1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Tiểu luận FTU) báo cáo PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGÀNH sản XUẤT DA và các sản PHẨM có LIÊN QUAN

26 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 768,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò và ý nghĩa của ngành da cơ bản có thể nhìn thấy rõ từ sự đóng góp của lĩnh vực này trong tiêu dùng quốc nội cũng như xuất khẩu, chẳng hạn: trong nước, ngành Sản xuất da và các sả

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ

Hà Nội, tháng 3 năm 2019

Trang 2

Bảng phân công công việc:

Tên sinh viên Công việc thực hiện chung Công việc thực hiện riêng

1 Trần Nguyệt Thanh - Tìm ý tưởng đề tài

- Lập outline tiểu luận

Lời mở đầu Tổng quan ngành Tổng hợp báo cáo

chỉ số Liên kết và sáp nhập R&D

Đóng góp cho xã hội

Mức độ tập trung của ngành Khoa học công nghệ

4 Cấn Thị Quỳnh Thư

Cầu và điều kiện thị trường Rào cản gia nhập ngành Hành vi về giá

của doanh nghiệp Kết luận và khuyến nghị

Bảng chấm chéo đóng góp của các thành viên vào bài tiểu luận:

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

1 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH SẢN XUẤT DA VÀ CÁC SẢN PHẨM CÓ LIÊN QUAN 3

1.1 Định nghĩa 3

1.2 Thực trạng phát triển của ngành Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan 4

1.3 Phân tích ngành theo ma trận SWOT 5

2 CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG 7

2.1 Qui mô doanh nghiệp 7

2.2 Mức độ tập trung của ngành 7

2.3 Cầu và điều kiện thị trường 8

2.4 Rào cản gia nhập ngành 9

3 HÀNH VI CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NGÀNH 10

3.1 Hành vi về giá 10

3.2 Hoạt động nghiên cứu và phát triển 11

3.3 Hoạt động liên kết và sáp nhập doanh nghiệp 12

3.4 Đóng góp cho xã hội 13

4 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 15

4.1 Căn cứ vào chỉ tiêu cơ cấu vốn 15

4.2 Căn cứ vào chỉ tiêu năng lực hoạt động 18

4.3 Căn cứ vào chỉ tiêu khả năng sinh lợi 20

5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 21

5.1 Kết luận 21

5.2 Một số kiến nghị, đề xuất 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Có thể nói trong vô vàn các ngành nghề hiện nay tại Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung thì ngành nào cũng đóng góp một phần quan trọng riêng trong sự phát triển kinh tế chung Một trong số đó phải kể đến là ngành Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan

Vai trò và ý nghĩa của ngành da cơ bản có thể nhìn thấy rõ từ sự đóng góp của lĩnh vực này trong tiêu dùng quốc nội cũng như xuất khẩu, chẳng hạn: trong nước, ngành Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan được xếp hàng thứ ba trong các ngành xuất khẩu lớn, chỉ đứng sau dệt may và dầu khí, đồng thời Việt Nam được xếp hàng thứ tư trong số các nước xuất khẩu da giày lớn trên thế giới và là một trong mười nước sản xuất giày dép lớn nhất thế giới

Chính vì vậy, việc nắm được tình hình hoạt động và phát triển của ngành có vai trò

vô cùng thiết thực đối với cả các doanh nghiệp đã, đang hoặc sắp gia nhập ngành, cũng như các nhà hoạch định chính sách nhằm đưa ngành Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan phát triển đúng hướng, ngày càng mang đến nhiều đóng góp tích cực hơn cho nền kinh tế quốc dân

Trong bài báo cáo này, chúng ta sẽ tìm hiểu về Ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan thông qua việc tiếp cận với bộ số liệu điều tra doanh nghiệp năm 2006 của Tổng cục thống kê Bên cạnh đó, các thông tin tổng quan về ngành, cấu trúc của thị trường (quy

mô doanh nghiệp, mức độ tập trung của ngành, khoa học và công nghệ, cầu và điều kiện của thị trường) và hành vi của các doanh nghiệp (như hành vi về giá, liên kết và sấp nhập, R&D hay các đóng góp cho xã hội) cũng sẽ được trình bày song song, nhằm chỉ ra hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, thuận tiện cho việc đưa ra các khuyến nghị dành cho họ

Thông qua đây, chúng ta có thể đưa ra được những nhận xét khách quan nhất về Ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan, và quan trọn hơn, đưa ra những định hướng và giải pháp cụ thể để phát triển ngành

Trang 5

1 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH SẢN XUẤT DA VÀ CÁC SẢN PHẨM CÓ LIÊN QUAN

