Việt Nam hiện đã ban hành Luật thuế môi trường và hệ thống phí bảo vệ môi trường đối với một số loại hàng hóa gây ô nhiễm.. Theo Luật Thuế bảo vệ môi trường của Quốc hội Việt Nam định ng
Trang 2Nhóm tác giả
Nhóm trưởng: Thái Thị Quỳnh Anh, MSV: 1711110056
Sinh viên thuộc Viện Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Trường Đại học Ngoại thương SĐT: 0976639701
Email: quynhanh1999tsth@gmail.com
Nguyễn Thanh Huyền, MSV: 1711110336 Sinh viên thuộc Viện Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Trường Đại học Ngoại thương SĐT: 0352520807
Email: 99thanhhuyen@gmail.com
Nguyễn Thị Trang, MSV: 1711110724 Sinh viên thuộc Viện Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Trường Đại học Ngoại thương SĐT: 0347241005
Email: trangbee1004@gmail.com Bài viết được hoàn thành nhờ sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thu Hằng
Trang 3Bảng đánh giá thành viên
viên
giá từ nhóm Nguyễn Thị Trang 1711110724 - Phần tóm tắt
- Mục 1: Đặt vấn đề
- Mục 2: Cơ sở lý thuyết
- Mục 3: Phương pháp nghiên cứu
- Mục 4.1.1: Nội dung cơ bản của pháp luật thuế bảo vệ môi trường tại Việt Nam
100%
Thái Thị Quỳnh Anh 1711110056 - Nhóm trưởng
- Chỉnh sửa bài báo
- Mục 5: Một số kiến nghị và giải pháp cho Việt Nam
100%
Nguyễn Thị Thanh Huyền
1711110336 - Mục 4.1.2: Tình hình thực hiện
công tác thu thuế bảo vệ môi trường những năm gần đây
- Mục 4.2: Kinh nghiệm từ một số nước áp dụng chính sách thuế bảo
vệ môi trường
100%
Trang 4CHÍNH SÁCH THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM VÀ BÀI HỌC KINH
NGHIỆM TỪ CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Thái Thị Quỳnh Anh 1
Nguyễn Thị Thanh Huyền 2
Nguyễn Thị Trang 3
Tóm tắt
Bảo vệ môi trường được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau nhằm thay đổi nhận thức và hành vi của các chủ thể có khả năng tác động tiêu cực đến môi trường, cũng như khắc phục các sự cố môi trường Việt Nam hiện đã ban hành Luật thuế môi trường và hệ thống phí bảo vệ môi trường đối với một số loại hàng hóa gây ô nhiễm Tuy nhiên, do chưa
có nghiên cứu đầy đủ về các công cụ kinh tế trước khi ban hành nên quá trình triển khai còn gặp nhiều khó khăn, hiệu quả về mặt môi trường chưa cao Bài báo giới thiệu thực trạng việc
áp dụng công cụ thuế, phí bảo vệ môi trường tại Việt Nam, các hạn chế và kiến nghị một số giải pháp khắc phục
Từ khóa: Phí môi trường, thuế môi trường.
Mã số: 248 | Ngày nhận bài: 14/09/2019 | Ngày hoàn thành biên tập: 20/09/2019 |
Ngày duyệt đăng: 25/09/2019
Abstract
Protecting the environment is done by many different measures aimed at changing perceptions and behavior of entities potentially negative impact on the environment, as well
as overcoming environmental problems In Vietnam today issued the environmental tax law and environmental protection charges for certain polluting goods However, due to lack of adequate studies on economic instruments so the deployment process still faces many difficulties, environmental efficiency is not high This paper introduces the application situation of tax instruments, environmental protection fees in Vietnam, the limitations and propose some solutions
Key words: Environmental charges, environmental tax.
