Những phát hiện quan trọng gồm có: Ngành Dịch vụ lưu trú của ViệtNam năm 2010 có tỉ lệ tập trung ở mức trung bình, được cấu thành chủ yếu bởi cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ, tồn tại nhiều kh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
******
BÁO CÁO TỔ CHỨC NGÀNH
PHÂN TÍCH BẢN CHẤT NGÀNH DỊCH VỤ LƯU TRÚ
CỦA VIỆT NAM NĂM 2010
Giảng viên hướng dẫn: TS Vũ Thị Mai Phương Sinh viên thực hiện:
Trang 2MỤC LỤC
TÓM LƯỢC 2
LỜI MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG CHÍNH 4
A Phân tích bản chất ngành 4
I Thông tin dữ liệu 4
II Cấu trúc thị trường 5
1 Quy mô doanh nghiệp 5
2 Mức độ tập trung của ngành 7
3 Khoa học công nghệ 9
4 Cầu và điều kiện thị trường 10
5 Khả năng gia nhập thị trường 11
III Hành vi doanh nghiệp 13
1 Hành vi định giá 14
2 Hành vi liên kết và sáp nhập 15
3 Quảng cáo 16
IV Đánh giá hiệu quả hoạt động 16
1 Đánh giá hiệu quả hoạt động thông qua các chỉ số về lợi nhuận 17
2 Đánh giá hiệu quả hoạt động dựa vào năng suất lao động 18
B Mức độ tập trung của ngành 20
C Mô hình hồi quy SCP 21
I Lý thuyết và lựa chọn biến 21
1 Lý thuyết 21
2 Lựa chọn biến 22
II Hồi quy mô hình 23
KẾT LUẬN 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
PHỤ LỤC 26
Trang 3TÓM LƯỢC
Trong chuyên đề nghiên cứu và tìm hiểu về kinh tế ngành, Báo cáo “Phân tích
bản chất ngành Dịch vụ lưu trú của Việt Nam năm 2010” của nhóm nghiên cứu đã sử
dụng các công cụ phân tích để tính toán những chỉ số và đưa ra nhận xét về bản chấtngành lựa chọn Những phát hiện quan trọng gồm có: Ngành Dịch vụ lưu trú của ViệtNam năm 2010 có tỉ lệ tập trung ở mức trung bình, được cấu thành chủ yếu bởi cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ, tồn tại nhiều khả năng gia nhập thị trường cho các doanhnghiệp muốn hoạt động trong ngành Các doanh nghiệp trong phạm vi nghiên cứu tồntại ít sự khác biệt trong những chiến lược kinh doanh do đều ở giai đoạn mới thànhlập Các chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tuy chưa tích cực nhưng
có nhiều tiềm năng để cải thiện trong tương lai Đặc biệt, nghiên cứu chỉ ra mối quan
hệ mật thiết giữa sự phát triển của du lịch Việt Nam với ngành Dịch vụ lưu trú Đây sẽ
là tiền đề để có những chiến lược phát triển liên ngành trong tương lai Cuối cùng,nghiên cứu xây dựng mô hình kinh tế lượng theo khung SCP và chỉ ra được có tồn tạitác động qua lại giữa ba yếu tố đặc trưng của ngành, đó là: Cấu trúc thị trường, Hành
vi doanh nghiệp và Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Thành viên nhóm nghiên cứu:
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự gia tăng nhanh chóng của dân số Việt Nam, kéo theo đó là nhu cầu
về nơi ở, di chuyển ngắn ngày và nhu cầu nghỉ dưỡng tăng cao một cách mạnh mẽ,điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng và phát triển của nhiều ngành
dịch vụ, trong đó có ngành Dịch vụ lưu trú Có thể nói, các ngành dịch vụ đang ngày
càng đóng góp nhiều hơn vào nền kinh tế quốc dân Năm 2010, ngành dịch vụ đónggóp 37,78% trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP), trong đó ngành Dịch vụ lưu trú và ănuống đóng góp 4,08%1