1.1 Định nghĩa

Nhóm ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan gồm những hoạt động được quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Quyết định 27/2018/QĐ-TTg về Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ ban hành, theo đó:

15: SẢN XUẤT DA VÀ CÁC SẢN PHẨM CÓ LIÊN QUAN

Ngành này gồm: Thuộc, nhuộm da và chế biến da sống thành da bằng cách thuộc, chế biến da thành các sản phẩm cho sử dụng cuối cùng Nó cũng bao gồm sản xuất các sản phẩm tương tự từ các nguyên liệu khác (giả da hoặc thay thế da), như giày dép cao su, túi xách từ sản phẩm dệt Sản phẩm được làm từ nguyên liệu thay thế da cũng thuộc nhóm này,

vì chúng được sản xuất bằng các phương pháp tương đương với các sản phẩm da được sản xuất (ví dụ túi xách) và thường được sản xuất trong cùng một đơn vị

151: Thuộc, sơ chế da; sản xuất va li, túi xách, yên đệm; sơ chế và nhuộm da lông thú

Nhóm này gồm: Sản xuất da lông thú và các sản phẩm da lông thú

1511 -15110: Thuộc, sơ chế da; sơ chế và nhuộm da lông thú

Nhóm này gồm: thuộc, nhuộm da; sản xuất da sơn dương, da cừu, da dê, giấy da, da tinh xảo hoặc da hấp (cao su); sản xuất da tổng hợp; cạo lông, chải lông, thuộc, tẩy trắng, xén lông, nhổ lông và nhuộm da lông thú

Loại trừ: sản xuất da sống và da như một phần việc của trại nuôi gia súc được phân vào nhóm 014 (Chăn nuôi); sản xuất da sống và da là phần việc của hoạt động giết mổ được phân vào nhóm 1010 (Chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt); sản xuất trang phục bằng da được phân vào nhóm 14100 (May trang phục (trừ trang phục từ da lông thú)); sản xuất da giả không phải từ da tự nhiên được phân vào nhóm 22190 (Sản xuất sản phẩm khác

từ cao su), 2220 (Sản xuất sản phẩm từ plastic)

1512 - 15120: Sản xuất vali, túi xách và các loại tương tự; sản xuất yên đệm

Nhóm này gồm: sản xuất va li, túi xách và các loại tương tự, bằng da, da tổng hợp hoặc bất cứ nguyên liệu nào khác như nhựa, vải dệt, sợi hoặc bìa các tông được lưu hoá, với điều kiện các nguyên liệu này sử dụng cùng công nghệ dùng để xử lý da; sản xuất yên đệm; sản

Trang 6

xuất dây đeo đồng hồ phi kim (từ vải, da, nhựa); sản xuất các đồ khác từ da hoặc da tổng hợp: Dây an toàn, túi ; sản xuất dây giày bằng da; sản xuất roi da, roi nài ngựa

Loại trừ: sản xuất trang phục bằng da được phân vào nhóm 14100 (May trang phục (trừ trang phục từ da lông thú)); sản xuất găng tay và mũ da được phân vào nhóm 14100 (May trang phục (trừ trang phục từ da lông thú)); sản xuất giày, dép được phân vào nhóm 15200 (Sản xuất giày dép); sản xuất yên xe đạp được phân vào nhóm 30920 (Sản xuất xe đạp và

xe cho người khuyết tật); sản xuất dây đeo đồng hồ kim loại quý được phân vào nhóm

32110 (Sản xuất đồ kim hoàn và chi tiết liên quan); sản xuất dây đeo đồng hồ kim loại thường được phân vào nhóm 32120 (Sản xuất đồ giả kim hoàn và chi tiết liên quan); sản xuất dây đeo an toàn cho thợ điện và các dây đeo cho nghề nghiệp khác được phân vào nhóm 32900 (Sản xuất khác chưa được phân vào đâu)

152 - 1520 -15200: Sản xuất giày, dép

Nhóm này gồm: sản xuất giày, dép cho mọi mục đích sử dụng, bằng mọi nguyên liệu, bằng mọi cách thức sản xuất bao gồm cả đổ khuôn; sản xuất bộ phận bằng da của giày dép:

sản xuất mũi giày và bộ phận của mũi giày, đế trong và phần ngoài đế; sản xuất bao chân,

xà cạp và các vật tương tự; thêu, in gia công trên giày; sản xuất guốc gỗ thành phẩm; gia công đế giày bằng nguyên phụ liệu khác (xốp eva, giả da )

