Trong cuốn giáo trình Cơ sở văn hoá Việt Nam, nhà ngôn ngữ học Trần Ngọc Thêm định nghĩa văn hoá: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
-ωOω -TIỂU LUẬN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐCSVN
Đề tài
BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ
TRONG THỜI KÌ HỘI NHẬP
Giáo viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Thuỷ Nhóm thực hiện: Nhóm 7- TRI106.1
7 Đỗ Thu
Hà Nội, Tháng 12/2016
Trang 25 Nguyễn Thị Thùy Linh 1515510059
6 Nguyễn Thị Bảo Ngân 1511110563
7 Đậu Thị Quỳnh Như 1515510090
8 Trần Thu Phương 1515510100
9 Nguyễn Ngọc Sơn 1515510108
10 Phạm Anh Thư 1515510122
Trang 3MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA VÀ BẢO TỒN VĂN HÓA 2
I KHÁI NIỆM 2
1.1.Văn hóa 2
1.2 Phân loại di sản văn hóa 3
1.3.Quan điểm về bảo tồn di sản văn hóa 4
II QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA 5
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ VIỆC BẢO TỒN, PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TRONG THỜI KÌ HỘI NHẬP 7
I DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CỦA VIỆT NAM TRƯỚC THỜI KÌ HỘI NHẬP 7
II DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ HỘI NHẬP 11
2.1.Những thành tựu trong công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam hiện nay 13
2.2.Những hạn chế trong công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở Việt Nam hiện nay 13
CHƯƠNG III: NHỮNG ĐỀ XUẤT TRONG VIỆC BẢO TỒN, PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TRONG THỜI KÌ HỘI NHẬP 16
I ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG TRONG VIỆC BẢO TỒN, PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 16
II ĐỀ XUẤT MỘT SỐ CHÍNH SÁCH, CHỦ TRƯƠNG TRONG VIỆC PHÁT HUY BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 22
2.1.Đề xuất một số chính sách, chủ trương việc phát huy bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể 22
2.2.Trách nhiệm của sinh viên đối với việc phát huy bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể 25
KẾT LUẬN 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Hội nhập hiện đang là xu thế tất yếu, một vấn đề lớn trong sự phát triển củanhân loại trên tất cả các lĩnh vực Ở lĩnh vực văn hóa, xu thế toàn cầu hóa thểhiện rất rõ trong quá trình giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa, trong mối quan
hệ đa chiều về văn hóa ngày càng mạnh mẽ của các quốc gia trên toàn thế giới
Sự bùng nổ của phương tiện truyền thông đại chúng, sự hình thành và lan truyềnnhiều loại hình văn hóa, sự xuất hiện và truyền bá nhiều lối sống, cách sốngkhác nhau…đã và đang một mặt tạo cơ hội cho việc giao lưu, tiếp biến văn hóa,song mặt khác lại đặt ra những thách thức mới cho việc bảo vệ bản sắc văn hóadân tộc, tộc người
Nếu không có một bản lĩnh vững vàng, một chiến lược phát triển văn hóađúng đắn thì việc mở cửa giao lưu sẽ dẫn đến nguy cơ sùng ngoại, đánh mất bảnsắc văn hóa dân tộc, văn hóa chỉ còn là bản sao vụng về, mờ nhạt của một thứvăn hóa vay mượn, ngoại lai, khi đó chúng ta sẽ bị “hoà tan” mất hút trong cáibiển văn hoá của thế giới
Khác với nền văn hóa vật thể, trong quá trình hội nhập, ta có thể dễ dàngnhận thấy sự thay đổi, chuyển biến của chúng Nhưng đối với nền văn hóa phivật thể thì không, chúng dường như dần bị mai một hay thậm chí mất đi khichúng ta bị xoáy vào quá trình hội nhập mà quên mất những truyền thống,những di sản mà ông cha ta đã để lại bao đời này
Nhận thức được điều đó, vì vậy nhóm 7 chúng em quyết định chọn đề tài:
“Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể trong thời kì toàn cầu hóa”
Qua đề tài này, chúng em không chỉ làm rõ thực trạng về nền di sản vănhóa phi vật thể của nước ta, mà còn nhìn nhận, đánh giá về Đường lối của ĐảngCộng Sản Việt Nam Qua đó, đề ra những giải pháp và liên hệ bản thân mình đểgóp phần bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp đó
Trang 5NỘI DUNG
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA VÀ
BẢO TỒN VĂN HÓA
I KHÁI NIỆM 1.1 Văn hóa Theo quan điểm của UNESCO, văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể
những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tínhcách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hoá bao gồmnghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người,những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng
