Các quyền sở hữu trí tuệ trong nông nghiệp: - Quyền bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích: Ở Việt Nam đã có rất nhiều nhà nông dân sáng chế ra rất nhiều sản phẩm là giải pháp hữu ích góp ph
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ
TIỂU LUẬN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
ĐỀ TÀI:
BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM VÀ BÀI HỌC TỪ
NHỮNG QUỐC GIA KHÁC
Sinh viên thực hiện: - Nguyễn Xuân Hiệp 1311610023
Nguyễn Quang Trung 1311110735 Phạm Quang Trung 1311110728
Đỗ Thu Hà 1111110572 Nguyễn Hải Linh 1311110358 Phạm Thị Nga 1311110471 Giáo viên hướng dẫn: Th.s Lữ Thị Thu Trang
Trang 2Phần 1: Tổng quan và vai trò của IPR trong phát triển nông nghiệp
1 Sở hữu trí tuệ là gì?
Sở hữu trí tuệ được hiểu là việc sở hữu các tài sản trí tuệ – những kết quả từ hoạt động tư duy, sáng tạo của con người Đối tượng của loại sở hữu này là các tài sản phi vật chất nhưng có giá trị kinh tế, tinh thần to lớn góp phần quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nền văn minh, khoa học, công nghệ của nhân loại Đó là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, các công trình khoa học kỹ thuật ứng dụng cũng như các tên gọi, hình ảnh được sử dụng trong các hoạt động thương mại
Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của cá nhân, pháp nhân đối với các sản phẩm trí tuệ do con người sáng tạo Đó là độc quyền được công nhận cho một người, một nhóm người hoặc một tổ chức, cho phép họ được sử dụng hay khai thác các khía cạnh thương mại của một sản phẩm sáng tạo
Đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ bao gồm:
- Quyền tác giả các tác phẩm văn học và nghệ thuật;
- Sáng chế, giải pháp hữu ích;
- Bí mật kinh doanh;
- Kiểu dáng công nghiệp;
- Nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ;
- Chỉ dẫn địa lý, tên gọi xuất xứ hàng hoá;
- Tên thương mại;
- Giống cây trồng mới;
- Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn;
- Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp
2 Các quyền sở hữu trí tuệ trong nông nghiệp:
- Quyền bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích: Ở Việt Nam đã có rất nhiều nhà nông dân sáng chế ra rất nhiều sản phẩm là giải pháp hữu ích góp phần phát triển nền kinh tế nông nghiệp: Sáng chế thuốc trừ sâu thảo dược, máy tách hạt ngô,…
- Quyền bảo hộ sở hữu trí tuệ về giống cây trồng mới: các giống thanh long mới, giống lúa mới,…
- Quyền bảo hộ chỉ dẫn địa lý
Trang 33 Tác động của bảo hộ sở hữu trí tuệ trong nông nghiệp đối với các nước đang phát triển
3.1 Lợi ích:
Đối với giống cây trồng được bảo hộ về sở hữu trí tuệ sẽ ngăn
chặn được các hành vi nhái nhãn hiệu hay giống cây, giúp tang giá trị của giống cây trồng đó
Khuyến khích nông dân sáng tạo hơn, mang lại hiệu quả cho nền
kinh tế nông nghiệp nước nhà.
Bảo hộ sở hữu trí tuệ trong nông nghiệp sẽ tôn vinh những đóng
góp thầm lặng của những người nông dân, những người có đóng góp vô cùng to lớn đối với nền kinh tế đất nước
3.2 Mặt trái:
Sở hữu trí tuệ là vô cùng quan trọng, nhưng nếu không được làm đúng cách, hay quan tâm đúng mức, sẽ dễ dẫn đến tình trạng chảy máu chất xám, hay việc những giống cây trồng bị đánh cắp khi chưa kịp bảo hộ.
