1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn FTU) văn hóa nhật bản trong đàm phán thương mại giữa doanh nghiệp nhật bản và doanh nghiệp việt nam

82 15 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn Hóa Nhật Bản Trong Đàm Phán Thương Mại Giữa Doanh Nghiệp Nhật Bản Và Doanh Nghiệp Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Phương
Người hướng dẫn PGS. TS Nguyễn Văn Hồng
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh Tế Đối Ngoại
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, việc tìm hiểu văn hoá cũng như tập quán kinh doanh của các doanh nghiệp Nhật Bản trong đàm phán thương mại quốc tế là điều vô cùng cần thiết để các doanh nghiệp có thể thành công

Trang 1

KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

-*** -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại

VĂN HÓA NHẬT BẢN TRONG ĐÀM PHÁN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ GIỮA DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN VÀ DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Họ và tên sinh viên : Nguyễn Thị Phương

Mã sinh viên : 1311110537 Lớp : Anh 17 - Khối 6 - KTĐN

Người hướng dẫn khoa học : PGS TS Nguyễn Văn Hồng

Hà Nội, tháng 5 năm 2017

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀM PHÁN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ VĂN HÓA TRONG ĐÀM PHÁN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 4

1.1 Khái quát về đàm phán thương mại quốc tế 4

1.1.1 Khái niệm đàm phán thương mại quốc tế 4

1.1.2 Đặc điểm của đàm phán thương mại quốc tế và một số loại hình chiến lược 5

1.1.3 Quy trình đàm phán 10

1.1.4 Đối tượng đàm phán - Hợp đồng thương mại quốc tế 14

1.2 Khái quát về văn hóa trong đàm phán thương mại quốc tế 17

1.2.1 Khái niệm 17

1.2.2 Các yếu tố cấu thành văn hóa 19

1.2.3 Ảnh hưởng của văn hóa đến đàm phán thương mại quốc tế 22

CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA NHẬT BẢN ĐẾN ĐÀM PHÁN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 29

2.1 Những nét văn hóa đặc trưng của Nhật Bản 29

2.1.1 Cơ sở hình thành văn hóa Nhật Bản 29

2.1.2 Những nét văn hóa đặc trưng của con người Nhật Bản 31

2.2 Ảnh hưởng của văn hóa Nhật Bản đến đàm phán thương mại quốc tế với các doanh nghiệp Việt Nam 37

2.2.1 Văn hóa Nhật Bản ảnh hưởng đến mục đích đàm phán 37

Trang 3

phán 39 2.2.3 Văn hóa Nhật Bản ảnh hưởng đến phong cách cá nhân nhà đàm phán

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ MẶT VĂN HÓA NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐÀM PHÁN THƯƠNG MẠI GIỮA DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN VÀ DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 52

3.1 Thực trạng quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – Nhật Bản 52

Trang 4

3.3 Giải pháp về mặt văn hóa nhằm nâng cao hiệu quả đàm phán thương mại

quốc tế với các doanh nghiệp Nhật Bản 63

3.3.1 Về phía các cơ quan Nhà nước 63

3.3.2 Về phía các doanh nghiệp 67

KẾT LUẬN 72

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nếu kinh tế là nền tảng vật chất của xã hội thì văn hóa là nền tảng tinh thần của đời sống xã hội Văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế

Trong thời đại kinh tế tri thức, nguồn gốc của sự giàu có không chỉ là tài nguyên thiên nhiên, vốn, kỹ thuật mà yếu tố ngày càng quan trọng và quyết định là nguồn lực con người Văn hóa làm cho các yếu tố đó chất lượng hơn và liên kết các giá trị riêng lẻ của mỗi người với nhau tạo thành nguồn lực vô tận của mỗi quốc gia Không ít nước

có nhiều tài nguyên thiên nhiên nhưng rất nghèo đói, trái lại có nước tài nguyên thiên nhiên rất nghèo nhưng kinh tế lại rất giàu chính là nhờ coi trọng nâng cao dân trí, hun đúc dân khí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, nghĩa là rất coi trọng văn hóa Nhật Bản là ví dụ điển hình cho một đất nước có nền văn hóa phát triển ảnh hưởng mạnh

mẽ đến việc phát triển con người và nền kinh tế

Ngày nay, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế đã trở thành xu thế khách quan chi phối quan hệ quốc tế và sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó Với quan điểm: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc

tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững, đảm bảo tính độc lập tự chủ

và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ gìn an ninh quốc gia, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái”, Việt Nam đã và đang không ngừng mở rộng quan hệ hợp tác song phương và đa phương với nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Nhật Bản

Nhật Bản là một trong những đối tác hàng đầu của Việt Nam trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế thương mại Trải qua biết bao thăng trầm của những biến cố lịch sử, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Nhật Bản chính thức được thiết lập vào ngày 21/9/1973, thúc đẩy các mối quan hệ thương mại giữa hai nước phát triển mạnh mẽ Hàng loạt các Hiệp định Thương mại song phương và đa phương được ký kết như Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam-Nhật Bản, VJEPA (2008); Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN-Nhật Bản, AJCEP (2008); Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương, TPP (2016) … khẳng định mong muốn hợp tác và phát triển

Trang 6

của hai bên, vừa mở ra những cơ hội mới đầy hấp dẫn nhưng cũng mang đến nhiều thách thức cho các doanh nghiệp trong nước Hiện nay, Nhật Bản không chỉ là nhà viện trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam mà còn là nhà đầu tư có vốn đầu tư nước ngoài được thực hiện nhiều nhất ở Việt Nam cũng một trong những thị trường xuất nhập khẩu đầy tiềm năng với các doanh nghiệp trong nước Trong thời gian qua, quan hệ thương mại giữa hai nước phát triển ngày càng mạnh mẽ sôi động hơn và cũng ngày càng đi vào thế ổn định hơn, vững chắc hơn Số lượng các hợp đồng kinh tế được ký kết giữa các doanh nghiệp hai nước ngày càng nhiều và giá trị hợp đồng ngày càng cao Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn gặp phải rất nhiều khó khăn khi tham gia vào thị trường được đánh giá là một trong số những thị trường khó tính nhất thế giới này Văn hóa là một trong số những rào cản đầu tiên cản trở quá trình tiếp xúc

và đàm phán thương mại giữa doanh nghiệp hai nước Vì vậy, việc tìm hiểu văn hoá cũng như tập quán kinh doanh của các doanh nghiệp Nhật Bản trong đàm phán thương mại quốc tế là điều vô cùng cần thiết để các doanh nghiệp có thể thành công và ký kết được những hợp đồng có lợi nhất khi kinh doanh với người Nhật Thế nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ điều kiện để tìm hiểu một cách cụ thể và kỹ lưỡng vấn đề này Một khi vấn đề văn hóa trong đàm phán thương mại quốc tế vẫn chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức sẽ dẫn đến nhiều thua thiệt cho các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là khi đàm phán kinh doanh với đối tác có nền văn hoá đặc trưng và độc đáo như Nhật Bản