Trong cuốn giáo trình Cơ sở văn hoá Việt Nam, nhà ngôn ngữ học Trần
Ngọc Thêm định nghĩa văn hoá: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật
chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thựctiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”
Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong
quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vàoviệc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa đượctruyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóađược tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của conngười Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiệntrong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũngnhư trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra
1.2 Phân loại di sản văn hóa
a Khái niệm
Luật Di sản văn hoá của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác
định: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật
thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được
Trang 6lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa ViệtNam”
b Phân loại di sản văn hóa
• Di sản văn hóa vật thể:
Là các giá trị văn hóa tồn tại một cách hữu linh, con người có thể nhận biếtmột cách cảm tính, trực tiếp qua các giác quan ( cung điện, chùa tháp, hiện vậttrưng bày trong bảo tàng, thắng cảnh thiên nhiên…) có giá trị văn hóa, lịch sữ,khoa học được cộng đồng dân tộc, nhân loại thừa nhận
Di sản văn hóa vật thể luôn đứng trước nguy cơ biến dạng hoặc thay đổi rấtnhiều so với nguyên gốc
• Di sản văn hóa phi vật thể:
Luật Di sản văn hoá của Việt Nam phân loại di sản văn hóa phi vật thểđược định nghĩa như sau:
“Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và các tri thức dân gian khác.”
Cũng giống như di sản văn hóa vật thể, các hiện tượng văn hóa phi vật thểcũng có thể bị mai một, biến dạng, hoặc mất đi vĩnh viễn bởi thử thách của thời
gian, bởi sự vô ý thức của con người.
1.3 Quan điểm về bảo tồn di sản văn hóa
Theo từ điển Tiếng Việt: “bảo tồn là giữ lại không để cho mất đi”, còn
“phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa sáng tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm” Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng
thức vốn có của nó Bảo tồn là không để mai một, không để bị thay đổi, biến hóa
Trang 7Quan điểm về bảo tồn di sản văn hóa là cách nhìn nhận, cách thức thực
hiện và đường lối để bảo tồn các di sản văn hóa Di sản văn hóa là loại tài sảnquý giá không thể tái sinh và không thể thay thế nhưng rất dễ bị biến dạng do tácđộng của các yếu tố ngoại cảnh (khí hậu, thời tiết, thiên tai, chiến tranh, sự pháttriển kinh tế một cách ồ ạt, sự khai thác không có sự kiểm soát chặt chẽ, và cuốicùng là việc bảo tồn, trùng tu thiếu chuyên nghiệp không theo đúng nhữngchuẩn mực khoa học v.v….)
Vì vậy quan điểm về bảo tồn di sản văn hóa có vai trò rất quan trọng vì nó
tạo tiền đề cho việc hoạch định các cơ chế, chính sách và ban hành các quyếtđịnh liên quan tới các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa vì bảnthân thế hệ chúng ta hôm nay, vì tổ tiên, cha ông và các bậc tiền bối, đồng thờicòn vì các thế hệ mai sau Thêm nữa quan điểm đúng đắn về bảo tồn di sản vănhóa cũng sẽ có tác dụng tích cực thúc đẩy quá trình phát triển đất nước và hộinhập quốc tế
II QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủCộng hòa ra đời Ngay sau khi giành được chính quyền, Đảng và Nhà nước ta đãrất quan tâm đến giữ gìn di sản văn hóa dân tộc Ngày 23/11/1945 Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã lập tức ký và công bố Sắc lệnh số 65/SL về bảo tồn cổ tích trên
toàn cõi Việt Nam Công cuộc đổi mới với những thay đổi sâu sắc nhất bắt đầu
từ lĩnh vực kinh tế, ở đó, thay vì nền kinh tế quan liêu, bao cấp, Đảng và Nhànước ta đã chủ trương thực hiện phát triển nền kinh tế thị trường nền kinh tếvận hành theo cơ chế thị trường, có nhiều thành phần tham gia theo định hướng
xã hội chủ nghĩa
Trong điều 30, Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 1992 quy định rõ rằng: “Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn
hóa Việt Nam: dân tộc, hiện đại, nhân văn; kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí
Trang 8Minh; tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân
Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hóa Nghiêm cấm truyền bá tư tưởng và văn hóa phản động, đồi trụy; bài trừ mê tín, hủ tục”
Tháng 11/1993, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII họp Hội nghịlần thứ IV đã dành riêng một Nghị quyết về một số nhiệm vụ văn hóa văn nghệtrong những năm trước mắt Trong sáu định hướng về công tác tư tưởng, có một
định hướng lớn là phát triển văn hóa với hai nội dung cơ bản là phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
Trên tinh thần Nghị quyết Trung ương V khóa VIII, hàng loạt các giải phápxây dựng và phát triển văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần cho người dân đã rađời
Chỉ thị số 27CT/TW ngày 12/01/1998, của Bộ Chính trị Ban Chấp hành
Trung ương Đảng về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việctang, lễ hội
Chỉ thị số 14/1998/TCTTg ngày 28/3/1998 của Thủ tướng Chính phủ về
việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới hỏi, việc tang, lễ hội
Luật Di sản văn hóa được Quốc hội khóa 10, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày
14/6/2001, có hiệu lực từ ngày 01/01/2002 là cơ sở pháp lý cao nhất nhằm bảo
vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam Với các điều khoản cụ thể, rõràng hơn so với các văn bản dưới luật khác, phạm vi điều chỉnh của bộ luật trêngiờ đây đã bao gồm cả văn hóa phi vật thể và văn hóavật thể, quy định cụ thểviệc kiểm kê, sưu tầm vốn văn hóa truyền thống của người Việt và các tộc ngườithiểu số; bảo tồn các làng nghề truyền thống, các tri thức về y, nghệ sĩ bậc thầytrong các ngành, nghề truyền thống Luật Di sản văn hóa cũng có những quyđịnh về quản lý bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản văn hóa và trách nhiệmcủa Nhà nước trong việc cung cấp ngân sách cho hoạt động bảo vệ và phát huy
di sản văn hóa
Trang 9CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ VIỆC BẢO TỒN, PHÁT HUY DI SẢN
VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TRONG THỜI KÌ HỘI NHẬP
I DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CỦA VIỆT NAM TRƯỚC THỜI
KÌ HỘI NHẬP
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, với những thăng trầm trong sự nghiệpdựng nước giữ nước, chính thời gian với những dấu mốc đặc biệt ấy đã dần hìnhthành nên những di sản văn hóa phi vật thể rất riêng của dân tộc Việt Nam Disản văn hóa phi vật thể không chỉ gắn bó với các chủ thể văn hóa mà còn hòaquyện vào không gian sinh thái - nhân văn, nơi chúng được sáng tạo ra và đanghiện diện, tiến diễn trong đời sống đương đại của cộng đồng Chúng vừa hàmchứa những nhân tố mang tính lịch sử, đồng thời vừa mang hơi thở của thời đại
Điều đó còn có nghĩa là, di sản văn hóa phi vật thể được sáng tạo ra, được bảolưu và chuyển giao qua nhiều thế hệ là cả một quá trình sàng lọc và sáng tạokhông ngừng nghỉ Các thế hệ dòng dõi cứ thế, tiếp nối lưu truyền, thừa hưởngcác di sản văn hóa phi vật thể do cha ông để lại
Trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc để thoát khỏi ách nô lệ, chínhnhững nền văn hóa của nước đô hộ đã ảnh hưởng phần nào đến việc hình thànhnên những di sản văn hóa phi vật thể, ảnh hưởng mãnh mẽ nhất có thể nói đó làvăn hóa từ người Hoa Những người dân Việt Nam vẫn luôn biết cách sáng tạo,làm ra chất riêng nét đẹp riêng từ chính những nền tảng vốn có, góp phần làmphong phú kho tàng di sản văn hóa của dân tộc Đó là con đường phù hợp vớiquy luật sáng tạo và phát triển của các giá trị văn hóa phi vật thể
Với một đất nước mà nông dân chiếm khoảng 70% dân số thì phương thứcsáng tạo của những di sản văn hóa phi vật thể chính là truyền miệng, sự tồn tạicủa bản thân những sáng tác ấy cũng sẽ là truyền miệng, dạng thức tồn tại bằngvăn bản của các di sản văn hóa phi vật thể không nhiều Bởi vậy, nhiều nhànghiên cứu văn hóa hay nói tới dạng thức tồn tại trong tâm thức các thế hệ conngười của nó Đặt những di sản văn hóa phi vật thể ấy trong tương quan với chủ
Trang 10thể sáng tạo, chúng ra sẽ rút ra được nhiều điều bổ ích cho công tác sưu tầm,nghiên cứu lẫn bảo tồn và phát huy.