Ngành Dịch vụ lưu trú đóng vai trò quan trọng trong việc cungcấp cung cấp các cơ sở lưu trú ngắn hạn cho những người có nhu cầu (công tác, dulịch…)., đảm bảo đáp ứng nhu cầu ăn, ở, nghỉ ngơi ngắn ngày một cách tiết kiệm vàhiệu quả nhất, giảm thiểu chi phí cao, rủi ro trong việc tìm nơi ở, đồng thời hỗ trợ tối
đa cho phát triển ngành du lịch Việt Nam
Nhận thức được tầm quan trọng của ngành Dịch vụ lưu trú trong nền kinh tế
Việt Nam, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn thực hiện bài báo cáo với chủ đề “Phân tích
bản chất ngành Dịch vụ lưu trú của Việt Nam năm 2010” Để làm rõ về bản chất ngành,
trong báo cáo này, nhóm lựa chọn phân tích trên ba khía cạnh chính là: Cấu trúc thịtrường, Hành vi doanh nghiệp và Đánh giá mức độ hiệu quả của doanh nghiệp trongngành Trong quá trình làm báo cáo, nhóm nghiên cứu đã sử dụng các công cụ phântích và xử lí dữ liệu của phần mềm Stata và tham khảo từ nhiều nguồn tài liệu, baogồm số liệu ngành Dịch vụ lưu trú năm 2010, Bảng hỏi điều tra doanh nghiệp năm
2010, bài giảng môn Tổ chức ngành và một số tài liệu liên quan khác
Báo cáo đưa ra những nhận xét của nhóm nghiên cứu khi tiến hành phân tíchcác yếu tố và chỉ số quan trọng để thể hiện bản chất ngành Dịch vụ lưu trú của ViệtNam năm 2010 Tuy nhiên, do nhiều hạn chế trong quá trình tìm kiếm và phân tíchthông tin, bài báo cáo còn tồn tại các thiếu sót không thể tránh khỏi Tuy vậy, vớinhững kết quả đã thu thập được, nhóm nghiên cứu hi vọng đã phản ánh được cácthông tin chính xác và mang tính đại diện cho ngành đã lựa chọn Đồng thời, nhóm rất
Trang 5mong nhận được những nhận xét và góp ý của giảng viên để có thể hoàn thiện hơnbáo cáo này.
Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG CHÍNH
Phân tích bản chất ngành là một công cụ quan trọng trong phân tích kinh tế,
trên cả phương diện vĩ mô và vi mô Đối với nền kinh tế nói chung, các thống kê về bảnchất ngành giúp người làm kinh tế và chính sách có thể đánh giá hiệu quả hoạt độngcủa từng ngành, từ đó đưa ra những quyết định quan trọng khi lựa chọn ngành chiếnlược để định hướng phát triển trong tương lai Đối với từng doanh nghiệp, việc thấuhiểu bản chất ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động sẽ giúp nhà quản lý đưa rađược những chiến lược phù hợp và các quyết định kinh doanh chính xác, phù hợp vớitiềm năng và xu thế phát triển của ngành
Bản chất ngành được thể hiện và đồng thời có ảnh hưởng quan trọng đến nhiều
yếu tố, trong đó có ba nội dung chủ đạo là: Cấu trúc thị trường, Hành vi doanh nghiệp
và Đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Những nội dung này sẽ được thể
hiện qua việc thống kê các chỉ tiêu về ngành, đồng thời qua những phát hiện từ sách,báo, tài liệu hoặc website để có thể đưa ra nhận xét đầy đủ nhất về ngành Dịch vụ lưutrú của Việt Nam năm 2010
A Phân tích bản chất ngành
I Thông tin dữ liệu
Trong nội dung nghiên cứu, nhóm sử dụng dữ liệu từ kết quả điều tra doanhnghiệp Việt Nam năm 2010 Các doanh nghiệp của ngành Dịch vụ lưu trú được nhậndiện thông qua mã ngành cấp 5 theo VSIC (Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam), đượcthể hiện trong dữ liệu tổng bằng biến nganh_kd với các giá trị từ 55101 đến 55909
Trong đó:
55102 1 0.47 71.96
55101 153 71.50 71.50 nganh_kd Freq Percent Cum.