Với mong muốn đem đến một cái nhìn tổng quát về nền văn hóa đặc sắc của Nhật Bản và những ảnh hưởng của nó đến đàm phán thương mại quốc tế của quốc gia này, đồng thời đề xuất những biện pháp về mặt văn hóa nhằm nâng cao hiệu quả đàm phán của các doanh nghiệp Việt Nam với các đối tác Nhật Bản,tôi đã lựa chọn

đề tài: “Văn hóa Nhật Bản trong đàm phán thương mại giữa doanh nghiệp Nhật Bản

và doanh nghiệp Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp

Trang 7

Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các giải pháp cho doanh nghiệp Việt Nam để tăng cường hiểu biết và vận dụng một cách hiệu quả yếu tố văn hóa trong quá trình đàm phán với đối tác Nhật Bản đồng thời đề xuất một số khuyến nghị đối với các cơ quan Nhà nước

để kịp thời có những chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước thực hiện tốt hơn

và hiệu quả hơn công tác đàm phán thương mại với Nhật Bản và các quốc gia khác

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là văn hoá Nhật Bản và những ảnh hưởng của văn hoá Nhật đến việc đàm phán ký kết hợp đồng với các doanh nghiệp Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu của khoá luận giới hạn ở việc phân tích các đặc trưng văn hóa Nhật Bản trong đàm phán thương mại với các doanh nghiệp Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa vào phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin Cụ thể, bài khoá luận đã kết hợp các phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp để giải quyết những vấn đề liên quan đến nội dung đề tài

5 Bố cục của khoá luận

Ngoài lời mở đầu và kết luận, khoá luận được chia làm 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về đàm phán thương mại quốc tế và văn hóa trong đàm phán thương mại quốc tế

Chương 2: Ảnh hưởng của văn hóa Nhật Bản đến đàm phán thương mại quốc

tế với doanh nghiệp Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp về mặt văn hóa nhằm nâng cao hiệu quả đàm phán thương mại giữa doanh nghiệp Nhật Bản và doanh nghiệp Việt Nam

Trang 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀM PHÁN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ VĂN HÓA TRONG

ĐÀM PHÁN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

1.1 Khái quát về đàm phán thương mại quốc tế

1.1.1 Khái niệm đàm phán thương mại quốc tế

Đàm phán là hành vi giao tiếp của con người nhằm đạt được mục đích nào đó trong đời sống xã hội Hoạt động đàm phán diễn ra rất thường xuyên, là hoạt động phổ biến trong cuộc sống loài người Trong từng phạm vi khác nhau, đàm phán tồn tại ở những hình thức khác nhau và mang những mục đích khác nhau

Theo quan niệm thông thường nhất, đàm phán được hiểu là cuộc đối thoại giữa hai hay nhiều bên về yêu cầu và nguyện vọng của bên này đối với bên kia xoay quanh vấn đề có liên quan đến quyền lợi của tất cả các bên Còn theo quan điểm học thuật thì đến nay đã có khá nhiều định nghĩa về đàm phán do các chuyên gia nổi tiếng trên thế giới đưa ra, mỗi người đều có nhận thức khác nhau xuất phát từ quan điểm và mục đích riêng của mình, tuy nhiên vấn đề cốt lõi của khái niệm cơ bản vẫn thống nhất

Theo giáo sư Gerald Nierberg, nguyên hội trưởng Hội đàm phán học Mỹ thì

“Đàm phán là cơ sở để thỏa mãn nhu cầu của chúng ta thông qua sự đồng tình của người khác đồng thời có tình đến nhu cầu của họ” (Nguyễn Văn Hồng, 2012, tr.10) Trong khi đó đứng trên cơ sở quyền lợi giữa các bên, hai giáo sư Roger Fisher

và William Ury cho rằng: “Đàm phán là phương tiện cơ bản để đạt được cái ta mong muốn từ người khác Đó là quá trình giao tiếp có đi có lại, được thiết kế nhằm đạt thỏa thuận trong khi giữa ta và đối tác có những quyền lợi có thể chia sẻ và những quyền lợi đối kháng” (Nguyễn Văn Hồng, 2012, tr.10)

Herb Cohen – một trong những nhà đàm phán hàng đầu thế giới đã đúc kết ra rằng: “Đàm phán là một lĩnh vực kiến thức và sự nỗ lực chú trọng vào việc làm hài lòng những người mà bạn muốn nhận từ họ (một hoặc nhiều)” (Nguyễn Văn Hồng,

2012, tr.10)

Trang 9

Qua các định nghĩa nghĩa trên, đàm phán có thể được hiểu là quá trình giao tiếp giữa các bên có lợi ích chung và lợi ích xung đột nhằm mục đích điều hòa các xung đột và phát triển các lợi ích chung

Hiện nay, nền kinh tế thị trường phát triển, đàm phán thương mại trở thành một khâu vô cùng quan trọng trọng quyết định hiệu quả của giao dịch kinh tế Để tiến hàng một giao dịch mua bán người ta phải tiến hành đàm phán về các điều kiệm mua bán như giá cả, chất lượng, thời gian giao hàng, phương thức thanh toán, điều kiện vận tải, bảo hành và khiếu nại…

Vậy đàm phán thương mại là quá trình thuyết phục, thỏa hiệp giữa các bên mua

và bên bán về vấn đề liên quan đến giao dịch mua bán hàng hóa và dịch vụ nhằm đạt được sự nhất trí để ký kết hợp đồng thương mại

Khi hoạt động đàm phán thương mại đã vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia thì được gọi là hoạt động “đàm phán ngoại thương” hay còn gọi là “đàm phán thương mại quốc tế” Khi đó chủ thể tham gia vào các hoạt động đàm phán là các doanh nghiệp hoặc thương gia có trụ sở ở các nước khác nhau, đối tượng của các hoạt động đàm phán là hợp đồng thương mại quốc tế về hàng hóa, dịch vụ, tiền tệ… di chuyển qua nhiều lãnh thổ quốc gia khác nhau, chịu sự điều chỉnh của nhiều nguồn luật khác nhau,… và chính điều đó làm nên tính quốc tế cho hoạt động đàm phán