Thời kì này mới chỉ hình thành những triết lý văn hóa, hay còn gọi là lối tưduy văn hóa Việt Nam Đó là thiên về hòa đồng, thái độ bao dung và cởi mởtrong ứng xử văn hóa với thiên nhiên và xã hội Chủ nghĩa yêu nước theo tinhthần “không có gì quý hơn độc lập tự do” cũng là một giá trị văn hóa truyềnthống nổi trội đã luôn được phát huy, góp phần làm nên sức mạnh văn hóa củaViệt Nam Theo quan niệm bấy giờ, ba trụ cột quan trọng cũng là 3 thành tố cấuthành văn hóa Việt Nam là: Gia đình - Làng - Nước Mỗi người Việt Nam đềusống trong quan hệ chặt chẽ giữa Nhà (gia đình) với Làng xã và Nhà nước, đồngthời, tạo ra cơ chế điều hành và điều hòa mềm mỏng mối quan hệ đó cũng là mặtgiá trị văn hóa phi vật thể tiêu biểu Trong văn hóa làng xã, ý thức liên kết cộngđồng, đạo lý uống nước nhớ nguồn là giá trị văn hóa truyền thống được thể hiệnrất đậm nét ý thức liên kết cộng đồng tạo ra cơ chế tự quản làm cơ sở nảy sinhcác hương ước đối với các làng ở đồng bằng và luật tục đối với các bản tộcngười vùng cao Trong hương ước và luật tục, chúng ta tìm thấy những nếpsống, tập quán, đời sống tâm linh - những hạt nhân văn hóa rất đáng trân trọng
Có thể coi đây là nguồn gốc tạo ra sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong thời đạimới
Các loại hình di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu mà chúng ta hiện có trongtay như: Nhã nhạc cung đình Huế, Nghệ thuật Ca trù Việt Nam, không gian vănhóa Dân ca quan họ Bắc Ninh, Không gian văn hóa Sử thi Tây Nguyên, Nghệthuật Chèo, Tuồng và Cải lương Nam Bộ… chắc chắn cũng hàm chứa nhữngdấu ấn sáng tạo qua nhiều giai đoạn lịch sử chứ không thể còn nguyên như lúcchúng mới được sáng tạo Trong quá trình phát triển, sáng tạo hay còn gọi là
“cải biên” các loại hình nghệ thuật truyền thống như thế, có cái chúng ta đã làmđúng, cũng có cái sai nhiều hoặc sai ít, nhưng nhất quyết là phải sáng tạo vàthích nghi cho phù hợp với nhu cầu xã hội hiện đại thì mới được chấp nhận vàtiếp tục tồn tại, phát triển trong tương lai Còn ngược lại hoặc bảo thủ, cứng
Trang 11nhắc tất yếu sẽ bị đào thải, loại trừ, thậm trí tàn lụi Lịch sử và văn hóa là nhưthế, chúng không chấp nhận sự đông cứng và bất biến
Điều mà thời kì này đã làm rất tốt đó là hình thành một nền nóng tư tưởngvăn hóa rất vững chắc Chính những di sản văn hóa phi vật thể sau này đã dựatrên nền móng này để có thể vươn xa và tạo nên nét riêng những văn hóa phi vậtthể đáng tự hào cho dân tộc Việt Nam Người dân tuy bị ảnh hưởng từ nhiều nềnvăn hóa nhưng đã không hề làm mất đi tinh thần dân tộc, mà luôn cố gắng từngngày để thoát khỏi những cái bóng văn hóa trong lịch sử để khẳng định mình Ởmiền Bắc, may mắn nhất chính là loại hình ca trù Có thể nói, trong quá khứ, disản này từng rất phát triển, từ trong cung đình ra đến các tầng lớp dân gian Thếnhưng, chiến tranh đã làm cho loại hình này gần như bị biến mất Số nghệ nhânhát ca trù đã nằm trong báo động đỏ khi kiếm nhiều làng mới tìm được người ca,còn người cầm trống thì có khi cả vùng mới có lấy một người trước thời kì hộinhập, loại hình này cũng đã được chú ý đến để phục hồi nhưng chưa thực sựđem lại hiệu quả