Paper No.248 | Date of receipt: 14/09/2019 | Dafe of revision: 20/09/2019 | Date of
approval: 25/09/2019
1 Sinh viên Viện Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Trường Đại học Ngoại thương, MSV: 1711110056
2 Sinh viên Viện Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Trường Đại học Ngoại thương, MSV: 1711110336
3 Sinh viên Viện Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Trường Đại học Ngoại thương, MSV: 1711110724
1| T ạ p c h í K I N H T Ế Đ Ố I N G O Ạ I
Trang 51 Đặt vấn đề
Trong thời gian qua, tăng trưởng kinh
tế, quá trình công nghiệp hóa và phát triển
đô thị tăng nhanh đã tác động xấu đến môi trường sinh thái; ô nhiễm ngày càng gia tăng cả trên mặt đất, trong lòng đất, nước
và trong không khí Có thể thấy, hiện trạng môi trường tiếp tục xuống cấp nêu trên là những thách thức nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam trong thời gian tới Việc đánh thuế bảo vệ môi trường góp phần nâng cao nhận thức của tổ chức, cá nhân đối với môi trường
Thuế bảo vệ môi trường góp phần hạn chế sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm gây ô nhiễm; khuyến khích người tiêu dùng sử dụng sản phẩm thay thế hoặc hạn chế tiêu dùng sản phẩm như xăng, dầu, than, Từ
đó, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong đầu tư, sản xuất và tiêu dùng của các
tổ chức, cá nhân; khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, giảm bớt các tác động tiêu cực của sản xuất, tiêu dùng đến môi trường, giảm thiểu ô nhiễm
và suy thoái về môi trường Hơn nữa, thuế mang lại nguồn thu nhất định cho ngân sách để đầu tư cải tạo môi trường Luật thuế bảo vệ môi trường có hiệu lực ngày 01/01/2012 Đây là luật thuế còn khá mới
mẻ ở nước ta và thời gian đi vào đời sống chưa lâu Do đó, bên cạnh những hiệu quả ban đầu được mong chờ, những tồn tại, bất cập dần bộc lộ Do việc đánh thuế bảo vệ
môi trường có vai trò quan trọng trong cả nhận thức lẫn tăng trưởng nên cần thiết có các nghiên cứu về chính sách thuế bảo vệ môi trường để cung cấp cái nhìn tổng quát
và theo sát hoạt động của chính sách thuế bảo vệ môi trường trong đời sống Đồng thời, học tập các kinh nghiệm của các nước trên thế giới, từ đó hoàn thiện luật pháp về thuế bảo vệ môi trường và nâng cao hiệu quả của việc thi hành thuế bảo vệ môi trường tại nước ta
2 Cơ sở lý thuyết và tổng quan về chính sách thuế bảo vệ môi trường tại Việt Nam
2.1 Định nghĩa thuế bảo vệ môi trường
Tên gọi: OECD gọi là thuế môi trường,
ở Việt Nam gọi là thuế bảo vệ môi trường
Theo OECD, thuế môi trường là loại thuế mà cơ sở thuế của nó là các nhóm sản phẩm tự nhiên gây tác động tiêu cực đến môi trường
Bốn loại thuế trong thuế môi trường gồm thuế năng lượng, thuế giao thông, thuế
ô nhiễm và thuế tài nguyên Thuế môi trường là một loại công cụ kinh tế nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường Theo Luật Thuế bảo vệ môi trường của Quốc hội Việt Nam định nghĩa thì Thuế bảo vệ môi trường là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa (khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường)
2.2 Vai trò của thuế bảo vệ môi trường
Thuế bảo vệ môi trường tạo ra nguồn thu ngân sách có thể được dùng để thực hiện các dự án bảo vệ môi trường hoặc cắt giảm các loại thuế khác Nguồn thu từ thuế bảo vệ môi trường có thể dùng để giữ gìn môi trường hoặc các phúc lợi khác Ngoài