Như vậy, đàm phán thương mại quốc tế có thể được hiểu là quá trình giao tiếp

và thuyết phục giữa các bên (doanh nghiệp và thương nhân) có trụ sở ở các nước khác nhau nhằm đạt được sự thống nhất về một hoặc một số vấn đề liên quan tới thương mại quốc tế, vấn đề liên quan đến di chuyển hàng hóa, dịch vụ hoặc tiền tệ

để đáp ứng lợi ích của mỗi bên tham gia quá trình đàm phán

1.1.2 Đặc điểm của đàm phán thương mại quốc tế và một số loại hình chiến lược

1.1.2.1 Đặc điểm của đàm phán thương mại quốc tế

Trong giao dịch thương mại quốc tế, các chủ thể thường có sự khác biệt và xung đột về lợi ích, điều này đòi hỏi một quá trình thỏa hiệp nhằm đi tới sự nhất trí về cách nhận định, quan niệm, cách xử lý những vấn đề phát sinh nhằm đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể Quá trình này được gọi là đàm phán thương mại quốc tế

Trang 10

Đàm phán thương mại quốc tế vừa mang những đặc điểm của đàm phán thông thường nói chung vừa mang những đặc điểm riêng biệt do đặc thù của hoạt động ngoại thương mang lại

Thứ nhất, đàm phán trong giao dịch ngoại thương chịu tác động của các yếu tố

bên ngoài lên quá trình đàm phán như môi trường đàm phán: Chính sách kinh tế của các quốc gia chủ thể, tình hình cung – cầu của loại hàng hóa, dịch vụ trao đổi, tính cạnh tranh trên từng thị trường ; sự khác biệt về yếu tố chính trị, pháp luật, văn hóa của từng quốc gia… Ngoài ra, nó còn chịu sự chi phối của các yếu tố bên trong như tâm lý, tính cách, tư duy, tình cảm và phong cách ứng xử của các thành viên tham gia đàm phán và đặc biệt là sự chi phối về thế và lực giữa các chủ thể Trong đàm phán,

vị thế của mỗi bên là yếu tố chi phối khá lớn đến kết quả của hoạt động đàm phán

Khi một bên có năng lực, vị thế hơn hẳn bên kia thì thường giành được thế chủ động

và thu được nhiều lợi ích hơn phía bên kia và ngược lại

Thứ hai, trong đàm phán thương mại quốc tế tồn tại sự thống nhất giữa các lợi

ích đối lập Nói cách khác, đàm phán là quá trình thỏa hiệp về lợi ích và thống nhất các mặt đối lập Khi tham gia vào một giao dịch ngoại thương, các bên chủ thể đều muốn tối đa hóa lợi ích và nhu cầu của mình và điều này có thể trực tiếp hay gián tiếp gây ảnh hưởng đến quyền lợi và lợi ích của bên kia Những lợi ích kinh tế đối lập này gây ra xung đột trong quá trình đàm phán và nếu cả người mua và người bán đều chỉ theo đuổi lợi ích riêng của mình mà không quan tâm đến lợi ích của bên kia thì đàm phán sẽ đổ vỡ Cả hai bên sẽ đều bỏ lỡ lợi ích họ lẽ ra thu được nếu chịu nhượng bộ bớt phần lợi ích của mình cho đối phương Do vậy thông thường trong đàm phán thương mại các bên thường nhượng nhượng bộ lẫn nhau để đạt được thỏa hiệp đảm bảo lợi ích căn bản cho cả hai bên, đó là mặt mang tính hợp tác của đàm phán Nhà đàm phán vừa phải tìm kiếm cho mình càng nhiều lợi ích càng tốt vừa thỏa mãn nhu cầu tối thiểu của đối phương Đây chính là biểu hiện của sự thống nhất các mặt đối lập trong hoạt động đàm phán

Thứ ba, đàm phán thương mại quốc tế là hoạt động vừa mang tính khoa học,

vừa mang tính nghệ thuật Đàm phán mang tình khoa học do quá trình đàm phán là quá trình khoa học về phân tích, giải quyết các vấn đề một cách hệ thống, sáng tạo ra các giải pháp tối ưu cho các bên liên quan theo một quy trình, cách thức, đối sách đã

Trang 11

được vạch ra từ trước tuân theo nguyên tắc chung Mặt khác, tính nghệ thuật của đàm phán thể hiện ở khả năng ứng biến, sự vận dụng khôn khéo các chiến thuật, khéo ứng

xử và vận dụng các biện pháp trong đàm phán trở thành nghệ thuật, kỹ năng kỹ xảo của người đàm phán Một nhà đàm phán giỏi luôn biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính khoa học và nghệ thuật của đàm phán

1.1.2.2 Một số loại hình chiến lược trong đàm phán

Như chúng ta đã biết, trong cuộc sống chúng ta luôn gặp phải các tình huống cần dẫn tới đàm phán, nhất là trong kinh doanh thì càng không thế tránh khỏi Trên thực tế, người ta đã vạch ra rất nhiều chiến lược đàm phán trong hoạt động thương mại quốc tế nhằm đạt được những mục đích nhất định Có hai cách tiếp cận phổ biến nhất trong kinh doanh để chia kiểu đàm phán Cách thứ nhất, đàm phán được chia thành hai kiểu: Thắng – Thắng (Win – Win), Thắng – Thua (Win – Lose)

Kiểu Thắng – Thắng (Win- Win)

Thắng – Thắng còn được gọi là kiểu thương lượng hòa hợp khi mà cả hai bên đều có thể đạt được lợi ích Trong quá trình đàm phán hai bên trao đổi thông tin cởi

mở, luôn giữ thiện chí để có thể tìm ra biện pháp xử lý tốt nhất, đảm bảo lợi ích tối

đa nhất có thể cho cả hai bên Kiểu đàm phán này lấy sự hợp tác lâu dài làm mục tiêu chính và sẽ được tiếp tục phát triển

Kiểu Thắng – Thua (Win – Lose)