tab nganh_kd if sector==55
Trang 6- 55101: Khách sạn
- 55102: Biệt thự hoặc căn hộ kinh doanh DVLT ngắn ngày
- 55103: Nhà khách, nhà nghỉ kinh doanh DVLT ngắn ngày
- 55104: Nhà trọ, phòng trọ và các cơ sở lưu trú tương tự
- 55909: Cơ sở lưu trú khác
Bảng 1 Thống kê doanh nghiệp theo mã ngành cấp 5
Nguồn: Kết quả từ phần mềm Stata
Mẫu thống kê cho ngành Dịch vụ lưu trú bao gồm 214 quan sát, tương đương
214 doanh nghiệp có ngành sản xuất kinh doanh chính là ngành Dịch vụ lưu trú và nămbắt đầu sản xuất kinh doanh là 2010, tức đây là những doanh nghiệp trong ngành bắt
đầu đi vào hoạt động từ năm nghiên cứu Trong đó, có thể thấy Khách sạn là tiểu ngành có số lượng doanh nghiệp nhiều nhất, chiếm 71,5% Tiếp theo là Nhà khách,
nhà nghỉ kinh doanh dịch vụ lưu trú ngắn ngày, chiếm 24,30%
Sau khi kiểm tra độ chính xác của dữ liệu, nhóm loại bỏ 5 quan sát là 5 doanh
nghiệp không có kết quả hoạt động (không có Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch
vụ, không có Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp)2
Việc xác định được cácthông tin cơ bản về dữ liệu 209 doanh nghiệp được sử dụng trong bản báo cáo có ảnhhưởng quan trọng đến những nhận xét và kết luận sau này của nhóm nghiên cứu
II Cấu trúc thị trường
Cấu trúc thị trường được hiểu là các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định quản lý
của doanh nghiệp, bao gồm: số lượng doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường, quy
mô doanh nghiệp, các đánh giá về công nghệ và chi phí, mức độ dễ dàng ra/vào thịtrường
Cấu trúc thị trường trong bài báo cáo được nghiên cứu thông qua: Quy môdoanh nghiệp, Mức độ tập trung của ngành, Khoa học công nghệ, Cầu và điều kiện thịtrường, Khả năng gia nhập thị trường
1 Quy mô doanh nghiệpLuôn tồn tại sự khác biệt về quy mô các doanh nghiệp trong cùng một ngành,tuy nhiên, chỉ số này có thể thay đổi theo thời gian Các yếu tố có thể ảnh hưởng tớiquy mô doanh nghiệp bao gồm bản chất của ngành, năng lực của doanh nghiệp,…
Trang 7Thống kê về quy mô có thể cho biết sức mạnh và nguồn lực của ngành đang đượcphân bổ như thế nào cho các doanh nghiệp trong ngành
Trong báo cáo này, nhóm nghiên cứu thống kê quy mô của các doanh nghiệptrong ngành Dịch vụ lưu trú dựa vào số lượng lao động cuối năm của doanh nghiệp(Biến ld13) Kết quả như sau:
tn1 209 221.9569 685.2375 2 8002 ld13 209 11.33014 27.50002 1 322 Variable Obs Mean Std Dev Min Max sum ld13 tn1 if sector==55
Bảng 2 Mô tả Lao động cuối năm và Tổng thu nhập người lao động
Nguồn: Kết quả từ phần mềm Stata
Ngành Dịch vụ lưu trú có số lượng lao động trung bình là 11 người/doanhnghiệp Như vậy, ngành hầu hết bao gồm doanh nghiệp vừa và nhỏ Số lượng lao độngcủa doanh nghiệp ít nhất là 1 người và nhiều nhất là 322 người
Cùng với thống kê về số lượng lao động, nhóm cũng tiến hành thống kê Tổngthu nhập của người lao động - đơn vị: triệu đồng (Biến tn1) Tổng thu nhập của ngườilao động là tổng của 3 thành phần: tiền lương, thưởng và các khoản phụ cấp, thu nhậpkhác có tính chất như lương; bảo hiểm xã hội trả thay lương; các khoản thu nhập kháckhông tính vào chi phí SXKD Tổng thu nhập người lao động trung bình của một doanhnghiệp trong ngành là khoảng 221 triệu đồng, mức thấp nhất là 2 triệu đồng và mứccao nhất là hơn 8 tỉ đồng
Trong đó:
7: Doanh nghiệp tư nhân 9: Cty TNHH tư nhân, Cty TNHH có vốn N.nước ≤ 50%
10: Cty cổ phần không có vốn Nhà nước 14: DN khác liên doanh với nước ngoài
Bảng 3 Thống kê doanh nghiệp theo loại hình kinh doanh
Nguồn: Kết quả từ phần mềm Stata
Total 209 100.00
14 1 0.48 100.00
10 17 8.13 99.52
9 102 48.80 91.39
7 89 42.58 42.58 lhdn Freq Percent Cum.