ra, nguồn thu từ thuế bảo vệ môi trường có thể dùng để cắt giảm các loại thuế khác như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc tiền bảo hiểm xã hội
Đánh thuế trên đầu ra sẽ làm tăng giá sản phẩm, giảm mức tiêu dùng hoặc chuyển
Trang 6sang tiêu dùng các mặt hàng không gây ô nhiễm Mức tác động này của thuế phụ thuộc vào độ co giãn của cầu theo giá của các hàng hóa gây ô nhiễm và tính sẵn có của các hàng hóa thay thế khác
3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Số liệu được thu thập thuộc dạng thông tin thứ cấp
Nguồn dữ liệu thứ cấp được lấy từ nguồn xác minh có tính chính xác cao từ Economic Research, Tổng cục thuế Việt Nam, Luật Thuế bảo vệ môi trường Việt Nam
- Phương pháp sử dụng trong nghiên cứu: định tính, phân tích, nghiên cứu, so sánh và rút ra bài học kinh nghiệm
4 Kết quả nghiên cứu
4.1 Thực trạng chính sách thuế bảo
vệ môi trường tại Việt Nam
4.1.1 Nội dung cơ bản của pháp luật thuế bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Luật Thuế bảo vệ môi trường số 57/2010 /QH12 được thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2010 và có hiệu lực ngày 01/01/2012, quy định về đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế, người nộp thuế, căn cứ tính thuế, khai thuế, tính thuế, nộp thuế và hoàn thuế bảo vệ môi trường Đây là cơ sở pháp lý quan trọng của phát triển bền vững và có hiệu lực cao nhất trong các quy định về môi trường
Nghị định số 67 /2011/NĐ-CP ngày
08 tháng 08 năm 2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế bảo vệ môi trường
Thông tư 152/2011/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày 11 tháng 11 năm
2011 hướng dẫn Nghị định
67/2011/NĐ-CP ngày 08 tháng 08 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế Bảo vệ môi trường
4.1.1.1 Đối tượng chịu thuế
Về đối tượng chịu thuế, Luật thuế bảo
vệ môi trường quy định 08 nhóm hàng hoá vào diện chịu thuế bảo vệ môi trường:
xăng dầu (xăng, nhiên liệu bay, diesel, dầu hỏa, dầu mazut, dầu nhờn, mỡ nhờn); than đá; dung dịch hydro-chlo-fluoro-carbon (HCFC); túi ni lông thuộc diện chịu thuế;
thuốc bảo quản lâm sản; thuốc trừ cỏ;
thuốc khử trùng kho; thuốc trừ mối thuộc loại hạn chế sử dụng sẽ phải chịu thuế theo quy định của Luật Thuế bảo vệ môi trường
có hiệu lực từ ngày 1/1/2012
4.1.1.2 Người nộp thuế
Đối tượng nộp thuế là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hoá thuộc đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường
Một số trường hợp cụ thể:
Trường hợp ủy thác nhập khẩu hàng hóa thì người nhận ủy thác nhập khẩu là người nộp thuế
Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân làm đầu mối thu mua than khai thác nhỏ, lẻ mà không xuất trình được chứng từ chứng minh hàng hóa đã được nộp thuế bảo vệ môi trường thì tổ chức, hộ gia đình,
cá nhân làm đầu mối thu mua là người nộp thuế
4.1.1.3 Phương pháp tính thuế
Thuế bảo vệ môi trường phải nộp được tính theo công thức sau:
Thuế bảo vệ môi trường = Số lượng đơn vị X Mức thuế thuyệt đối trên một
Trang 7phải nộp hàng hóa tính thuế đơn vị hàng hóa
4.1.1.4 Căn cứ tính thuế
Căn cứ tính thuế bảo vệ môi trường là
số lượng hàng hóa tính thuế và mức thuế tuyệt đối
Số lượng hàng hóa tính thuế được quy định như sau:
+ Đối với hàng hóa sản xuất trong nước, số lượng hàng hóa tính thuế là số lượng hàng hóa sản xuất bán ra, trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho, khuyến mại, quảng cáo
+ Đối với hàng hóa nhập khẩu, số lượng hàng hóa tính thuế là số lượng hàng hóa nhập khẩu
+ Đối với hàng hoá là nhiên liệu hỗn hợp chứa xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch và nhiên liệu sinh học thì số lượng hàng hoá tính thuế trong kỳ là số lượng xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch có trong số lượng nhiên liệu hỗn hợp nhập khẩu hoặc sản xuất bán ra, trao đổi, tặng cho, đưa vào tiêu dùng nội bộ được quy đổi ra đơn vị đo lường quy định tính thuế của hàng hoá tương ứng Cách xác định như sau:
Số lượng xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch tính thuế
=
Số lượng nhiên liệu hỗn hợp nhập khẩu, sản xuất bán ra, tiêu dùng, trao đổi, tặng cho
x
Tỷ lệ phần trăm (%) xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch có trong nhiên liệu hỗn hợp
+ Đối với túi ni lông đa lớp được sản xuất hoặc gia công từ màng nhựa đơn HDPE, LDPE, LLDPE và các loại màng nhựa khác (PP, PA, ) hoặc các chất khác như nhôm, giấy… thì thuế bảo vệ môi trường được xác định theo tỷ lệ % trọng lượng màng nhựa đơn HDPE, LDPE, LLDPE có trong túi ni lông đa lớp Căn cứ
định mức lượng màng nhựa đơn HDPE, LDPE, LLDPE sử dụng sản xuất hoặc gia công túi ni lông đa lớp, người sản xuất hoặc người nhập khẩu túi ni lông đa lớp tự
kê khai, tự chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình
4.1.1.5 Biểu khung thuế
Bảng 1: Biểu khung thuế bảo vệ môi trường Số
thứ tự
tính
Mức thuế
(đồng/1 đơn vị hàng hóa)
I Xăng, dầu, mỡ nhờn
Trang 87 Mỡ nhờn kg 300-2.000
II Than đá
III Dung dịch
IV Túi ni lông thuộc diện chịu thuế kg 30.000-50.000
V Thuốc diệt cỏ thuộc loại hạn chế sử
VI Thuốc trừ mối thuộc loại hạn chế
VII Thuốc bảo quản lâm sản thuộc loại
VIII Thuốc khử trùng kho thuộc loại
Bảng 2: Tổng hợp số thu thuế bảo vệ môi trường giai đoạn 2012-2017
Đơn vị tính: tỷ đồng
1
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
3,245,419 3,584,262 3,937,856 4,192,862 4,530,398 5,007,857
2 Tổng thu NSNN 754,572 828,348 877,697 997,785 1,039,000 1,212,180 3
Tổng thu thuế nội địa
422,870 513,090 537,997 740,062 829,000 99,280
4
Tổng thu thuế bảo vệ môi trường
5
Tỷ lệ thu
từ thuế bảo vệ môi trường
so với GDP (%)
6
Tỷ lệ thu
từ thuế bảo vệ môi trường
so với tổng thu NSNN (%)
7 Tỷ lệ thu
từ thuế bảo vệ môi trường
so với
Trang 9tổng thu thuế nội địa (%)
Nguồn: Bộ Tài Chính
Nhìn bảng số liệu trên có thể thấy, trong giai đoạn từ 2012-2017, số thu thuế bảo vệ môi trường liên tục tăng, đặc biệt là bước sang năm thứ 2015, khi nền kinh tế Việt Nam dần thoát ra khỏi khủng hoảng, con số này có sự gia tăng mạnh từ 27,020
tỷ đồng năm 2015 tăng lên đạt đến con số 44,323 tỷ đồng năm 2016 Với số thuế
này, Nhà nước vừa có thêm nguồn thu để giải quyết các vấn đề về môi trường, đồng thời đảm bảo được tính cạnh tranh của nền kinh tế đối với các sản phẩm nội địa của Việt Nam
Về cơ cấu thuế bảo vệ môi trường cho từng mặt hàng, số liệu này được thể hiện
rõ qua bảng sau:
Bảng 3: Số thu thuế bảo vệ môi trường chi tiết các nhóm hàng hóa từ năm 2012-2017
Đơn vị tính: tỷ đồng
Tổng số thu thuế bảo vệ
1.4 Dầu mazut, dầu nhờn,
1.6 Dung dịch