4 Vai trò của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong nông nghiệp
Trong những năm gần đây, số vụ mua bán quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) của các sản phẩm nông nghiệp với số tiền hàng tỷ đồng ngày càng tăng Điều này cho thấy việc đăng ký quyền SHTT đang ngày càng quan trọng và kéo theo là lợi ích kinh tế của nó
Trước tiên việc đăng kí quyền Sở hửu trí tuệ mang lại lợi ích trực tiếp cho cá nhân, tổ chức có những phát minh sáng chế các sản phẩm hoặc giống cây trồng trong nông nghiệp Các cá nhân và tổ chức này được phép khai thác các sản phẩm, phát minh của mình mà không phải lo lắng bị sử dụng một cách trái phép
Thứ hai việc đăng ký quyền SHTT nhằm thúc đẩy sáng tạo và đưa ra cảnh báo cho các công ty, đơn vị liên quan đến từng ngành nghề hãy tránh xa những sản phẩm đã có quyền SHTT Đăng ký quyền SHTT nói chung và đăng kí quyền SHTT trong nông nghệp thúc đẩy hoạt động sáng tạo, đổi mới công nghệ Bảo
hộ quyền sở hữu trí tuệ với nội dung đảm bảo độc quyền sử dụng đối tượng trong một thời hạn nhất định để người chủ sở hữu thu lợi từ đối tượng SHTT mà mình tạo ra chính là biện pháp hữu hiệu để khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân nghiên cứu tạo ra và áp dụng nhanh chóng các công nghệ tiến bộ nhằm tạo ra
Trang 4những sản phẩm nông nghiệp mới đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.
Mặt khác, khi một đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộ, nó sẽ được bộc lộ công khai (trừ bí mật kinh doanh), xã hội có được những thông tin cần thiết về đối tượng đó và như vậy người ta sẽ chỉ tiến hành nghiên cứu triển khai để tạo ra những thành quả mới chứ không tạo ra những gì đã có, nhất là những đối tượng
đã được pháp luật bảo hộ Vì vậy, việc quan tâm, đầu tư, quản lý sản phẩm để mang lại mức tăng trưởng cao là điều cần thiết
Trong đó, việc quản lý sở hữu trí tuệ trong doanh nghiệp, đơn vị muốn quản lý tốt cần phải có một tổ chức quản lý làm "từ khâu sáng tạo, bảo vệ bằng công cụ pháp lý đến khai thác bằng nhiều phương pháp như nhượng quyền thương mại, chuyển giao công nghệ "
Hoạt động sở hữu trí tuệ không chỉ là việc bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ trong phạm vi quốc gia mà còn được mở rộng sang các nước và lãnh thổ khác, nhất là trong xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng như hiện nay Đây là cơ hôi tốt nhất để doanh nghiệp Việt Nam mua các công nghệ (sáng chế) do nước ngoài đăng ký ở Việt Nam (thường các doanh nghiệp chỉ chuyển giao sáng chế được bảo hộ); đồng thời cũng là cơ hội nhằm thu hút đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam Sản phẩm nông sản xuất khẩu mang nhãn hiệu trong nước có chất lượng cao trên cơ sở áp dụng công nghệ và sáng chế, nếu không đăng ký bảo hộ nhãn hiệu đó ở nước nhập khẩu thì khi đạt được uy tín với người tiêu dùng, sản phẩm này chắc chắn sẽ có người bắt chước cả về nhãn hiệu và công nghệ, sáng chế, thị trường tiêu thụ có thể giảm hoặc mất hoàn toàn; vì vậy, đăng ký nhãn hiệu, sáng chế ở nước ngoài để bảo vệ mặt hàng xuất khẩu trở thành vấn đề rất quan trọng và bức thiết đối với các doanh nghiệp tiến hành mở rộng thị trường kinh doanh thông qua xuất khẩu hàng hóa nông sản
Phần 2: Thực trạng về sở hữu trí tuệ trong nông nghiệp ở Việt Nam Bài học kinh nghiệm từ các quốc gia khác
1 Thực trạng về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong nông nghiệp tại Việt Nam
1.1 Những mặt tích cực và thành tựu đã đạt được
Trang 5Ở một đất nước có điều kiện khí hậu, thời tiết thuận lợi như Việt Nam, việc phát triển nông nghiệp luôn được nhà nước đặt làm mũi nhọn nhằm phát triển nền kinh tế nước nhà Trong thời đại phát triển của nền kinh tế tri thức
và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, vấn đề Sở hữu trí tuệ và bảo hộ quyền SHTT ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển chung của nhân loại.Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong nông nghiệp, Chính phủ đã đề ra những chính sách, bộ luật, và các văn bản hướng dẫn nhằm thực thi một cách tốt nhất việc bảo hộ đó, với mục đích bảo vệ những giống cây trồng, sáng chế, chỉ dẫn địa lý đặc trưng khỏi việc bị xâm hại cũng như ăn cắp, tạo tiền đề để phát triển tốt hơn nền nông nghiệp nước nhà.