Loại trừ: sản xuất giày dép từ nguyên liệu dệt không có đế được phân vào nhóm 14100 (May trang phục (trừ trang phục từ da lông thú)); sản xuất bộ phận bằng nhựa của giày dép được phân vào nhóm 2220 (Sản xuất sản phẩm từ plastic); sản xuất ủng, giày cao su và đế, các bộ phận khác của giày dép bằng cao su được phân vào nhóm 22190 (Sản xuất sản phẩm khác từ cao su); sản xuất bộ phận của giày bằng gỗ (ví dụ cốt giày hoặc gót giày) được phân vào nhóm 1629 (Sản xuất các sản phẩm khác từ gỗ; sản xuất sản phẩm từ tre, nứa, rơm, rạ và vật liệu tết bện)

1.2 Thực trạng phát triển của ngành Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan

Ngành da giày đang giữ vị trí ngọn cờ đấu đối với ngành Sản xuất da và các sản phẩm

có liên quan Hiện nay, Việt Nam đang là nước sản xuất giày dép đứng thứ 3 châu Á sau Trung Quốc, Ấn Độ, và đứng thứ 4 thế giới Hiện Việt Nam đang sản xuất khoảng 920 triệu đôi giày mỗi năm, xuất khẩu hơn 800 triệu đôi tới hơn 50 thị trường trên thế giới, trong đó Liên minh châu Âu (EU) chiếm tỷ lệ lớn nhất

Ngoài ra, sản phẩm túi xách cũng được xuất khẩu sang 40 nước, trong đó thị trường Mỹ chiếm tỷ lệ cao nhất với 41,6%

Trang 7

Với 12 hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam đã ký kết với các nước và khu vực trên thế giới, xuất khẩu các sản phẩm từ da của Việt Nam sẽ được hưởng ưu đãi lớn khi mức thuế xuất giảm mạnh từ 3,5-57,4% xuống 0%, mở ra cơ hội tăng trưởng xuất khẩu lớn cho ngành da

Tuy nhiên, ngành da Việt Nam cũng đang gặp phải rất nhiều vấn đề nan giải Trước hết, cần kể đến một nghịch lý, đó là dù ngành Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan là một trong những ngành có kim ngạch xuất khẩu cao nhất của Việt Nam, nhưng “phần bánh”

xuất khẩu lại hầu hết đang nằm trong tay các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

Chỉ tính riêng đối với ngành da giày, theo Lefaso, chừng 800 doanh nghiệp doanh nghiệp FDI, mặc dù chiếm chưa đến 25% số lượng doanh nghiệp hoạt động trong ngành, nhưng đang quyết định tới 77% giá trị xuất khẩu, trong đó nhiều doanh nghiệp FDI đang giữ vai trò dẫn dắt thị trường Chẳng hạn Pouchen với hệ thống dày đặc các công ty con, đã đem về doanh số lên tới trên 30.000 tỷ đồng trong năm 2014 (tương đương 17% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành da giày của Việt Nam)

Bên cạnh đó, khi các hàng rào thuế quan được hạ xuống thì các hàng rào kỹ thuật và phi thuế quan lại được dựng lên Đây là nguy cơ cho các doanh nghiệp sản xuất da vừa và nhỏ trong nước

Chúng ta cũng đang phải đối mặt với thách thức khi tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, đó là tỷ lệ nguồn cung ứng nguyên, vật liệu nội địa thấp Theo Lefaso, tỷ lệ nội địa hóa của sản phẩm được sản xuất bởi các doanh nghiệp Việt Nam phải được nâng lên mức 60%

để đáp ứng được điều kiện về quy tắc xuất xứ trong các FTA mà Việt Nam đã tham gia, giúp giảm các chi phí về logistics và nâng cao sự chủ động của doanh nghiệp Việt

Một bất lợi khác, do mải mê “mang chuông đi đánh xứ người” nên các doanh nghiệp da giày trong nước bao năm nay gần như lãng quên sân nhà Tại thị trường nội địa, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm giày dép khoảng 150 triệu đôi/năm, nhưng 60% thị phần do các doanh nghiệp ngoại nắm giữ, trong đó phần lớn là các mặt hàng thuộc phân khúc thấp đến trung cấp là từ Trung Quốc, còn phân khúc cao cấp thì rơi vào tay các thương hiệu nước ngoài

“Khi chúng ta được hưởng thuế suất 0% thì ngược lại chúng ta cũng phải giảm thuế nhập khẩu về 0% và nguy cơ sân nhà bị chiếm lĩnh bởi các doanh nghiệp ngoại là rất lớn”, ông Diệp Thành Kiệt nói