tab lhdn if sector==55
Trang 8Kết hợp với dữ liệu về loại hình doanh nghiệp, có thể thấy nhận xét về quy môdoanh nghiệp trong ngành Dịch vụ lưu trú là phù hợp với thực tiễn Do bản chất đây làmột ngành dịch vụ có cầu cao, các doanh nghiệp bắt đầu kinh doanh tương đối dễdàng, không đòi hỏi nhiều vốn đầu tư Các doanh nghiệp trong ngành chủ yếu là doanhnghiệp vừa và nhỏ, chiếm đa số là doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH tư nhân, công
ty TNHH có vốn Nhà nước ≤ 50%
2 Mức độ tập trung của ngànhMức độ tập trung của ngành đo lường vị trí tương đối của các doanh nghiệp lớntrong ngành Tập trung thị trường ám chỉ đến mức độ mà sự tập trung sản xuất vàomột thị trường đặc biệt hay là sự tập trung sản xuất của ngành nằm trong tay một vàihãng lớn trong ngành Mức độ tập trung của ngành quan trọng vì những quyết định tối
ưu của người quản lý liên quan đến mức độ tập trung của ngành
Một ngành có mức độ tập trung hóa cao tức là một ngành được chi phối bởimột số ít hãng Khi nói trình độ tập trung hoá của một ngành tức là nói đến mức độtập trung thị trường của ngành đó Nói chung, mức độ tập trung thị trường biểu thịsức mạnh thị trường của những hãng lớn, nghĩa là ngành càng tập trung thì các hãnglớn càng có sức mạnh thị trường cao và ngược lại Khả năng của một công ty hay mộtnhóm công ty trong việc tăng và duy trì giá bán sản phẩm trên mức giá cạnh tranhđược gọi là sức mạnh đối với thị trường Việc sử dụng sức mạnh đối với thị trường làmgiảm sản lượng và tổn thất phúc lợi xã hội
Tỉ lệ tập trung đo lường tổng sản lượng trong một ngành được sản xuất bởi cáccông ty lớn nhất trong ngành đó Trong phạm vi báo cáo, nhóm nghiên cứu thực hiện
đo lường tỉ lệ tập trung của ngành theo hai phương pháp: Tỉ lệ tập trung 4 công ty(CR4) và chỉ số Herfindahl - Hirschman (HHI)
Nhóm tiến hành tính mức độ tập trung của ngành dựa vào Doanh thu thuầnbán hàng và cung cấp dịch vụ (biến kqkd4)
Trang 9kqkd4 209 609.2105 2468.981 1 29848 Variable Obs Mean Std Dev Min Max sum kqkd4 if sector==55
Bảng 4 Mô tả Doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ
Nguồn: Kết quả từ phần mềm Stata
209 doanh nghiệp của ngành Dịch vụ lưu trú có doanh thu bán hàng và cungcấp dịch vụ trung bình là 609 triệu đồng Doanh nghiệp có doanh thu lớn nhất là29,848 tỉ đồng
Trang 10Trong đó: S i là thị phần doanh nghiệp thứ i, xếp hạng từ lớn nhất đến nhỏ nhất.
Thị phần được tính bằng doanh thu của doanh nghiệp chia tổng doanh thu của toànngành
Khi một ngành bao gồm một số lượng rất lớn các công ty, thị phần của mỗi công
ty trong ngành là rất nhỏ thì tỉ lệ tập trung 4 công ty gần bằng 0 Khi tổng sản lượngcủa một ngành được đóng góp bởi ít hơn hoặc bằng 4 công ty thì tỉ lệ tập trung 4 công
ty bằng 1
Nhóm sử dụng Stata để liệt kê biến Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ,sau đó tính toán tỉ lệ tập trung 4 công ty bằng Excel Kết quả như sau:
Tổng doanh thu 4 công ty lớn nhất ngành 62364
Tỉ lệ tập trung 4 công ty (CR4) 0,4890
Bảng 5: Tỉ lệ tập trung 4 công ty
Ngành Dịch vụ lưu trú có Tỉ lệ tập trung 4 công ty (CR4) bằng 0,4890 Như vậytheo chỉ tiêu này, ngành có mức độ tập trung trung bình, tức là tổng doanh thu của 4 doanh nghiệp lớn nhất trong ngành chiếm gần 50% tổng doanh thu của toàn ngành
2.2 Chỉ số Herfindahl – Hirschman (HHI)
Chỉ số Herfindahl – Hirschman (HHI) là tổng bình phương thị phần của các công
ty trong ngành, sau đó nhân với 10000
Trang 11Nếu HHI=10000 nghĩa là chỉ tồn tại duy nhất một công ty trong ngành NếuHHI=0 nghĩa là tồn tại vô số các công ty nhỏ trong ngành.