Nhưng trước đây, người dân nhận thức chưa đầy đủ về di sản văn hóa phivật thể, mới chỉ coi nó là một bộ phận mang tính chức năng của di sản văn hóavật thể mà không phải là một dạng di sản có tính độc lập tương đối Vì thế, việcbảo vệ và phát huy giá trị chưa được quan tâm thỏa đáng, dẫn đến tình trạngnhiều giá trị văn hóa phi vật thể bị biến dạng và thậm chí còn bị mai một, thấttruyền
Có thể thấy sự mai một khá rõ của một số loại hình di sản như truyền khẩu,tri thức dân gian, nghệ thuật trình diễn và tập quán xã hội Điển hình như: tiếnglóng ở làng Đa Chất (Phú Xuyên); hát Trống quân (Phú Xuyên,Thường Tín,Phúc Thọ), hát Tuồng cổ (Chương Mỹ)… Ngoài ra, sự thu hẹp, biến đổi khônggian văn hoá làm biến đổi thực hành di sản Hay những bất cập về nhận thứctrong công tác quản lý dẫn đến tác động làm sai lệch giá trị di sản Trong khi đó,
số lượng người thực hành ngày càng ít đi nên việc trao truyền di sản ngày càngkhó khăn hơn Mặt khác, nguồn nhân lực cho quản lý di sản rất thiếu, năng lực
Trang 12hạn chế, chưa có điều kiện đào tạo và tập huấn thường xuyên trong khi nguồn tàichính hỗ trợ cộng đồng phục hồi, bảo tồn và trao truyền di sản rất ít, khôngthường xuyên.
Nước ta lại bị chiến tranh kéo dài tàn phá nặng nề, nên sau khi giành đượcđộc lập, thống nhất nước nhà, hòa bình trở lại, ưu tiên hàng đầu của Nhà nước
và nhân dân là phát triển kinh tế, nâng cao đời sống để thoát nghèo Tuy nhiên,tập trung phát triển kinh tế trong khi chưa xây dựng hoàn thiện hành lang pháp
lý về bảo vệ di sản, ý thức chấp hành luật pháp và nhận thức của cộng đồng vềbảo tồn di sản văn hóa trong phát triển chưa đầy đủ rất dễ dẫn đến tình trạngphát triển không bền vững Hơn nữa, di sản văn hóa vật thể của Việt Nam phầnlớn làm bằng chất liệu hữu cơ, lại bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, thiên tai và
do sự quan tâm không đầy đủ của con người qua hàng trăm năm Vì vậy, sự pháttriển kinh tế càng mạnh, dân số tăng càng nhanh thì nhu cầu khai thác, xâydựng, sản xuất ngày càng lớn
Việc bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể luôn gắn với con người - chủ thể của
di sản Hay nói một cách khác, di sản văn hoá phi vật thể được thể hiện thôngqua thực hành của chủ thể Vì vậy, tiếp cận quản lý, bảo vệ di sản văn hoá phivật thể luôn gắn với vai trò, sự tham gia của cộng đồng/chủ thể nắm giữ di sản
đó Không có sự quản lý trung gian thoát ly cộng đồng Quản lý di sản văn hoáphi vật thể là mối quan hệ quản lý từ cộng đồng, chủ thể tới các cơ quan quản lývăn hoá các cấp
II DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI
Trang 13đã có 3 di sản phi vật thể được UNESCO đưa vào Công bố những kiệt tác vănhóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại, đó là: Nhã nhạc cung đình Huế(2003); Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên (2005); Hát xoan PhúThọ (2011).