1.3 Phân tích ngành theo ma trận SWOT

Mô hình ma trận SWOT bắt nguồn từ 4 chữ viết tắt Strengths (Điểm mạnh), Weakness (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội) và Threats (Nguy cơ, Thách thức).Mô hình

Trang 8

ma trận SWOT cung cấp một công cụ phân tích chiến lược, rà soát cũng như đánh giá rủi ro định hướng của một công ty , một dự án kinh doanh và mở rộng ra là của cả một ngành sản xuất kinh doanh

Điểm mạnh - Có chỗ đứng trên thị trường thế giới

- Nguồn lao động giá rẻ

Điểm yếu

- Giá trị gia tăng của sản phẩm sản xuất trong nước còn thấp do gia công chế biến là chủ yếu, sản xuất theo đơn đặt hàng của nước ngoài

- Phụ thuộc nặng nề vào nguyên liệu nhập khẩu từ nước ngoài dù trong nước có nguồn cung tiềm năng từ hoạt động chăn nuôi và sản xuất nguyên liệu phụ trợ

- Các doanh nghiệp trong nước phải đối mặt với sức ép về hạn ngạch và các vụ kiện bán phá giá hay thuế xuất nhập khẩu

- Chính phủ còn yếu về luật thương mại quốc tế, chưa bảo vệ được doanh nghiệp trong các vụ kiện và cáo buộc của nước ngoài

Cơ hội

- Việc ký kết các hiệp định tự do thương mại FTA với nhiều nước

và khối kinh tế mở đường cho triển vọng xuất khẩu sản phẩm da với giá rẻ cho các doanh nghiệp Việt Nam

- Chính phủ ngày càng có thêm nhiều chính sách hỗ trợ, bảo vệ doanh nghiệp khi tham gia thị trường quốc tế

Thách thức

- Áp dụng kỹ thuật chăn nuôi và công nghệ hiện đại, tiên tiến để tận dụng nguồn nguyên liệu da trong nước, giảm giá thành đầu vào

- Tự chủ công nghệ để giảm thiểu tình trạng gia công cho nước ngoài, tăng giá trị gia tăng của sản phẩm trong nước

- Sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của các nước đang phát triển khác như Campuchia, Myanmar, Bangladesh

- Tìm được niềm tin của người tiêu dùng nội địa với các sản phẩm

Trang 9

“made in Vietnam”

2 CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG 2.1 Qui mô doanh nghiệp

Theo số liệu điều tra năm 2006, có 597 doanh nghiệp trong ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan trên tổng số 131 246 doanh nghiệp được điều tra

Trong các doanh nghiệp trong ngành có 4 doanh nghiệp Nhà nước Trung ương, 7 doanh nghiệp Nhà nước địa phương, loại hình công ty TNHH tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn có vốn Nhà nước không quá 50% chiếm tỷ lệ nhiều nhất: 48,9% (292 doanh nghiệp)

Trong 597 doanh nghiệp sản xuất da và sản phẩm có liên quan, có 33 doanh nghiệp thuộc, sơ chế da, sơ chế và nhuộm da lông thú; 194 doanh nghiệp sản xuất vali, túi xách và các loại tương tự, sản xuất yên đệm; 371 doanh nghiệp sản xuất giày-dép (chiếm tỷ trọng lớn nhất là 62%)

2.2 Mức độ tập trung của ngành

 Tỉ lệ tập trung hóa CRm

Đây là tỉ lệ đo lường mức độ tập trung hóa của ngành

Trong đó: m là số lượng công ty lớn nhất trong ngành (thông thường m=4)

là doanh thu của công ty thứ i, Q là doanh thu của toàn ngành

là thị phần của doanh nghiệp thứ i

Tỉ lệ tập trung hóa CRm nằm trong khoảng [0,1] tỉ lệ này càng tiệm cận với giá trị 1 thì tỉ lệ tập trung hóa càng cao Tỉ lệ tập trung hóa CR chỉ tính đến các doanh nghiệp hàng đầu mà không tính đến các doanh nghiệp khác trong ngành.Để khắc phục điều này, các doanh nghiệp còn có thể sử dụng chỉ số Hirschman – Herfindahl để tính toán mức độ tập trung ngành

 Chỉ số HHI (Hirschman – Herfindahl Index)

Trang 10

Trong đó: n là số doanh nghiệp trong ngành

là thị thần của doanh nghiệp trong ngành Chỉ số HHI nằm trong khoảng [0, 10.000] Chỉ số này càng tiệm cận đến 10.000 thì mức độ phân tán ngành ngày càng thấp hay mức độ tập trung của ngành ngày càng cao

Tính toán chỉ số CR với 4 công ty có doanh thu lớn nhất năm 2006 có chỉ số tập trung