Thắng – Thua là kiểu đàm phán mà một trong hai bên luôn hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi ích của mình mà không quan tâm đến lợi ích của đối tác Kiểu đàm phán này thường đưa xung đột đàm phán lên tới đỉnh điểm đến mức một mất một còn và rất khó có thế đi tới thống nhất Trừ khi một trong hai bên rơi vào thế yếu hơn và chấp nhận chịu thiệt nếu không đàm phán sẽ tan vỡ

Ở cách tiếp cận thứ hai, đàm phán được chia thành ba kiểu chiến lược đàm phán sau: Chiến lược đàm phán kiểu cứng, Chiến lược đàm phán kiểu mềm, Chiến lược đàm phán có nguyên tắc

Chiến lược đàm phán kiểu cứng

Đàm phán kiểu cứng hay còn được gọi là đàm phán kiểu cạnh tranh hay tấn công Trong phương thức đàm phán này, người đàm phán coi bàn đàm phán là một cuộc thi đua sức mạnh và ý chí Họ tập trung mọi lực lượng vào theo đuổi lợi ích của

Trang 12

mình và không quan tâm đến lợi ích của bên kia Trong quá trình đàm phán, họ luôn giữ thái độ cứng rắn để bảo vệ lập trường của mình, chèn ép, lấn át đối phương Nếu

cả hai bên đều sử dụng chiến lược này thì cuộc đàm phán sẽ rơi vào trạng thái rằng

co, làm cho quan hệ hai bên trở nên căng thẳng, có thể dẫn đến sự tan vỡ của đàm phán Kiểu đàm phán có nét tương đồng với kiểu Thắng – Thua, chỉ khi một trong hai bên chiếm ưu thế hơn hẳn trên thị trường và mục đích của họ là thu được lợi ích càng cao càng tốt, không quan tâm đến quan hệ hợp tác lâu dài giữa hai bên mới có thể được áp dụng

Chiến lược đàm phán kiểu mềm

Đàm phán kiểu mềm là đàm phán kiểu hợp tác hay phòng ngự Người đàm phán coi trọng việc duy trì mối quan hệ hợp tác hai bên nên thường tránh xung đột trực tiếp, luôn mong muốn giải quyết vấn đề một cách hữu nghị dù có phải chịu nhượng

bộ hơn so với đối tác Nếu cả hai bên đều lựa chọn chiến lược đàm phán này thì khả năng thành công của đàm phán là rất lớn, tốc độ đàm phán nhanh, hai bên duy trì được mối quan hệ tốt đẹp Tuy nhiên, vì lí do lợi ích lôi kéo nên sẽ rất khó để hai bên duy trì được thái độ này và khi một bên lựa chọn kiểu mềm gặp một bên lựa chọn kiểu cứng sẽ phải chịu thiệt hại rất lớn Do vậy, chiến lược đàm phán kiểu mềm chỉ thường được sử dụng trong đàm phán với các đối tác đã có mối quan hệ hợp tác lâu dài

Chiến lược đàm phán kiểu nguyên tắc

Đây có thể nói là chiến lược đàm phán có sự kết hợp nhuần nhuyễn cả hai chiến lược kiểu cứng và kiểu mềm nhằm đạt được sự hài hòa về lợi ích chung và lợi ích đối kháng của cả hai bên Chiến lược đàm phán này giúp các chủ thể vừa duy trì được mối quan hệ tốt đẹp vừa có thể đạt được lợi ích như mong muốn Chiến lược này được “Trung tâm kế hoạch nghiên cứu đại học Havard” đưa ra đầu tiên, chủ trương cứng rắn với công việc, ôn hòa với con người, tách rời mâu thuẫn giữa công việc và con người Chiến lược là sự tổng hợp của bốn nguyên tắc sau:

Thứ nhất, tách riêng vấn đề con người và mâu thuẫn Không mang mâu thuẫn,

bất đồng trong công việc vào mối quan hệ của con người Nhà đàm phán cần kìm nén cảm xúc, lắng nghe ý kiến của đối phương tránh gây tranh cãi làm ảnh hưởng đến quá trình và hiệu quả của đàm phán

Trang 13

Thứ hai, trình bày ý kiến theo tinh thần thiện chí nhưng lập trường phải kiên

định Các nhà đàm phán cần giữ được thái độ tích cực khi đưa ra ý kiến cũng như tiếp nhận quan điểm của đối tác, duy trì bầu không ý làm việc ôn hòa Tuy nhiên, đối với lập trường ban đầu phải kiên định, nếu dễ dàng bị thuyết phục sẽ khiến đối tác tiếp tục lấn tới, gây phương hại đến lợi ích của mình

Thứ ba, tập trung vào các lợi ích chung, nhấn mạnh vào các lợi ích chung sau

đó mới thỏa thuân lợi ích đối kháng Việc chú trọng vào các lợi ích đối kháng ngay

từ đầu sẽ khiến bầu không khí căng thẳng, bất lợi cho quá trình đàm phán Việc tập trung và nhấn mạnh vào các lợi ích chung sẽ khiến cho hai bên dễ dàng xây dựng không khí hợp tác cho đàm phán, tạo điều kiện cho việc tìm hiểu và nhân nhượng lẫn nhau trong cách giải quyết các lợi ích đối lập

Thứ tư, quyết định phải được đưa ra dựa trên những tiêu chuẩn khách quan

Trong trường hợp này sinh những lợi ích đối kháng thì cách tốt nhất cho các bên đó

là dựa trên một tiêu chuẩn công bằng khách quan nào đó độc lập với ý chí chủ quan của mỗi bên Bằng cách đàm phán dựa theo những tiêu chuẩn công bằng này sẽ khiến các bên không phải chịu thua thiệt, giải quyết vấn đề hiệu quả hơn

Từ những phân tích trên, chúng ta có thể thấy sự khác biệt giữa các chiến lược

và cụ thể hơn qua một số các tiêu chí sau:

Trang 14

Bảng 1.1: Sự khác biệt giữa ba kiểu chiến lược đàm phán

cứng

Đàm phán kiểu mềm

Đàm phán kiểu nguyên tắc

Giải quyết vấn đề hiệu quả và thân thiện

đối lập

Lợi ích hai bên – không đối lập

Lợi ích chung – không đối lập

Khi cả hai bên đều hướng tới mục tiêu thiết lập quan hệ hợp tác lâu dài

Khi hai bên ngang tài ngang sức và có thiện ý hợp tác

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)