Trang 10STT Chỉ tiêu 2012 2013 2014 2015 2016 2017
2.5 Dầu mazut, dầu nhờn,
3
Nhóm hàng hóa khác sản xuất trong nước và nhập khẩu
Nguồn: Bộ Tài chính
4.1.2.2 Những kết quả đạt được trong công tác thu thuế bảo về môi trường
Đạt được kết quả nêu trên là cố gắng,
nỗ lực của toàn ngành thuế trong quá trình triển khai, thực hiện và quản lý thu thuế bảo vệ môi trường Cụ thể:
- Đối với Tổng cục thuế: Phối hợp với
Vụ Chính sách thuế, Bộ Tài chính để trình
Bộ, trình Chính phủ, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành các Nghị định, Thông
tư hướng dẫn về thuế bảo vệ môi trường
và các Nghị quyết quy định biểu mức thuế bảo vệ môi trường;
- Đối với cơ quan thuế các cấp, Luật thuế bảo vệ môi trường đã được tích cực triển khai, thực hiện dưới các hình thức như tập huấn về chính sách thuế bảo vệ môi trường cho các cán bộ thuế và đơn vị
có liên quan; phát hành tờ rơi, pano, áp phích để tuyên truyền; tổ chức các tuần lễ lắng nghe ý kiến của người nộp thuế…
- Đối với ngành thuế nói chung, công tác thanh tra, kiểm tra thuế bảo vệ môi trường được tăng cường đẩy mạnh nhằm
xử lý, răn đe kịp thời các hành vi gian lận trong việc kê khai, xác định và thực hiện nghĩa vụ thuế bảo vệ môi trường
4.1.2.3 Những hạn chế trong công tác thu thuế bảo vệ môi trường
Thứ nhất, xét trên phương diện công tác quản lý thuế của các cơ quan thuế Mặc dù ngành thuế đã rất quan tâm đến công tác tuyên truyền, hỗ trợ nhằm làm cho các doanh nghiệp, cá nhân có thể hiểu và thực hiện tốt các quy định về chính sách thuế, tuy nhiên các hình thức tuyên truyền vẫn chưa thực sự phong phú và đa dạng về hình thức thực hiện, chưa có sự đánh giá ưu và nhược điểm của từng hình thức đối với từng địa phương để có sự lựa chọn hình thức cho phù hợp với trình độ
gây thất thoát nguồn thu cho ngân sách nhà nước
Thứ hai, xét về phương diện chính sách thuế bảo vệ môi trường
- Về đối tượng chịu thuế:
Các đơn vị sản xuất túi xốp dạng tái chế lại, nguyên liệu sản xuất là nhựa phế liệu như túi xốp, túi nhựa các loại, vỏ chai nhựa … để tái chế lại thì có thuộc đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường hay không thì Luật thuế bảo vệ môi trường chưa có quy định cụ thể Nhưng rõ ràng, xét về mặt tính chất hóa học thì các sản phẩm này vẫn được làm từ nhựa, gây ảnh hưởng lớn đến môi trường khi sử dụng
Luật Thuế bảo vệ môi trường và Nghị quyết số 1269/2011/UBTVQH12 ngày 14/7/2011 nêu ra 8 nhóm đối tượng phải chịu thuế môi trường Trên thực tế, có nhiều sản phẩm, hàng hóa mà việc sử dụng
có khả năng gây ô nhiễm môi trường nhưng lại chưa đưa vào diện điều chỉnh của Luật Thuế Bảo vệ môi trường, ví dụ như khí thải công nghiệp, thuốc lá, chất thải phóng xạ…
- Về đối tượng không chịu thuế: Thông
tư số 159/2012/TT-BTC ngày 28/9/2012 của Bộ Tài chính quy định bao bì đóng gói sẵn hàng hóa (kể cả hàng xuất khẩu và tiêu thụ trong nước) không thuộc đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường Tuy nhiên, người nộp thuế là người sản xuất túi ni lông khi xuất bán phải kê khai, nộp thuế nhưng không thể biết người mua sử dụng túi ni lông này để làm gì Cơ quan thuế không thể theo dõi, quản lý được việc sử dụng của người mua thực tế là phục vụ vào mục đích gì? Nếu để đơn vụ tự khai, tự nộp thì quy định này sẽ gây kẽ hở để người bán và người mua trốn thuế