= 0,3 cùng thời gian này chỉ số HHI cho kết quả HHI = 378,163 < 1000 Những con số này cho thấy mức độ tập trung hóa của ngành sản xuất da và sản phẩm có liên quan không cao Điều này có thể lý giải vì trong giai đoạn này, các doanh nghiệp về da của nước ta mới chỉ chủ tập trung vào hoạt động gia công Trình độ giữa các doanh nghiệp không có sự chênh lệch lớn mà tương đối đồng đều; hình thức liên kết, sáp nhập chưa phổ biến nên vẫn thiếu những ông lớn thực sự chiếm lĩnh thị trường Rào cản thâm nhập thị trường chưa thật

sự khắt khe nên ngành còn nhiều doanh nghiệp ở quy mô vừa và nhỏ

2.3 Khoa học công nghệ

Tính đến 2006, tuy ngành sản xuất da và sản phẩm có liên quan có tốc độ phát triển cao về sản lượng, song về kỹ thuật, công nghệ, quản lý và thiết kế tạo mẫu sản phẩm vẫn phụ thuộc nhiều vào đối tác nước ngoài, việc ứng dụng công nghệ tiên tiến đang được thực hiện, cơ sở vật chất kỹ thuật trong lĩnh vực này mới được đầu tư hạn chế do nhiều doanh nghiệp chủ yếu vẫn làm gia công Khả năng đầu tư và chuyển giao ông nghệ mới phụ thuộc vào nguồn tài chính hạn hẹp, đội ngũ chuyên gia hiểu biết sâu và cập nhật công nghệ còn quá ít và chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của doanh nghiệp, do đó không phát huy được sức mạnh của Công nghệ mới và làm hạn chế hiệu quả đầu tư

Tuy nhiên gia đoạn này cũng ghi nhận một số doanh nghiệp tiềm năng đã đầu tư hoàn chỉnh hệ thống tự động hoá thiết kế, các dây chuyền sản xuất thử nghiệm phục vụ công tác

ra mẫu chào hàng đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách hàng, các nhà nhập khẩu Điển hình như Cty CP giày An Lạc, Cty CP giày Thái Bình và các Cty 100% vốn nước ngoài (Tea Kwang Vina, Shyang Hung Cheng, Pou Yuen, Pou Chen, Biti’s HCM, Biti’s Đồng Nai, giày Thượng Đình )

2.3 Cầu và điều kiện thị trường

Ngành sản xuất da và các ngành có liên quan là một nhành kinh tế kỹ thuật được thu hút bởi nhiều lao động, góp phần tạo ra công ăn việc làm cho xã hội, tham gia vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đáta nước thông qua việc đẩy mạnh xuất khẩu Vì vậy, nó có vai trò quan trọng trong giai đoạn đầu của quá trình phát

Trang 11

triển kinh tế xã hội ở Việt Nam Hiện nay, chính phủ quan tâm và coi ngành da và các ngành sản xuất có liên quan là ngành mũi nhọn trong chiến lược phát triển hàng công nghiệp tiêu dùng hướng ra xuất khẩu Hiện nay, ngành da giày các ngành sản xuất có liên quan củaViệt Nam đang đứng thứ 10 thế giới

Nhu cầu da sống ở các nước phát triển đang có xu hướng tăng mạnh Cho đến nay sản phẩm giày dép đang chiếm vị trí hàng đầu trong số các nhành hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU; tuy nhiên, đây lại là một thị trường khó tính, không dễ chinh phục Tạithịtrường

EU, Việt Nam là nước xuất khẩu giày dép đứng thứ hai sauTrungQuốc Bởi vậy, ngành da giàyViệt Nam chịu sức ép lớn từ ngành da giàyTrungQuốc

Dưới đây là bảng kim ngạch xuát khẩu mặt hàng da giày Việt Nam và tốc độ tăng trưởng của nó trong giai đoạn 2000-2006

Kim ngạch xuất khẩu da giày Việt Nam

Năm Kim ngạch xuất khẩu (triệu USD) Tốc độ tăng trưởng (%)

độ tăng trưởng khá cao Cho thấy nhu cầu ngày càng tăng về mặt hàng này Xong vào năm

2005, EU đã kiện Việt Nam bán phá giá hàng da giày khiến tố độ tăng trưởng của ngành có chiều hướng hơi chững lại trong năm 2005 và 2006 so với những năm trước đó Vào năm