Cũng sử dụng Excel, nhóm tính được HHI = 829,9637 So với hai ngưỡng, mức
độ tập trung của ngành Dịch vụ lưu trú theo chỉ số HHI ở mức trung bình thấp
Như vậy, cả 2 chỉ số đo lường mức độ tập trung của ngành đều cho thấy ngànhDịch vụ lưu trú của Việt Nam trong phạm vi nghiên cứu có mức độ tập trung ở mứctrung bình, các doanh nghiệp lớn nhất trong ngành chiếm tỉ trọng ở mức trung bìnhtrong tổng doanh thu chứ không nắm toàn bộ sức mạnh thị trường
3 Khoa học công nghệKhoa học công nghệ có thể coi như một yếu tố quyết định sẽ làm tăng khác biệt
về kĩ thuật cung cấp dịch vụ của các doanh nghiệp trong ngành Trong ngành lựa chọn,năm 2010 có thể nói khả năng các doanh nghiệp Dịch vụ lưu trú được tiếp cận vớicông nghệ là giống nhau và do đó cấu trúc chi phí là tương tự Đồng thời, đây là ngànhdịch vụ thiên về thâm dụng lao động thay vì vốn, nên các chỉ số về ứng dụng khoa họccông nghệ là không quá nổi bật
Dựa vào số liệu đã có, nhóm nghiên cứu sử dụng chỉ số thống kê số máy tính
doanh nghiệp sử dụng có đến ngày 31/12/2010 (biến so_pc) để đánh giá mức độ sử
dụng khoa học công nghệ trong quá trình sản xuất, kinh doanh và vận hành của cácdoanh nghiệp thuộc ngành Dịch vụ lưu trú
Số máy tính được sử dụng trong doanh nghiệp được thống kê như sau:
Total 168 100.00
tab so_pc if sector==55
Bảng 6: Thống kê Số máy vi tính hiện doanh nghiệp đang sử dụng có đến 31/12/2010
Trang 12Nguồn: Kết quả từ phần mềm Stata
so_pc 167 2.233533 2.949262 1 20 Variable Obs Mean Std Dev Min Max sum so_pc if sector==55 & so_pc>0
Bảng 7: Mô tả Số máy vi tính hiện doanh nghiệp đang sử dụng có đến 31/12/2010
Nguồn: Kết quả từ phần mềm Stata
Dựa vào kết quả bảng trên ta có thể thấy, đối với các doanh nghiệp thuộc ngànhDịch vụ lưu trú được thành lập trong năm 2010, số lượng máy vi tính được sử dụngchưa được cao, trung bình chỉ là 2 máy vi tính/doanh nghiệp Cụ thể, chỉ có duy nhất 1doanh nghiệp sử dụng 20 chiếc máy vi tính, chiếm 0.6%; có 103/168 doanh nghiệp cóthống kê chỉ sử dụng duy nhất 1 chiếc máy vi tính trong quá trình vận hành chiếm tỷ lệ61.31%
Ngoài ra, trong dữ liệu có những biến số phù hợp cho tính toán như Tổng chi
phí cho nghiên cứu khoa học công nghệ trong năm (biến cpnc11), Chi cho nghiên cứu triển khai (biến cpnc12) và Chi cho đổi mới công nghệ (biến cpnc13) Tuy nhiên, các
doanh nghiệp trong bộ dữ liệu đều chưa có các chi phí này, nguyên nhân có thể do đâyđều là những doanh nghiệp mới bắt đầu hoạt động trong năm 2010 (như đã mô tả dữliệu trong phần I) Trong các năm hoạt động tiếp theo, những chi phí này có thể sẽ xuấthiện trong doanh nghiệp và có thể kì vọng các doanh nghiệp trong ngành sẽ ứng dụngkhoa học công nghệ để tăng doanh thu và mức độ hài lòng của khách hàng sử dụngdịch vụ Trong bối cảnh cách mạng 4.0 hiện nay, các công nghệ thường được áp dụngtrong ngày này trên thế giới đó là: công nghệ đám mây, dữ liệu lớn, máy học…
Nhóm kết luận rằng, trong năm 2010, khi mới thành lập và đi vào hoạt động,các doanh nghiệp thuộc ngành Dịch vụ lưu trú trong nghiên cứu này chưa thực sự tậptrung nhiều vào đầu tư và tận dụng những lợi thế từ khoa học công nghệ để phát triểnhoạt động kinh doanh
4 Cầu và điều kiện thị trườngTiềm năng phát triển ngành Dịch vụ lưu trú ở Việt Nam được đánh giá rất cao
Điều này đến từ nhiều yếu tố: tài nguyên du lịch, chính sách của nhà nước… Trongmột ngành có nhu cầu lớn như ngành này, thị trường có thể đòi hỏi số lượng doanhnghiệp lớn để có thể đáp ứng được lượng cầu tương ứng Trong dữ liệu năm 2010, số
Trang 13doanh nghiệp Dịch vụ lưu trú là 214 doanh nghiệp, chiếm gần 3% trên tổng số 90ngành cấp 2 được thống kê Điều này cũng thể hiện rằng số doanh nghiệp mới trongnăm 2010 của ngành Dịch vụ lưu trú là tương đối đáng kể.
