)
Trang 7Như đã nhắc tới ở mục trước, Điều 6 của Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa
Kỳ cũng thừa nhận quyền của mỗi bên áp dụng các “luật và quy định của mình đối với thương mại không lành mạnh kể cả đạo luật chống phá giá và luật thuế đối kháng”
1.2 Luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ
1.2.1 Trường hợp áp dụng
Thuế chống bán phá giá sẽ được đánh vào một mặt hàng nhập khẩu nếu hàng nhập khẩu được xác định là bán phá giá Khái niệm “phá giá” được dựa theo chuẩn mực của WTO
1.2.2 Điều tra bán phá giá
Giống như điều tra đánh thuế bù, điều tra bán phá giá được khởi xướng hoặc dựa trên đơn kiện của một ngành hoặc do bản thân Bộ thương mại Bộ thương mại có nhiệm
vụ điều tra liệu có tình trạng bán phá giá hay không ITC cần điều tra xem do nhập khẩu một nghành của Mỹ có tổn hại, hay đe doạ bị tổn hại về vật chất, hay một nghành mới thành lập có suy giảm hay không
1.2.3 Thuế suất chống bán phá giá
Thuế suất chống bán phá giá được tính dựa vào biên bán phá giá, tức là chênh lệch giữa giá trị thông thường của hàng hoá và giá xuất khẩu Luật của Hoa Kỳ có quy định chi tiết về tính toán các loại giá này đối với trường hợp kinh tế thị trường và kinh tế phi thị trường, và nhìn chung đều theo các quy định chung của WTO Ví dụ giá xuất khẩu là 100$ còn giá trị thông thường là 125$, lúc đó biên phá giá là 125$ - 100$ = 25$, và mức thuế bán phá giá sẽ là (125$ - 100$)/ 100 = 0,25 hay 25%
Luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ còn cho phép một ngành của Hoa Kỳ đệ đơn khiếu nại bán phá giá ở nước thứ ba Khi đệ đơn ngành đó phải chứng minh cho Văn phòng Đại diện thương mại Hoa Kỳ (USTR) thấy rằng vì sao việc bán phá giá đó lại gây thiệt hại cho các công ty của Hoa Kỳ, và yêu cầu cơ quan này phải bảo vệ quyền lợi của
họ theo quy tắc của WTO Nếu USTS thấy rằng sự khiếu kiện là có cơ sở thì sẽ yêu cầu
cơ quan có thẩm quyền thích hợp ở nước thứ ba thay mặt Hoa Kỳ tiến hành việc chống bán phá giá
Trang 8Ngoài ra theo Hiệp định chống bán phá giá của vòng đàn phán Uruguay, chính phủ của một thành viên của WTO có thể đệ đơn lên USTR yêu cầu điều tra chống bán phá giá đối với một sản phẩm được nhập khẩu vào Hoa Kỳ từ nước thứ ba
1.2.4 Trình tự tiến hành các thủ tục tố tụng
- Bên nguyên đệ đơn lên Bộ thương mại và ITC
- Nếu vụ kiện được chấp nhận, 45 ngày sau ngày nộp đơn hoặc sau khi Bộ thương mại bắt đầu tự tiến hành điều tra, ITC phải sơ bộ xác định sự thiệt hại hoặc đe doạ thiệt hại đối với một nghành của Mỹ
- Nếu ITC xác định là không hoặc đe doạ gây thiệt hại thì vụ kiện sẽ dừng lại Nếu xác định là có thì Bộ thương mại phải xác định có hay không việc bán phá giá
- Nếu Bộ thương mại phán quyết rằng vụ kiện là có cơ sở thì sau khi sơ bộ khẳng định, Bộ thương mại phải xác định biên phá giá bình quân gia quyền, đó là mức chênh lệch giữa giá trị thông thường của sản phẩm của nước ngoài và giá xuất khẩu Bộ có thời gian 140 ngày tính từ ngày bắt đầu điều tra cho công việc này, và có thể kéo dài tối đa đến 190 ngày
- Nếu sơ bộ xác định là có bán phá giá thì nhà xuất khẩu phải ký gửi một khoản đặt cọc cho Sở Hải quan Hoa Kỳ bằng với tổng mức biên phá giá ròng
- Nếu Bộ thương mại xác định sơ bộ là không có bán phá giá thì nhà xuất khẩu không phải ký gửi tiền đặt cọc Tuy nhiên, cả Bộ thương mại và ITC đều phải tiếp tục điều tra để có thể đưa ra kết luận cuối cùng Ở bước này luật có đưa ra những điều khoản cho việc đạt đến một thoả thuận ngừng vụ kiện nếu đáp ứng những điều kiện nhất định
- Trong vòng 75 ngày của giai đoạn xác định sơ bộ, trong điều kiện bình thường
Bộ thương mại phải đưa ra kết luận cuối cùng Nếu kết luận cuối cùng của Bộ thương mại là không có bán phá giá, thì quá trình điều tra sẽ kết thúc và khoản tiền đặt cọc sẽ được hoàn trả lại cho nhà xuất khẩu Nếu kết luận là có thì ITC phải đưa ra kết luận cuối cùng về việc có bị tổn hại hay không