2006, sau khi có phán quyết của EU về việc áp thuế chống bán phá giá 10% lên mặt hàng giày mũ da có xuất xứ từ Việt Nam nhưng lại áp mức thuế lên đến 16,5% lên mặt hàng giày

mũ da của Trung Quốc, đối thủ cạnh tranh đáng gờm của Việt Nam, thì tình hình xuất khẩu dần ổn định, nhiều khác hàng EU đã quay trở về Việt Nam đặt hàng khiến cầu tăng

2.4 Rào cản gia nhập ngành

Trang 12

Thứ nhất, thị trường ngành sản xuất da và các sản phẩm liên quan khá cạnh tranh

Theo số liệu thu thập được, có 597 doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành sản xuất da

và các sản phẩm có liên quan ở nước ta năm 2006 Số lượng doanh nghiệp sẵn có trên thị trường là khá lớn

Thứ hai, ngành đòi hỏi chi phí chi cho lao động cao Ngành sản xuất da và các sản phẩm liên quan là một ngành đòi hỏi nhiều về lao động do còn nhiều giai đoạn trong sản xuất da không thể tự động hóa được Ngay cả đối với các nước phát triển, ngành sản xuất

da và các sản phẩm liên quan vẫn tiêu tốn rất nhiều lao động Do vậy, lao động là một rào cản đối với các công ty mới hoặc muốn gia nhập vào ngành Qua đó, tạo gánh nặng trong việc chi trả chi phí tiền lương, bảo hiểm xã hội,… Song đối với một nước có nguồn lao động dồi dào như Việt Nam, vấn đề nguồn lao động lại là lợi thế thay vì bất lợi khi so sánh với các quốc gia khác

Thứ ba, nguyên vật liệu đầu vào chủ yếu được nhập khẩu từ nước ngoài Hiện ngành

da giày Việt Nam đứng thứ tư trong 8 nước xuất khẩu lớn nhất thế giới, chỉ sau Trung Quốc, Hongkong, Italia, thế nhưng 90% sản phẩm da giày Việt Nam là hàng gia công Do sản phẩm gia công luôn phải đáp ứng nhiều tiêu chuẩn cao từ nước đặt hàng nên thường các nguyên liệu đầu vào phải nhập khẩu từ nước ngoài, và chủ yếu là từ nước đặt hàng

Điều này khiến tăng chi phí và giảm lợi nhuận của doanh nghiệp

Thứ tư, nguyên liệu trong nước có chất lượng thấp Việt Nam có sẵn nguồn nguyên liệu từ việc chăn bò, heo Tuy nhiên tập quán chăn nuôi thiếu tập trung và chưa áp dụng triệt để những nguyên liệu thu được thường không đẹp, chất lượng thấp, buộc nhà sản xuất phải tốn thêm nhiều chi phí để xử lý da thuộc

3 HÀNH VI CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NGÀNH 3.1 Hành vi về giá

Các sản phẩm da của Việt Nam nhìn chung không có nhiều giá trị gia tăng do chủ yếu

là các sản phẩm gia công cho các thương hiệu nổi tiếng nước ngoài Chất lượng sản phẩm của ngành da và các ngành sản xuất liên quan của Việt Nam luôn bị đánh giá và định giá thấp hơn so với các sản phẩm tương tự của người hàng xóm Trung Quốc Bên cạnh đó, việc cạnh tranh với các sản phẩm của Trung Quốc, Ấn Độ… khổng chỉ ở thị trường trong nước mà còn ở thị trường nước ngoài khiến các sản phẩm da Việt Nam thực sự bị sức ép lớn về giá

Khuyến nghị

Trang 13

Ngành sản xuất da Việt Nam cần đầu tư nghiên cứu phát triển khoa học, công nghệ

để giảm bớt số lượng nhân công, giảm chi phí, tiền lương trong sản xuất, tạo lợi thế so với mặt hàng da của Trung Quốc, đồng thời tiêu chuẩn hóa sản phẩm của mình

Chính phủ cần đẩy mạnh xúc tiến thương mại để các sản phẩm da và các sản phẩm liên quan có thể dễ dàng tiếp cận các thị trường khác không chỉ EU, Mỹ, Nhật… Tăng kim ngạch xuất khẩu cho Việt Nam

Tiêu chuẩn và tập trung hóa phương thức chăn nuôi nhằm tạo nguồn da ổn định, chất lượng cao, giảm thiểu nhu cầu nhập khẩu da từ nước ngoài

Khuyến khích các ngành công nghiệp hỗ trợ nhằm tăng nguồn cung trong nước cho ngành