Nhu cầu lớn của ngành này có thể được lí giải bằng sự phát triển của du lịchViệt Nam, kéo theo là nhu cầu về lưu trú ngắn hạn: khách sạn, nhà nghỉ… Thống kêtheo vị trí địa lí, nhóm phát hiện các doanh nghiệp trong ngành mới thành lập năm
2010 tập trung ở: Hà Nội (13 doanh nghiệp), Khánh Hòa (22 doanh nghiệp), TiềnGiang (22 doanh nghiệp), Cần Thơ (17 doanh nghiệp) – đây đều là các tỉnh có hoạtđộng du lịch đang phát triển một cách mạnh mẽ Ngoài ra sự chú trọng đầu tư của Nhànước cũng là một yếu tố quan trọng giúp ngành du lịch khách sạn Việt Nam phát triểnmạnh Theo Tổng cục Thống kê, kinh tế phục hồi cùng với nhiều hoạt động thu hút dukhách được tổ chức tốt trên địa bàn cả nước đã nâng tổng số khách quốc tế đến ViệtNam năm 2010 lên 5 triệu lượt người, tăng 34,8% so với năm trước, trong đó kháchđến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng đạt 3,1 triệu lượt người, tăng 38,8%3
Tuy nhiên những thông tin nghiên cứu cũng cho thấy rằng ngành Dịch vụ lưutrú năm 2010 chưa thực sự khai thác được hết tiềm năng và cơ hội sẵn có: Hệ thốngkhách sạn, khu nghỉ dưỡng đạt tiêu chuẩn quốc tế còn ít, cơ sở vật chất còn nghèo nàn,các doanh nghiệp mới được thành lập với nguồn vốn thấp, còn chưa có bước phát triển
rõ ràng khi gia nhập ngành này
5 Khả năng gia nhập thị trườngVới bất kỳ ngành nào thì các doanh nghiệp đều phải đối mặt với sự cạnh tranh
từ các lực lượng khác nhau Dựa vào mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter,các doanh nghiệp của ngành Dịch vụ lưu trú sẽ phải chịu sự cạnh tranh từ các yếu tốsau:
Trang 14 Áp lực từ các doanh nghiệp có trong ngành
Đây có lẽ là áp lực cạnh tranh quan trọng nhất Là một ngành cung cấp dịch vụ,ngành Dịch vụ lưu trú sẽ phải chịu áp lực từ các doanh nghiệp có trong ngành như sau:
- Khi số lượng đông và quy mô tương đương nhau thì áp lực cạnh tranh cao:
Vào năm 2010, trong bối cảnh ngành du lịch phát triển chưa thực sự có bước đột pháthì các doanh nghiệp đang có sự phân hoá khá rõ về quy mô Khi đó thị trường thường
có sự ổn định hơn vì doanh nghiệp nhỏ biết không thể cạnh tranh với doanh nghiệp lớn
vì vậy họ chịu “an phận” ở một góc thị trường nơi mà khách hàng có những đặc điểmriêng, nơi doanh nghiệp lớn không thèm dòm ngó tới Tuy nhiên vẫn tồn tại sự cạnhtranh giữa các doanh nghiệp có cùng quy mô để thu hút khách hàng sử dụng dịch vụcủa mình
- Tốc độ tăng trưởng của ngành cao thì áp lực cạnh tranh thấp: Tốc độ tăngtrưởng ngành cao nghĩa là thị trường ngày càng mở rộng ra Các doanh nghiệp sẽ cóthị phần lớn hơn mà chưa chắn đã cần tranh giành của nhau
- Sản phẩm trong ngành không có khác biệt hóa thì áp lực cao vì sẽ cạnh tranhbằng giá: Đối với ngành dịch vụ lưu trú năm 2010, khách sạn truyền thống vẫn chiếm
ưu thế, một số loại hình mới xuất hiện như các resort cao cấp hay các homestay vẫn rấtkén du khách đến ở do đặc thù cũng như chi phí cao Vì thế sự khác biệt hoá vẫn chưathực sự rõ ràng nên các doanh nghiệp chủ yếu vẫn phải chịu áp lực từ cạnh tranh bằnggiá
Áp lực từ phía khách hàng
Giống như tất cả các ngành dịch vụ khác, các doanh nghiệp của ngành Dịch vụlưu trú cũng phải chịu áp lực từ khách hàng bởi khách hàng chính là người quyết định
Trang 15có sử dụng dịch vụ của họ hay không Nếu số lượng khách hàng ít thì khách hàng sẽ cónhiều sự lựa chọn hơn và sẽ được hưởng nhiều ưu đãi hơn từ các doanh nghiệp, cáccông ty sẽ phải cạnh tranh nhau để khách hàng lựa chọn mình Ngược lại nếu số lượngkhách hàng nhiều, áp lực từ phía khách hàng sẽ giảm xuống vì các công ty sex khôngphải tốn quá nhiều chi phí vào các quảng cáo hay ưu đãi cho khách hàng.