Một trong những quyền bảo hộ sở hữu trí tuệ quan trọng trong nông nghiệp
là quyền bảo hộ đối với giống cây trồng Giống cây trồng mới có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển ngành nông nghiêp Bảo hộ giống cây trồng (bảo hộ quyền tác giả giống cây trồng) là cơ chế bảo hộ quyền cho người đã chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển ra giống cây trồng mới.Nhờ
cơ chế bảo hộ này mà tác giả có thể thu lại những chi phí cho quá trình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển giống mới để tái đầu tư cho việc chọn tạo những giống mới tiếp theo, góp phần giới thiệu cho sản xuất nhiều giống cây trồng mới có các đặc tính tốt phục vụ nhu cầu con người.Để tạo ra một giống cây trồng mới, tác giả thường mất nhiều thời gian, công sức, tiền của Tuy nhiên người thứ ba có thể dễ dàng nhân giống Vì thế cần phải bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhà tạo giống nhằm khuyến khích công tác phát triển giống mới một cách hiệu quả
Bằng chứng cho thấy Nhà nước đã quan tâm đến vấn đề này một cách nghiêm túc là vào năm 2004, hệ thống bảo hộ giống cây trồng Việt Nam thực
sự hoạt động Năm 2006, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới (Công ước UPOV) Từ đó, các văn bản pháp luật về bảo hộ giống cây trồng đã được quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà tạo giống.Một hệ thống khung pháp lý đã được xây dựng
và phát triển với mục đích bảo hộ giống cây trồng như một tài sản sở hữu trí tuệ:
- Năm 2004, Pháp lệnh giống cây trồng số 15/2004/PL-UBTVQH11 được Ủy ban thường vụ Quốc Hội phê chuẩn trong đó Chương IV về bảo hộ giống cây trồng là chương quan trọng.
Trang 6- Năm 2006, Luật sở hữu trí tuệ có hiệu lực (Luật số 50/2005/QH11) là một trong những điều kiện quyết định đưa Việt Nam trở thành Thành Viên thứ 63 của Công ước quốc tế vè bảo hộ giống cây trồng mới (Công ước UPOV).
- Năm 2009, để nâng cao hiệu quả bảo hộ giống cây trồng, Quốc Hội đã ban hành Luật sửa đổi một số Điều của Luật sở hữu trí tuệ (Luật số 36/2009/QH12).
Đến thời điểm này, Phần 4 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam về cơ bản tương thích với Công ước UPOV.
Tới thời điểm này, danh mục loài cây trồng được bảo hộ của Việt Nam gồm
90 loài (ảnh 1.1) Đối với những loài mới chưa có tên trong danh mục, khi có nhu cầu, người nộp đơn có thể yêu cầu bổ sung loài mới vào danh mục loài cây trồng được bảo hộ tới Văn phòng bảo hộ giống cây trồng, cục trồng trọt,
bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn bổ sung vào danh mục loài cây trồng được bảo hộ.
Trang 7Ảnh 1.1: Danh mục giống cây trồng được bảo hộ tại Việt Nam
Trang 8Một quyền bảo hộ cũng không kém phần quan trọng nữa, đó là quyền bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý Chỉ dẫn địa lý là một trong những đối tượng của quyền
sở hữu công nghiệp Chỉ dẫn địa lý được thể hiện dưới dạng từ ngữ, dấu hiệu, biểu tượng hoặc hình ảnh dùng để chỉ một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, địa phương thuộc một quốc gia trên hàng hóa hoặc bao bì hàng hóa nhằm chỉ dẫn rằng hàng hóa nói trên có nguồn gốc tại quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc địa phương mà đặc trưng về chất lượng, uy tín, danh tiếng hoặc các đặc tính khác của loại hàng hóa này có được chủ yếu là do nguồn gốc địa lý tạo nên.