Đẩy mạnh công tác xây dựng thương hiệu các sản phẩm da của người Việt để chuyển đổi mô hình kinh doanh từ gia công sang mua đứt, bán đoạn Việc này một phần sẽ tăng giá trị cho sản phẩm da Việt Nam, mặt khác lịa giúp đem lại nhiều lợi nhuận hơn cho nhà sản xuất

3.2 Hoạt động nghiên cứu và phát triển

Ngành da giày chủ yếu là gia công cho thế giới nên thu về giá trị gia tăng không cao

Các trung tâm nghiên cứu phát triển (R&D) chưa được nhiều doanh nghiệp quan tâm đúng mức, trong khi đây lại chính là khâu đặc biệt quan trọng, tạo giá trị gia tăng lớn cho sản phẩm Nếu các doanh nghiệp Việt Nam làm chủ được khâu R&D thì sẽ nâng cao đáng kể giá trị trong cả chuỗi giá trị toàn ngành

Công tác R&D đòi hỏi một lực lượng lao động có trình độ cao Trong khí đó, theo số liệu năm 2006, nhìn chung lao động trong ngành sản xuất da và sản phẩm có liên quan có trình độ văn hoá mức phổ thông trung học chiếm tỷ lệ cao nhất: 66%; tỷ lệ đại học và trên

đại học chỉ chiếm khoảng 5% Sự thật thì lực lượng chuyên gia cũng như kiến thức và cập

nhật công nghệ còn ít ỏi và cũng chưa đạt đến nhu cầu phát triển kinh doanh Thêm vào đó, khả năng đàm phán để kí hợp đồng công nghệ cũng không mở rộng Đây là một trong những lí do khiến năng suất lao động cũng như hiệu quả sản xuất của ngành này bị hạn chế