1.1.3 Quy trình đàm phán

Trong thực tế thì quá trình đàm phán thương mại quốc tế diễn ra rất đa dạng và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Đối với các cuộc đàm phán khác nhau, nhà đàm phán có thể lựa chọn các bước đàm phán khác nhau để phù hợp Ví dụ như đối với các cuộc đàm phán nhỏ và đơn giản giữa các đối tác đã có mối quan hệ hợp tác lâu dài thì các bước trong quá trình đàm phán có thể được rút gọn, đẩy nhanh tiến độ đàm phán Ngược lại, với những đàm phán có quy mô lớn, tính cạnh tranh cao, các chủ thể lần đầu hợp tác thì các khâu trong quá trình đàm phán cần phải được tuân thủ chặt chẽ, đặc biệt là khâu chuẩn bị, có thể bổ sung các buổi gặp mặt tiếp xúc để tìm hiểu đối tác kỹ lưỡng hơn trước giai đoạn đàm phán chính thức Theo GS.TS Đoàn Thị Hồng Vân và ThS Kim Ngọc Đạt (2004), quá trình đàm phán thương mại quốc

tế được chia thành năm giai đoạn sau: Giai đoạn chuẩn bị; Giai đoạn tiếp xúc; Giai đoạn đàm phán; Giai đoạn kết thúc đàm phán- ký hợp đồng; Giai đoạn rút kinh

Trang 15

nghiệm (Đàm Thị Hồng Vân, Kim Ngọc Đạt, 2004, tr28) Cách chia này có phần cụ thể và chi tiết hơn trong từng giai đoạn Tuy nhiên, cách chia quy trình đàm phán thành ba giai đoạn chính lại có phần phổ biến và khái quát hơn: Giai đoạn chuẩn bị đàm phán; Giai đoạn đàm phán; Giai đoạn sau đàm phán

1.1.3.1 Giai đoạn chuẩn bị

Đây là giai đoạn chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tạo tiền đề thành công trong đàm phán và cần được thực hiện một cách nghiêm túc, chu đáo và đầy đủ Tuy nhiên yêu cầu về mức độ chu đáo phụ thuộc vào tính chất quan trọng của từng thương vụ

và trình độ cũng như kinh nghiệm của đoàn đàm phán

Nội dung cần chuẩn bị bao gồm ba hoạt động chính sau:

- Thu thập thông tin: Chúng ta cần tìm hiểu và nắm bắt được các thông tin cơ

bản về đối tác làm ăn với mình, thông tin thị trường, các thông tin liên quan đến thương vụ làm ăn…

“Biết địch biết ta trăm trận trăm thắng”, tính đúng đắn của câu ngạn ngữ đã được chứng minh qua thời gian trong hầu hết các lĩnh vực của cuộc sống và đặc biệt đúng trong kinh doanh thương mại Khi nghiên cứu về bạn hàng hay đối tác, chúng ta cần phải tìm hiểu về tư cách pháp nhân, năng lực tài chính, uy tín kinh doanh của đối tác

để biết rõ hơn về đối phương từ đó đưa ra quyết định có nên thực hiện thương vụ hay không Chúng ta cũng nên tìm hiểu về nhu cầu, mục đích và mục tiêu kinh doanh của đối tác, mức độ cần thiết của hợp đồng này đối với họ để làm cơ sở đặt ra mục tiêu, chiến lược và chiến thuật đàm phán phù hợp Nghiên cứu về năng lực, trình độ cũng như tính cách, sở trường của đội ngũ đàm phán của đối tác đóng vai trò quan trọng trong việc giúp chúng ta xác định được thái độ ứng xử với từng người, khắc phục được những trở ngại trong giao tiếp, đặc biệt khi xác định được vai trò của từng người, chúng ta sẽ có những tác động cụ thể đề đạt được hiệu quả tốt nhất trong quá trình đàm phán

Khi nghiên cứu về thị trường, chúng ta cần nắm chắc thông tin về hàng hóa, dịch vụ hay chính là đối tượng của hợp đồng thương mại, những thông tin về yêu cầu của khách hàng đối với sản phẩm, tình hình cung – cầu, giá cả, tính cạnh tranh, các điều kiện kinh tế vĩ mô như chính sách kinh tế, luật pháp, chính trị…của nước đối

Trang 16

tác, điều kiện cơ sở hạ tầng, đặc trưng văn hóa xã hội… đây là những thông tin cần thiết cho việc xác lập và ký kết hợp đồng thương mại

- Chuẩn bị chiến lược đàm phán: Sau nghiên cứu về đối tác và thị trường chúng

ta cần chuẩn bị tư duy chiến lược, nhãn quang chiến lược, và các biện pháp chiến lược, chiến thuật, các biện pháp kỹ thuật có thể sử dụng trong cuộc đàm phán Tùy vào từng loại thương vụ, từng đối tác khác nhau mà lựa chọn những chiến lược đàm phán phù hợp, ví dụ như nếu đối tác là thương gia lớn, có uy tín trên thị trường, tiềm lực tài chính ổn định, giữa hai bên đã có mối quan hệ làm ăn lâu dài thì có thể sử dụng chiến lược kiểu mềm hoặc kiểu nguyên tắc để vừa có thể duy trì mối quan hệ thương mại tốt đẹp vừa có thể đạt được mục tiêu đã đề ra khi thực hiện thành công thương

vụ

Đối với những đối tác mới, cần chuẩn bị những phương án dự phòng, các biện pháp ứng phó kịp thời với những tình huống phát sinh trong quá trình đàm phán Các chiến thuật sử dụng cần linh hoạt hơn do đối tác là hoàn toàn mới, chúng ta chưa nắm được chiến thuật đàm phán của họ

- Chuẩn bị kế hoạch: Đây là công việc cuối cùng của giai đoạn chuẩn bị trước

đàm phán Sau khi đã nghiên cứu kỹ đối tác, thị trường và lựa chọn chiến lược, chiến thuật phù hợp chúng ta cần lên một kế hoạch cụ thể cho cuộc đàm phán Đầu tiên cần phải lựa chọn ra một đội ngũ chuyên gia đàm phán, có những am hiểu nhất định về đối tác, thị trường, sản phẩm, đồng thời có những kinh nghiệm, kỹ năng phù hợp, tương thích với những đặc điểm về đối tác mà chúng ta đã tìm hiểu được Trong trường thông tin về đối tác hạn chế, cần chọn ra những người đàm phán có ưu thế hơn

về kinh nghiệm, họ đã trải qua nhiều lần đàm phán với các đối tác khác nhau nên sẽ linh hoạt hơn trong việc lựa chọn và thay đổi chiến thuật đàm phán Xác lập mục tiêu, mục đích rõ ràng trước khi đàm phán là rất cần thiết Điều này có tác động quyết định tới việc lựa chọn chiến lược đàm phán và sự thành công của thương vụ Chúng ta có thể nhượng bộ những gì, cần phải đòi hỏi những gì từ đối tác…và chỉ khi những lợi ích cơ bản được đáp ứng thì thương vụ mới có thể được tiến hành và đàm phán được coi là đã thành công