- Đến ngày thứ 120 sau khi Bộ thương mại đưa ra kết luận sơ bộ là có, hoặc đến ngày thứ 45 sau khi Bộ thương mại đưa ra kết luận cuối cùng ITC phải đưa ra kết luận cuối cùng
Trang 9- Nếu kết luận cuối cùng của ITC là có thì Bộ thương mại sẽ ban hành lệnh áp thuế chống bán phá giá trong vòng 7 ngày sau khi ITC thông báo kết luận cuối cùng
- Nếu có kiến nghị, Bộ Thương mại phải xem xét lại, thường là 12 tháng một lần, biên phá giá đối với hàng hoá trong lệnh đánh thuế chống bán giá hiện hành Nếu có yêu cầu Bộ thương mại phải xem xét lại các cuộc điều tra đã được đình chỉ để xác định tình trạng và sự tuân thủ thoả thuận và biên phá giá
- Các hiệp định của vòng đàm phán Uruguay quy định Bộ Thương mại và ITC phải tiến hành rà soát lần cuối trong vòng 5 năm kể từ khi ban hành lệnh để xác định xem việc huỷ bỏ lệnh có dẫn đến sự tiếp tục hay tái diễn việc bán phá giá và tổn hại về vật chất không
- Có thể huỷ bỏ lệnh chống bán phá giá hoặc kết thúc điều tra nếu như ITC kết luận rằng sự huỷ bỏ hiặc đình chỉ đó không dẫn đến sự tiếp tục hay tái diễn sự tổn hại về vật chất, và Bộ thương mại kết luận rằng sẽ không tiếp tục có hoặc tái diễn việc phá giá
- Nếu các đối tác thương mại không đồng ý với các kết luận cuối cùng của Bộ thương mại và ITC về vụ kiện thì họ có thể kiện lên Toà án quốc tế của Mỹ tại New York
- Luật còn có các điều khoản về “tình trạng khẩn cấp” cho phép bên nguyên có thể nhanh chóng hành động để chống lại sự nhập khẩu tràn lan đe doạ đến ngành sản xuất nội địa
Trang 10CHƯƠNG 2 NHỮNG THÁCH THỨC VÀ KHÓ KHĂN CÓ LIÊN QUAN TRONG
XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM
Vươn ra thị trường nước ngoài trong tiến trình hội nhập là lời giải cuả sự phát triển cho các doanh nghiệp Tuy nhiên để làm được điều đó không phải dễ dàng, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp rất nhiều trở ngại để tìm lời giải riêng cho mình Trong khuôn khổ bài tiểu luận này, em xin phân tích các thách thức và khó khăn đối với doanh nghiệp
cụ thể là cà phê Trung Nguyên
2.1 Rào cản về văn hoá
Mỗi quốc gia đều có các phong tục tập quán, thói quen tiêu dùng khác nhau và xu hướng thị hiếu thì luôn thay đổi Trung Nguyên đang phải đứng trước khó khăn làm sao
để đánh bật được tập quán uống trà truyền thống của một số nước như Trung Quốc, Nhật (trà xanh - ocha)… hay làm thay đổi “gu” uống cà phê ở Bắc Mỹ với sự thống trị của Starbucks (thương hiệu cà phê hàng đầu ở Mỹ) và lòng trung thành với các sản phẩm đã trở thành thói quen uống rượu vang hay bia ở những nước Châu Âu Đây là một trở ngại lớn trong chiến lược quốc tế hoá của cà phê Trung Nguyên Vượt qua rào cản hàng hoá này, doanh nghiệp coi như bước đầu đã thành công trong chiến lược hướng ngoại của mình
2.2 Rào cản về cạnh tranh
Đây là một trở ngại lớn trong chiến lược hướng ngoại của Trung Nguyên Đối với hai đối tác tiềm năng lớn nhất của Trung Nguyên là Nhật, Mỹ thì việc đưa được ly cà phê mang thương hiệu Việt Nam trở thành thứ thức uống quen dùng của họ là điều rất khó
Bởi lẽ ở hai thị trường lớn này các tập đoàn cà phê Starbucks (Mỹ), Nestlé (Thụy Sĩ), Art Cofee ở Nhật Bản, đang thống trị hầu hết thị phần ở các nước này và đã trở thành thứ thức uống không thể thiếu trong ý thức tiêu dùng của họ Hơn nữa, các tập đoàn này với tiềm lực vô cùng lớn dễ dàng tăng tốc với các chiến lược đa dạng hoá sản phẩm, đa dạng hoá các hình thức kinh doanh, đầu tư công nghệ dây chuyền sản xuất nâng cao chất lượng sản phẩm để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh khốc liệt từ đó chiếm lĩnh thị trường
Với nguồn lực hạn chế và với tư cách là một doanh nghiệp Việt Nam đầu tiên kinh doanh