Ngày đăng: 11/10/2022, 06:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Cổng thông tin điện tử Bộ Công thương, 2014, "Phát triển ngành công nghiệp thuộc da Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế", truy cập ngày 17/03/2019, http://www.moit.gov.vn/CmsView-EcoIT-portlet/html/print_cms.jsp?articleId=102826 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển ngành công nghiệp thuộc da Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Cổng thông tin điện tử Bộ Công thương
Nhà XB: Cổng thông tin điện tử Bộ Công thương
Năm: 2014
2. Chế Hân, 2017, Giải bài toán khó cho ngành da giày, truy cập ngày 17/03/2019, http://www.sggp.org.vn/giai-bai-toan-kho-cho-nganh-da-giay-443592.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải bài toán khó cho ngành da giày
Tác giả: Chế Hân
Nhà XB: Sài Gòn Giải Phóng
Năm: 2017
5. Nguyễn Minh Phong, 2017, Ngành da giày Việt Nam: Hướng và giải pháp phát triển trong tình hình mới, truy cập ngày 17/03/2019, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/kinh-te/2017/45401/Nganh-da-giay-Viet-Nam-Huong-va-giai-phap-phat-trien-trong.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành da giày Việt Nam: Hướng và giải pháp phát triển trong tình hình mới
Tác giả: Nguyễn Minh Phong
Năm: 2017
6. Lý Hoàng Thư, 2007, Đáng giá năng lực xuất khẩu của ngành da giày Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí Khoa học Việt Nam trực tuyến, tr70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đáng giá năng lực xuất khẩu của ngành da giày Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Lý Hoàng Thư
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Việt Nam trực tuyến
Năm: 2007
7. Thư viện pháp luật, 2006, Quyết định về việc ban hành ngành Da-Giày, truy cập ngày 17/03/2019, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Linh-vuc-khac/Quyet-dinh-15-2006-QD-BCN-3-tieu-chuan-nganh-Da-Giay-12554.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định về việc ban hành ngành Da-Giày
8. TTXVN/ Việt Nam Plus, 2018, Hiệp hội da giày: Thực hiện CPTPP kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng mạnh mẽ, truy cập ngày 17/03/2019, http://www.trungtamwto.vn/chuyen-de/12154-hiep-hoi-da-giay-thuc-hien-cptpp-kim-ngach-xuat-khau-se-tang-manh-me Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp hội da giày: Thực hiện CPTPP kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng mạnh mẽ
3. Thuý Lan, 2018, Cụm công nghiệp hỗ trợ đẩy mạnh ngành công nghiệp da giày Việt Nam, truy cập ngày 17/03/2019, https://vtv.vn/kinh-te/cum-cong-nghiep-ho-tro-day-manh-nganh-cong-nghiep-da-giay-viet-nam-20180824223358002.htm4.Hằng Nga, 2017, Thách thức tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, truy cập ngày Khác
9. Nha Trang, 2018, Ngành da giày Việt Nam khó "cất cánh", truy cập ngày 17/03/2019, http://enternews.vn/nganh-da-giay-viet-nam-kho-cat-canh-140352.html10. Xuân Tuyến, 2016, Cần rà soát, điều chỉnh chính sách để phát triển ngành da giày, truy cập ngày 17/03/2019, http://baochinhphu.vn/Hoat-dong-cua-lanh-dao-Dang-Nha-nuoc/Can-ra-soat-dieu-chinh-chinh-sach-de-phat-trien-nganh-da-giay/292492.vgp Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng phân công công việc: - (Tiểu luận FTU) báo cáo PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGÀNH sản XUẤT DA và các sản PHẨM có LIÊN QUAN
Bảng ph ân công công việc: (Trang 2)
Bảng chấm chéo đóng góp của các thành viên vào bài tiểu luận: - (Tiểu luận FTU) báo cáo PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGÀNH sản XUẤT DA và các sản PHẨM có LIÊN QUAN
Bảng ch ấm chéo đóng góp của các thành viên vào bài tiểu luận: (Trang 2)
Dưới đây là bảng kim ngạch xuát khẩu mặt hàng da giàyViệt Nam và tốc độ tăng trưởng của nó trong giai đoạn 2000-2006 - (Tiểu luận FTU) báo cáo PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGÀNH sản XUẤT DA và các sản PHẨM có LIÊN QUAN
i đây là bảng kim ngạch xuát khẩu mặt hàng da giàyViệt Nam và tốc độ tăng trưởng của nó trong giai đoạn 2000-2006 (Trang 11)
Theo bộ số liệu điều tra doanh nghiệp năm 2006, tình hình xử lý chất thải của các doanh nghiệp ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan năm 2006 được thể hiện qua  bảng sau:  - (Tiểu luận FTU) báo cáo PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGÀNH sản XUẤT DA và các sản PHẨM có LIÊN QUAN
heo bộ số liệu điều tra doanh nghiệp năm 2006, tình hình xử lý chất thải của các doanh nghiệp ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan năm 2006 được thể hiện qua bảng sau: (Trang 16)
Bảng: Một số chi tiêu cơ cấu vốn của một số doanh nghiệp có doanh thu cao nhất và toàn ngành da và sản xuất các sản phẩm về da năm 2006  - (Tiểu luận FTU) báo cáo PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGÀNH sản XUẤT DA và các sản PHẨM có LIÊN QUAN
ng Một số chi tiêu cơ cấu vốn của một số doanh nghiệp có doanh thu cao nhất và toàn ngành da và sản xuất các sản phẩm về da năm 2006 (Trang 18)
Qua bảng số liệu trên ta có thể rút ra một vài nhận xét như sau: - (Tiểu luận FTU) báo cáo PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGÀNH sản XUẤT DA và các sản PHẨM có LIÊN QUAN
ua bảng số liệu trên ta có thể rút ra một vài nhận xét như sau: (Trang 19)
Bảng: Hiệu quả sử dụng vốn năm 2006 của các doanh nghiệp 3 nhóm ngành và của toàn ngành:  - (Tiểu luận FTU) báo cáo PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGÀNH sản XUẤT DA và các sản PHẨM có LIÊN QUAN
ng Hiệu quả sử dụng vốn năm 2006 của các doanh nghiệp 3 nhóm ngành và của toàn ngành: (Trang 20)
Bảng: Chỉ số vòng quay tổng tài sản của các doanh nghiệp trong mỗi nhóm ngành và của toàn ngành:  - (Tiểu luận FTU) báo cáo PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGÀNH sản XUẤT DA và các sản PHẨM có LIÊN QUAN
ng Chỉ số vòng quay tổng tài sản của các doanh nghiệp trong mỗi nhóm ngành và của toàn ngành: (Trang 21)
Qua bảng số liệu trên ta thấy chỉ số vòng quay tổng tài sản của từng nhóm trong ngành là không đồng đều thể hiện sự mất cân xứng cơ cấu hoạt động của các doanh nghiệp - (Tiểu luận FTU) báo cáo PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGÀNH sản XUẤT DA và các sản PHẨM có LIÊN QUAN
ua bảng số liệu trên ta thấy chỉ số vòng quay tổng tài sản của từng nhóm trong ngành là không đồng đều thể hiện sự mất cân xứng cơ cấu hoạt động của các doanh nghiệp (Trang 21)
Qua bảng phân tích số liệu trên ta có một số nhận xét sau: - (Tiểu luận FTU) báo cáo PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGÀNH sản XUẤT DA và các sản PHẨM có LIÊN QUAN
ua bảng phân tích số liệu trên ta có một số nhận xét sau: (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w