Sự đe doạ từ các sản phẩm thay thế
Như đã đề cập ở trên, trong ngành Dịch vụ lưu trú, khách sạn nhà nghỉ truyềnthống vẫn đang chiếm ưu thế và chiếm thị phần lớn hơn Các sản phẩm thay thế khácnhư resort, homestay mới chỉ xuất hiện, chưa thực sự phát triển cũng như chỉ tập trung
ở một số vùng nên áp lực từ các sản phẩm thay thế vào thời điểm đó chưa cao
Áp lực từ các nhà cung cấp
Với đặc điểm là các dịch vụ ăn ở, nghỉ dưỡng chủ yếu tự vận hành và quản lýnên áp lực từ các nhà cung cấp đối với các doanh nghiệp ngành dịch vụ lưu trú làkhông lớn Nhiều công ty còn chọn cách tự cung tự cấp với những mặt hàng cần thiếttrong quá trình vận hành kinh doanh nên hoàn toàn không phụ thuộc vào các nhà cungcấp Bên cạnh đó, số lượng các nhà cung cấp khá lớn và đa dạng về chủng loại hànghoá nên các doanh nghiệp có thể dễ dàng chọn lựa nhà cung cấp phù hợp với địnhhướng phát triển của mình
Nguy cơ thâm nhập của các đối thủ tiềm năng
Trong năm 2010, mặc dù tốc độ tăng trưởng chưa cao, nhưng ngành dịch vụ lưutrú vẫn là một thị trường tiềm năng cho những doanh nghiệp muốn gia nhập bởi những
cơ hội phát triển trong tương lai Điều này tạo ra thách thức cho cả doanh nghiệp trongngành và cả những doanh nghiệp đang muốn tham gia Các doanh nghiệp cần phải cóchiến lược kinh doanh phù hợp với khu vực đang và sẽ hoạt động, cần tạo ra sự khácbiệt trong dịch vụ so với các công ty khác thì mới có thể thu hút được nhiều kháchhàng mới và thuyết phục các khách hàng cũ quay lại sử dụng dịch vụ của mình
III Hành vi doanh nghiệp
Hành vi doanh nghiệp trong ngành là các đặc điểm hành vi của các nhà cung
cấp và người mua hoạt động trong một thị trường/ngành Nó có thể bao gồm:
Trang 16a Mục tiêu kinh doanh của nhà cung cấp (ví dụ như mục tiêu tăng trưởngdoanh thu và lợi nhuận) và yêu cầu sản phẩm của người mua (ví dụ: giá thấp, hiệu suấtsản phẩm và sự tinh tế);
b Các công cụ và chiến lược tiếp thị có sẵn cho các công ty có thể được sử dụng
để thiết lập lợi thế cạnh tranh so với các nhà cung cấp đối thủ Chúng bao gồm cácchiến lược giá cả khác nhau (giá thâm nhập thị trường, chính sách giá hớt váng, vv.) vàkết hợp tiếp thị như quảng cáo và khuyến mại, biến thể chất lượng, bao bì và thiết kế,
vv Sự lựa chọn chiến lược marketing thích hợp tùy thuộc vào đặc điểm sản phẩm vàtrên sự hiểu biết về các thuộc tính sản phẩm của người tiêu dùng
c Sự phụ thuộc lẫn nhau của các nhà cung cấp nhằm hạn chế quyền tự do hànhđộng cá nhân và thường dẫn đến (đặc biệt là ở các thị trường có đặc điểm tập trungngười bán cao) sự phối hợp các đường lối hành vi ví dụ như nhà lãnh đạo giá và cấukết
d Mối quan hệ giữa nhà cung cấp và người mua, đặc biệt là tác động của chínhsách mua hàng theo lô lớn4
.Dựa trên định nghĩa này, ứng dụng vào đề tài ngành Dịch vụ lưu trú của ViệtNam, nhóm nghiên cứu phân tích hành vi doanh nghiệp theo các hoạt động điển hìnhsau:
1 Hành vi định giáMột đặc điểm đặc trưng trong kinh doanh lưu trú là xác định các mức giá “xâmnhập” Chúng được sử dụng với một mục đích thu hút khách hàng mới cho một sảnphẩm hiện có hoặc cho một cơ sở mới chưa có danh tiếng Tuỳ thuộc vào đặc điểm củasản phẩm và của mỗi đoạn thị trường nhất định mà giá có thể được xác định chỉ chodịch vụ lưu trú hoặc cho dịch vụ lưu trú và kèm theo các phương án khác nhau củadịch vụ ăn uống (ăn từng phần, ăn trọn gói)
Thứ hạng của cơ sở lưu trú là cơ sở khách quan cho việc có các mức giá khácnhau trong kinh doanh lưu trú Trên thực tế, do sự cạnh tranh gay gắt và do nhiều khicung vượt cầu, nên thường không xuất hiện sự khác nhau về giá quá lớn Khó có khả
Trang 17năng có thể tồn tại sự khác biệt về giá quá lớn đối với những sản phẩm tương tự, đặcbiệt là đối với những thị trường mà giá không phải là yếu tố chính trong cạnh trạnh.
Một nhân tố quan trọng ảnh hưởng chính sách định giá trong kinh doanh lưutrú là cầu đối với sản phẩm lưu trú Trong kinh doanh lưu trú, việc đánh giá sự tươngquan giữa chất lượng và giá cả thường mang tính chủ quan và sau khi đã tiêu dùng sảnphẩm Do những tính chất đặc thù của sản phẩm lưu trú hạn chế sự tham gia trực tiếpcủa cầu trong quá trình xác định giá Điều quan trọng là việc xác định giá phải đảm bảotính mềm dẻo vì nhiều khi giá cả quyết định rất lớn đến chu kỳ kinh doanh của nhữngdoanh nghiệp kinh doanh lưu trú bị ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ (Có nhiều cách đểđịnh giá phù hợp với những tình huống và thời gian cụ thể cho dịch vụ lưu trú, ví dụnhư: chính sách giá vào mùa vắng khách, chính sách giá vào cao điểm trong tuần, )
Trong quá trình định giá dịch vụ, càn lưu ý đến mối quan hệ giữa giá cả và đặcđiểm của chi phí trong kinh doanh lưu trú Trong kinh doanh lưu trú các chi phí cố địnhchiếm tỷ trọng rất lớn (chi phí hao mòn tài sản cố định, chi phí quản lý, các khoản thuế,chi phí về điện, chi phí cho dịch vụ thông tin liên lạc) Điều đó dẫn đến hiện tượng giácủa sản phẩm lưu trú thường cao Trên thực tế, hiện tượng lạm phát cũng thườngxuyên xảy ra làm cho giá của sản phẩm lưu trú cũng phải gia tăng
Giá cả trong kinh doanh lưu trù cũng liên quan tới những đặc điểm của tàinguyên du lịch Ở đâu có tài nguyên du lịch độc đáo thì ở đó có thể đặt mức giá caohơn và ngược lại, ở đâu tài nguyên du lịch càng mang tính phổ biến thì mức giá cũnggiảm theo Tính chu kỳ trong khai thác các tài nguyên du lịch được thể hiện ở các mứcgiá mùa vụ Từ đó cho thấy để có thể kích thích việc tiêu thụ sản phẩm trong kinhdoanh lưu trú cần phải có những nỗ lực cần thiết trong việc giảm các yếu tố mùa vụtrong khai thác các tài nguyên du lịch
2 Hành vi liên kết và sáp nhậpCho đến nay, Việt Nam vẫn là điểm sáng đối với ngành du lịch và lưu trú trongkhu vực Theo đó, khách sạn, các khu nghỉ dưỡng trở thành một trong 5 hạng mụcđược nhà đầu tư trong và ngoài nước quan tâm nhiều nhất