Chính vì vậy, việc xây dựng chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm nông nghiệp là cơ sở khoa học và thực tiễn làm tăng giá trị và bảo vệ thương hiệu cho nông sản trên thị trường trong và ngoài nước Đồng thời còn làm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp, góp phần phát triển bền vững kinh tế - xã hội cho người dân đồng bào của nơi được bảo hộ nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung Ngoài ra, sản phẩm nông nghiệp được đăng bạ chỉ dẫn địa lý
sẽ làm cho mối quan hệ giữa đất, khí hậu, môi trường và con người được nhấn mạnh thêm, đặc biệt là tại những nơi có nhiều di tích lịch sử được nhiều người trong nước và quốc tế biết đến Đây là cơ hội để thúc đẩy các ngành kinh tế khác trong vùng chỉ dẫn địa lý phát triển, mức sống của người dân trong vùng sẽ được nâng cao.Bên cạnh đó, người tiêu dùng, người tiêu dùng sản phẩm có chỉ dẫn địa lý sẽ an tâm hơn vì họ được bảo vệ quyền lợi Nhận thức được điều đó, Nhà nước cũng đã tiến hành đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý đối với những đặc sản đặc trưng của từng vùng miền trong đất nước, có thể
kể đến nổi bật như nước mắm Phú Quốc, cà phê Buôn Ma Thuột, thanh long Bình Thuận…Bên cạnh đó là hơn 30 sản phẩm nông nghiệp khác đã được bảo
hộ chỉ dẫn địa lý, sẽ được liệt kê trong bảng 1.1 sau đây
Trang 9Bảng 1.1: Danh sách các chỉ dẫn địa lý đã được đăng bạ
(cập nhật đến ngày 26/7/2013)
Số đăng bạ Chỉ dẫn địa lý Sản phẩm Ngày cấp
00001 Phú Quốc Nước mắm 01.06.2001
00002 Mộc Châu Chè Shan tuyết 06.6.2001
00004 Buôn Ma Thuột Cà phê nhân 14.10.2005
00005 Đoan Hùng Bưởi quả 8.2.2006
00006 Bình Thuận Thanh Lonh 15.11.2006
00007 Lạng Sơn Hoa hồi 15.02.2007
00008 Pisco Rượu (Cộng hòa Peru) 23.5.2007
00009 Thanh Hà Quả vải thiều 25.5.2007
00010 Phan Thiết Nước mắm 30.05.2007
00011 Hải hậu Gạo tám xoan 31.05.2007
00013 Tân Cương Chè 20.09.2007
00014 Hồng Dân Gạo một bụi đỏ 25.06.2008
00015 Lục Ngạn Vải thiều 25.06.2008
00016 Hòa Lộc Xoài cát 30.09.2009
00017 Đại Hoàng Chuối Ngự 30.9.2009
00018 Văn Yên Quế vỏ 07.01.2010
00019 Hậu Lộc Mắm tôm 25.06.2010
00020 Huế Nón lá 19.7.2010
00021 Bắc Kạn Hồng không hạt 08.9.2010
00022 Phúc Trạch Quả bưởi 09.11.2010
00023 Scotch whisky Rượu mạnh
(Scốt-len) 19.11.2010
Trang 1000024 Tiên Lãng Thuốc lào 19.11.2010
00025 Bảy Núi Gạo Nàng Nhen
Thơm 10.10.2011
00026 Trùng Khánh Hạt dẻ 21.3.2011
00027 Bà Đen Mãng cầu
(Na) 10.8.2011
00028 Nga Sơn Cói 13.10.2011
00029 Trà My Quế vỏ 13.10.2011
00030 Ninh Thuận Nho 07.02.2012
00031 Tân Triều Bưởi 14.11.2012
00032 Bảo Lâm Hồng không hạt 14.11.2012
00033 Bắc Kạn Quýt 12.11.2012
00034 Yên Châu Xoài tròn 30.11.2012
00035 Mèo Vạc Mật ong bạc hà 01.03.2013
1.2 Những tồn tại cần khác phục
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được nhằm bảo hộ tốt các quyền sở hữu trí tuệ nói chung và sở hữu trí tuệ trong nông nghiệp nói riêng, vẫn còn tồn tại những bất cập về xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cần phải khắc phục một cách triệt để
Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong giai đoạn hiện nay được thực hiện bằng nhiều phương thức, thủ đoạn mới như áp dụng công nghệ cao, sử dụng các thiết bị hiện đại để sản xuất hàng hoá làm cho người tiêu dùng và cơ quan quản lý thị trường khó phát hiện thật /giả Các hành vi vi phạm này ngày càng nguy hiểm hơn ở tính chất vi phạm, có tổ chức chặt chẽ không những trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam mà còn mở rộng đối với tổ chức và
cá nhân nước ngoài Nhóm tội phạm thuộc lĩnh vực sở hữu trí tuệ có đặc điểm rất phức tạp vì chủ thể của tội phạm hầu hết là những người có điều
Trang 11vực mình đang quản lý, một số người còn có chức vụ, quyền hạn nhất định.