Tuy nhiên, trong thời kỳ đổi mới, chuyển đổi sang cơ chế thị trường vànhất là trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay, vấn đề bảo tồn và phát huy vănhóa dân tộc bắt đầu nảy sinh những khó khăn, xu hướng thương mại hóanghệ thuật dân tộc đang lan ra trên khắp các sân khấu biểu diễn Các loại hìnhnghệ thuật truyền thống như tuồng, chèo, cải lương, quan họ, dân ca kịch ngàycàng lún sâu vào bế tắc, không có hoặc rất ít khán giả, nhất là khán giả trẻ
Ðể thu hút người xem, nhiều đơn vị nghệ thuật phải chuyển đổi phương thứcxây dựng tiết mục, cụ thể là cải tiến, cách tân, làm mới sân khấu truyền thông,biến tuồng, chèo, cải lương thành kịch nói pha bài ca; âm nhạc hiện đại chiếm
tỷ lệ áp đảo trong các dàn nhạc truyền thống Chưa kể là hình thức trang trí,phục trang ngày càng xa với nguyên tắc cách điệu, ước lệ và tượng trưng mà cácthế hệ nghệ nhân trước đây đã dày công sáng tạo và đúc kết thành đặc trưng, thipháp nghệ thuật đặc sắc và độc đáo của dân tộc ta mà thế giới phải chú
ý, khâm phục, ngợi ca
Trên cơ sở kiểm kê các số lượng các di sản văn hóa phi vật thể, Nhà nước
đã tiến hành các điều tra cụ thể về thực trạng một số loại hình văn hóa phi vậtthể, nguyên nhân khiến nó bị mai một hay đang được phát huy, tâm tư, nguyệnvọng của nhân dân đối với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Trongkhuôn khổ công việc tổng kiểm kê này, Nhà nước ưu tiên 2 loại hình di sản vănhóa phi vật thể, đó là các loại hình văn hóa phi vật thể đang có nguy cơ mai một,phải bảo vệ khẩn cấp và ưu tiên các huyện vùng sâu, vùng xa, bao gồm tiếngnói, chữ viết của các dân tộc có trên địa bàn, ngữ văn dân gian, nghệ thuật trìnhdiễn dân gian, tập quán xã hội, lễ hội truyền thống, nghề thủ công truyền thống,tri thức dân gian Điển hình như ca trù, sau khi được đưa vào danh sách “di sản
Trang 14thế giới cần được bảo tồn khẩn cấp” thì Sở VHTT&DL cũng đã có kế hoạch bảo
vệ và phát huy môn nghệ thuật này và trình lên UNESCO vào tháng 12/2013
Lĩnh vực văn hóa phi vật thể của đồng bào dân tộc thiểu số đã được quantâm bảo tồn, khôi phục và phát huy Các lễ hội truyền thống, diễn xướng, tròchơi dân gian, phong tục, tập quán, nếp sống đẹp của đồng bào đã và đang đượctích cực nghiên cứu, sưu tầm, khôi phục, bảo vệ Nhiều dự án, đề tài nghiên cứukhoa học đã được đầu tư nghiên cứu và đề ra những giải pháp có tính thực tiễnnhư dự án “Điều tra, khôi phục sưu tầm và bảo tồn múa Chuông, múa Rùa vàmột số diễn xướng dân gian liên quan đến lễ hội người Dao Phú Thọ”; đã tạosức sống mãnh liệt cho các lễ hội truyền thống của đồng bào dân tộc Mường,Dao, Cao Lan như: Tết nhảy của dân tộc Dao quần chẹt (xã Nga Hoàng, huyệnYên Lập),
Riêng đối với di sản thế giới, Nhà nước còn có những cơ chế riêng về tàichính, như bố trí lại các nguồn thu cho các di sản thế giới nhằm tạo sự chủ độngcho các hoạt động của di sản thế giới Chính vì vậy, các di sản thế giới có điềukiện được bảo tồn phát huy giá trị nhiều hơn so với khi chưa trở thành di sản thếgiới và các di sản khác trong cả nước Nhờ những nỗ lực đó, bộ mặt của các disản thế giới ngày càng được cải thiện, nhiều bộ phận của di sản thế giới đã đượcbảo quản, tu bổ và phục hồi, di sản thế giới ngày càng trở nên hấp dẫn hơn
2.1 Những thành tựu trong công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam hiện nay
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và giao lưu hộinhập quốc tế, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương đường lối vàchính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể nhằm nâng caođời sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Trong những năm qua, nhiều sáng kiến nhằm phục hồi các hoạt động văn hóaphi vật thể được thể nghiệm, nhiều cuộc trình diễn văn hóa truyền thống, vănnghệ dân gian được tổ chức, nhiều sản phẩm thủ công truyền thống cũng có dịp