Bên cạnh đó, sự bùng nổ của khoa học, công nghệ đã tạo nhiều thiết bị, công
cụ, phương tiện phạm tội ngày càng tinh vi nên rất khó phát hiện Các tội xâm phạm sở hữu trí tuệ đã gây ra hoặc đe dọa đến thiệt hại nền kinh tế của
cả nước cũng như từng lĩnh vực, từng ngành, không chỉ riêng nông nghiệp, ảnh hưởng đến tài sản, sức khoẻ và tính mạng con người, tác động đến với cả cộng đồng, triệt tiêu sức sáng tạo và khiến giới đầu tư e ngại Một ví dụ tiêu biểu trong nông nghiệp có thể kể đến trường hợp của nước mắm Phú Quốc, hàng năm sản lượng nước mắm Phú Quốc chỉ đạt tối đa 15 triệu lít, nhưng có tới hàng trăm triệu lít nước mắm mang tên Phú Quốc tung ra thị trường
Bên cạnh tồn tại về hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, một trong những bất cập khác thuộc về phía nhà nước Những quy định về sở hữu trí tuệ và hành vi xâm phạm sở hữu trí tuệ lại chưa thật đầy đủ, chưa đồng bộ, đặc biệt
là những quy định về các biện pháp và chế tài xử lý mới chủ yếu dừng ở các hình thức xử lý hành chính, chưa phù hợp với tình hình thực tế, chưa đủ sức răn đe đối tượng vi phạm Chế tài về hình sự chỉ được áp dụng với cá nhân, trong khi nhóm tội về sở hữu trí tuệ chủ yếu là do tổ chức thực hiện, vì vậy, không thể truy cứu trách nhiệm hình sự với pháp nhân được Các quy định về yếu tố cấu thành của tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, tội xâm phạm quyền tác giả, tội sản xuất, buôn bán hàng giả chưa cập nhật được những nội dung mới trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, chưa phù hợp với yêu cầu của các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia, như Hiệp định thương mại Việt-Mỹ và các hiệp định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Bên cạnh đó, tổ chức và hoạt động của các cơ quan có trách nhiệm đấu tranh với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn thiếu đồng bộ
và chồng chéo, nhiều tầng nấc xử lý khiến hiệu lực thực thi bị phân tán, phức tạp Hiện có tới 6 loại cơ quan (UBND các cấp, thanh tra khoa học và công nghệ, thanh tra văn hóa, cảnh sát kinh tế, quản lý thị trường, hải quan) cùng
có thẩm quyền xử phạt vi phạm Theo thông lệ ở các nước trên thế giới thì tòa án phải đóng vai trò rất quan trọng trong việc xử lý các vi phạm về sở hữu trí tuệ, nhưng ở Việt Nam thì ngược lại, vai trò của tòa án rất mờ nhạt so với các cơ quan hành chính Mỗi năm có tới hàng nghìn vụ vi phạm sở hữu trí tuệ được xử lý bởi các cơ quan hành chính, nhưng số vụ được đưa ra xét xử tại tòa án lại không quá 10 trường hợp Chưa kể, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của phần lớn đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ pháp luật còn hạn chế.