Trang 17

- Giai đoạn tiếp xúc ban đầu: Trong giai đoạn này, hai bên cùng nhau xây dựng

bầu không khí hợp tác, ấm cúng và thân thiện Những ấn tượng gặp gỡ ban đầu thường

để lại dấu ấn sâu và có tác động quan trọng đến kết quả đàm phán Vì vậy nên có sự chuẩn bị kỹ lưỡng để có thể tạo ra những ấn tượng ban đầu tốt đẹp với đối tác Chỉ với khoảng 15 phút ban đầu để các thành viên trong hai đoàn đàm phán giới thiệu, làm quen với nhau nhưng cũng có thể giúp các bên có những đánh giá ban đầu về đối tác của mình Khi đề cập đến nội dung chính của việc đàm phán, phụ thuộc vào đặc điểm của từng cuộc đàm phán như hạn chế về mặt thời gian hay không bị hạn chế mà

có thể mở đầu trực tiếp, đi thẳng vào vấn đề hay khéo léo nhắc đến những vấn đề liên quan dẫn dắt vào vấn đề, tạo không khí thoải mái trước khi bàn bạc những vấn đề quan trọng, tuy nhiên, cần tránh vòng vo gây lãng phí thời gian

- Giai đoạn tiến hành thương lượng: Mỗi cuộc đàm phán đều có mục đích

riêng của nó, thường các nhà đàm phán sẽ sắp xếp thứ tự ưu tiên các mục đích khác nhau, trên cơ sở đó mà trong tiến trình đàm phán sẽ tập trung sách lược để tập trung vào những mục tiêu quan trọng Đàm phán được coi là thành công khi cả hai bên có thể thống nhất những lợi ích đối lập mà lợi ích căn bản của hai bên được đảm bảo

Nhiều nhà đàm phán còn đặt ra mục đích là xác lập mối quan hệ hợp tác lâu dài với đối tác, nâng cao uy tín và vị thế trên thị trường… Mục tiêu của một cuộc đàm phán tùy thuộc vào chiến lược của doanh nghiệp, định hướng của trưởng đoàn hoặc người chịu trách nhiệm đàm phán Khi đàm phán, hai bên sẽ tiến hành như kế hoạch đã vạch

ra trong giai đoạn chuẩn bị Mục tiêu, chiến lược, chiến thuật ban đầu có thể điều chỉnh sao cho phù hợp nhất vì khi gặp gỡ trực tiếp sẽ có điều kiện hiểu rõ hơn về lập trường và quan điểm của đối tác

- Giai đoạn kết thúc thương lượng: Cái gì cũng có mở đầu và kết thúc Một

cuộc đàm phán bao giờ cũng đi đến hai kết thúc cơ bản hoặc là đạt được thỏa thuận

Trang 18

và ký kết hợp đồng thương mại hoặc là không đạt được thỏa thuận Điều kiện cần và

đủ để chuyển sang giai đoạn kết thúc thương lượng là:

+ Cuộc thương lượng đã đạt được những mục tiêu cần thiết

+ Hai bên đã giải đáp thỏa đáng các câu hỏi, lời phê bình và phản đối của nhau trong quá trình thương lượng

+ Hai bên đã giải quyết được những mâu thuẫn và tạo được bầu không khí thuận lợi cho việc kết thúc thương lượng

Khi thời cơ đã chín muồi cần chủ động tóm tắt lại những thỏa thuận đã đạt được, đưa cuộc thương lượng đến bước kết thúc bằng việc hai bên ra quyết định Trong trường hợp đối tác còn do dự chưa đưa ra quyết định cần có những biện pháp khéo léo thúc đẩy họ mau chóng ra quyết định Giành quyền soạn thảo hợp đồng sẽ giúp chúng ta chủ động hơn trong việc soạn thảo những điều khoản của hợp đồng, đặc biệt

là những điều khoản bổ sung không được thương lượng trên bàn đàm phán Khi hợp đồng được ký kết, hai bên đều bị ràng buộc bởi trách nhiệm và nghĩa vụ thực hiện hợp đồng và cần nghiêm túc thực hiện

1.1.3.3 Giai đoạn sau đàm phán:

Sau khi hợp đồng được ký kết, cuộc đàm phán cơ bản đã thành công Nếu ở địa

vị chủ nhà bạn có thể tổ chức chiêu đãi hay tặng quà lưu niệm khi tiễn bạn hàng ra

về Đây là cơ hội để hai bên ngồi lại bên nhau một cách thoải mái, cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm, tìm hiểu thêm về nhau, góp phần xây dựng mối quan hệ lâu dài tốt đẹp hơn Trong trường hợp cuộc đàm phán đổ vỡ thì đây càng là giai đoạn đánh giá phân tích những nguyên nhân thất bại để rút kinh nghiệm cho những cuộc thương lượng sau này Đối với đối tác, cần giữ thái độ lịch sự, tôn trọng lẫn nhau, hiện tại có thể chưa đạt được thỏa thuận nhưng trong tương lai sẽ vẫn còn những cơ hội hợp tác nên thái độ hiện tại có ảnh hưởng quan trọng đối với những lần tiếp xúc sau này

1.1.4 Đối tượng đàm phán - Hợp đồng thương mại quốc tế

Bất kỳ một cuộc trao đổi nào cũng có đối tượng hướng đến để các bên chủ thể tham gia cùng đưa ra ý kiến, thỏa thuận và đi đến quyết định Không tách rời quy luật chung, đối tượng mà các cuộc đàm phán thương mại quốc tế hướng đến chính là các hợp đồng thương mại quốc tế Hợp đồng thương mại quốc tế là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ thương mại quốc

Trang 19

tế Hợp đồng thương mại quốc tế có rất nhiều loại, chẳng hạn như hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng cung ứng dịch vụ, hợp đồng chuyển giao công nghệ

(Nguyễn Xuân Công, 2009) Trong đó, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một trong những loại hợp đồng thương mại quốc tế thường gặp có liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và cũng là đối tượng chủ yếu trong các cuộc đàm phán thương mại

Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế (còn được gọi là hợp đồng mua bán ngoại thương hoặc hợp đồng xuất nhập khẩu) là hợp đồng mua bán hàng hoá có tính chất quốc tế (có yếu tố nước ngoài, có nhân tố nước ngoài) Tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế được hiểu không giống nhau tuỳ theo quan điểm của luật pháp từng nước Một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bao gồm các điều kiện

cơ bản và cốt lõi sau:

Điều khoản về đối tượng của hợp đồng

Thứ nhất, về tên hàng hai bên phải thống nhất được tên chính xác, đầy đủ để

tránh hiểu lầm sau này cả tên thương mại, tên khoa học hay tên thông dụng và phải đảm bảo thống nhất về tên hàng giữa các chứng từ, tài liệu

Thứ hai, về số và trọng lượng thì cần thống nhất và xác định cụ thể, chi tiết về

cách quy định về số, trọng lượng (quy định chính xác đơn vị tính, có dung sai hay không và có khấu trừ hay không có khấu trừ…) và đặc biệt là phải quy định tiêu chuẩn để xác định số, trọng lượng theo tiêu chuẩn của nước người bán, của nước người mua hay của quốc tế để tránh xảy ra tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng sau này

Thứ ba, về điều khoản chất lượng cần chú ý cách quy định về kiểm tra chất

lượng: kiểm tra chất lượng ở cảng đi hay cảng đến, do cơ quan nào thực hiện, giá trị của các giấy chứng nhận kiểm tra phẩm chất được quy định như thế nào Đặc biệt là chú ý đến cách quy định về chất lượng Có rất nhiều cách quy định chất lượng nên cần phải trao đổi kỹ và thống nhất cách quy định để cả hai bên cùng nhất trí tuân theo, tránh những hiểu lầm không cần thiết

Điều khoản về giá cả

Đây là điều khoản được các nhà đàm phán chú ý nhất trên bàn đàm phán, tiêu tốn khá nhiều thời gian nhất và đây cũng là một nội dung đàm phán quan trọng bậc

Trang 20

nhất sau khi các bên đã thống nhất được điều khoản về tên hàng, quy cách – phẩm chất Nó thể hiện rõ khả năng “mặc cả” và năng lực của các nhà đàm phán Tuy nhiên, mức giá cao hay thấp không hoàn toàn quyết định đến sự thành công của thương vụ

mà phải là sự tổng hợp của tất cả các yếu tố Nếu chỉ đạt được mức giá có lợi mà các điều kiện khác đều bất lợi thì chưa chắc thương vụ đã thành công Hơn nữa, trong nhiều trường hợp, các nhà đàm phán chấp nhận mức giá không có lợi cho mình để đổi lấy mối quan hệ hợp tác trong tương lai Vì vậy, các nhà đàm phán không nên lúc nào cũng chăm chăm vào mức giá mà quên mất mục tiêu ban đầu của mình và những

điều kiện hoàn cảnh tương ứng

Điều khoản về thanh toán

Về thanh toán thì chú ý thống nhất phương thức thanh toán và thời hạn thanh toán Hiện nay có rất nhiều phương thức thanh toán như phương thức thanh toán bằng tiền mặt, nhờ thu, điện chuyển tiền T/T… nhưng trong buôn bán quốc tế thì sử dụng nhiều nhất phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (L/C) Đồng tiền thanh toán và

tỉ giá cũng cần phải quy định rõ ràng để tránh phát sinh tranh chấp sau này

Điều khoản về giao hàng

Đầu tiên khi thỏa thuận về điều khoản giao hàng cần chú ý đến thời hạn giao hàng là một ngày cụ thể, là một khoảng thời gian, hay giao chậm nhất là vào ngày nào Tiếp theo là lựa chọn phương thức vận chuyển hàng hóa sau đó đến điều kiện cơ

sở giao hàng Cuối cùng quy định cách tính tiền phạt giao hàng chậm, không giao

Điều khoản luật áp dụng và điều khoản giải quyết tranh chấp

Điều khoản luật áp dụng rất quan trọng khi tranh chấp phát sinh do bất cứ bên nào thực hiện không đúng, không đủ hay không thực hiện một hay toàn bộ các nghĩa

vụ cảu mình, gây thiệt hại đến quyền lợi của bên kia hay bên thứ ba Điều khoản luật

áp dụng cũng quy định hình thức giải quyết tranh chấp, cơ quan giải quyết tranh chấp, địa điểm, thời gian giải quyết và cách bồi thường thiệt hại hay những biện pháp chế tài, cưỡng chế… Các nhà đàm phán phải thương lượng được luật áp dụng sao cho có lợi nhất cho mình: như sử dụng luật của nước mình, của nước bạn hay của một nước

thứ ba mà mình am hiểu nhất

Trang 21

Các nguyên tắc đàm phán các điều khoản hợp đồng thương mại quốc tế:

Thứ nhất, đàm phán phải dựa vào nguyên tắc tự do hợp đồng, các bên phải dựa

vào ý chí tự nguyện và bình đẳng để đàm phán và kí kết hợp đồng, hoàn toàn không

có sự lừa dối hoặc gây sức ép hoặc đe dọa buộc phải kí hợp đồng

Thứ hai, đàm phán phải dựa trên các cơ sở pháp lý Cơ sở pháp lý của hoạt động

mua bán hàng hóa quốc tế là pháp luật và quy định của quốc gia có liên quan đến thương mại quốc tế Đó là luật quốc gia, Tư pháp quốc tế: công ước viên, tập quán thương mại quốc tế… mà hai bên đã quy định và dẫn chiếu trong hợp đồng

Thứ ba, đàm phán phải dựa trên nguyên tắc cân bằng về lợi ích kinh tế xuất phát

từ hợp đồng Điểu khoản của hợp đồng phải cân bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên

Thứ tư, nội dung và ngôn ngữ trong hợp đồng phải chính xác, rõ ràng Trong

quá trình đàm phán, ngôn ngữ đàm phán và ngôn ngữ trong hợp đồng có thể khác nhau nhưng nhất định ngôn ngữ trong hợp đồng phải rõ ràng, thống nhất và thường bằng tiếng anh

1.2 Khái quát về văn hóa trong đàm phán thương mại quốc tế

1.2.1 Khái niệm

Văn hoá gắn liền với sự ra đời và phát triển của nhân loại Bản thân vấn đề văn hoá rất đa dạng và phức tạp Khái niệm văn hoá mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người

Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde

Kluckhohn trong cuốn Văn hóa – tổng luận phê phán các quan niệm và định nghĩa đã

từng thống kê có tới 164 khái niệm khác nhau về văn hóa và hiện nay số khái niệm

về văn hóa đã đạt đến con số 400, 500 thậm chí có người cho rằng nó đã lên đến con

số hàng nghìn… khó mà biết chính xác được (Trần Ngọc Thêm, 2013) Một trong những khái niệm đầu tiên về văn hoá là của nhà nhân chủng học Edward Burnett Tylor đưa ra năm 1871 Theo ông, “văn hoá là một tổng thể phức tạp bao gồm các kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và tất cả những khả năng, thói quen mà con người đạt được với tư cách là thành viên của một

xã hội” (Tylor E.B 1871: Primitive Culture) Trong khái niệm này, Tylor đề cập chủ

Trang 22

yếu đến các lĩnh vực văn hoá tinh thần mà không đề cập đến các lĩnh vực văn hoá vật chất Văn hóa còn là những giá trị tinh thần đặc trưng của từng xã hội, từng dân tộc theo cách hiểu của Geert Hofstede, một chuyên gia trong lĩnh vực giao lưu văn hoá

và quản lý: “Văn hoá là sự chương trình hoá chung của tinh thần, giúp phân biệt các thành viên của nhóm người này với thành viên của nhóm người khác” Khái niệm rộng nhất, đặc biệt nhất và cũng trừu tượng nhất cho đến bây giờ có lẽ là định nghĩa của Edouard Heriot: “Văn hoá là cái còn lại sau khi người ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn còn thiếu sau khi người ta đã học tất cả” Văn hóa tưởng như đã trở thành bản chất vốn có không thể mất đi của con người nhưng lại vô cùng mênh mông không thể nào học hết được Cho đến nay, khái niệm về văn hoá được nhiều nhà khoa học công nhận là khái niệm của ông Frederico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO đưa ra, theo đó: “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động” (UNESCO 1989, tr.5)

Về văn hoá, các nhà nghiên cứu văn hoá Việt nam cũng đưa ra những quan điểm riêng Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như vì mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương tiện, phương thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh, đó chính là văn hoá” (Hồ Chí Minh 1995, tr.431) Văn hoá không phải là những thứ cao xa, mà theo Người, văn hóa đơn giản là những gì trong cuộc sống hàng ngày, giản dị, gần gũi mà hình thành theo thời gian, sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn Theo Trần Ngọc Thêm, “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” (Trần Ngọc Thêm, 1991)

Như vậy, ở mỗi quan điểm và góc nhìn khác nhau, văn hóa được định nghĩa theo những cách khác nhau nhưng nội dung cơ bản vẫn thống nhất Trong khuôn khổ

và mục đích nghiên cứu của bài khoá luận, văn hóa sẽ được hiểu một cách tổng quát

là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và các giá trị tinh thần do các thành viên trong

xã hội sáng tạo ra, mang tính đặc trưng riêng biệt của từng xã hội bao gồm ngôn

Trang 23

ngữ, tôn giáo, giá trị và thái độ, cách ứng cử và phong tục, các yếu tố vật chất, giáo dục và khuynh hướng thẩm mỹ

1.2.2 Các yếu tố cấu thành văn hóa

1.2.2.1 Văn hóa phi vật chất

Văn hóa phi vật chất hay còn gọi là văn hóa tinh thần bao gồm toàn bộ những hoạt động tinh thần của còn người trong xã hội như ngôn ngữ, tôn giáo, phong tục, tập quán, thói quen, cách ứng xử, các giá trị và thái độ, các hoạt động văn hóa nghệ thuật, giáo dục, các phương thức giao tiếp và cách thức tổ chức xã hội

Ngôn ngữ là một yếu tố quan trọng cấu thành văn hóa và tạo nên tính biểu tượng

của văn hóa Con người đều sắp xếp biểu tượng thành ngôn ngữ, đó là hệ thống các

ký hiệu có ý nghĩa chuẩn giúp cho các thành viên trong xã hội có thể truyền đạt thông tin và ý tưởng giúp con người hình thành nên cách nhận thức về thế giới và có tác dụng định hình đặc điểm văn hóa con người Ví dụ, ở Việt Nam có nền văn hóa của người Kinh (nói tiếng Kinh), nền văn hóa của các dân tộc tiểu số như Tày, Nùng, Hơ-mông… với các loại ngôn ngữ khác nhau Tuy nhiên, không phải lúc nào sự khác biệt

về ngôn ngữ cũng dẫn đến sự khác biệt về xã hội Trong hoạt động kinh doanh, nhất

là kinh doanh quốc tế, sự hiểu biết về ngôn ngữ địa phương, về những thành ngữ và cách nói xã giao hàng ngày, về dịch thuật là rất quan trọng Bản thân ngôn ngữ đa dạng, nó bao gồm ngôn ngữ có lời (verbal language) và ngôn ngữ không lời (non-verbal language) Thông điệp được chuyển giao bằng nội dung của từ ngữ, bằng cách diễn tả các thông tin đó (âm điệu, ngữ điệu…) và bằng các phương tiện không lời như

cử chỉ, tư thế, ánh mắt, nét mặt… Ví dụ một cái gật đầu là dấu hiệu của sự đồng ý, một cái nhăn mặt là dấu hiệu của sự khó chịu Tuy nhiên, một số dấu hiệu của ngôn ngữ cử chỉ lại bị giới hạn về mặt văn hoá Chẳng hạn trong khi phần lớn người Mỹ

và Châu Âu khi giơ ngón cái lên hàm ý “mọi thứ đểu ổn” thì ở Hy Lạp, dấu hiệu đó

là ngụ ý khiêu dâm Ở Việt Nam, gật đầu biểu hiện sự đồng tình, ủng hộ thì ở Bulgaria

nó lại có ý là không Hay người Nhật thường mỉm cười và tránh nói không ngay cả khi họ không đồng ý hoặc khó chịu vì họ coi đó là phép lịch sự tối thiểu và tôn trọng đối tác, những hành động cử chỉ của họ hết mực khuôn phép, khiêm nhường chứ không phóng khoáng, thẳng thắn như người phương Tây Ngoài ra, ngôn ngữ còn là phương tiện quan trọng nhất để chuyển giao văn hóa, làm cho văn hóa có thể được

Trang 24

truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Những tinh hoa văn hóa của thế hệ trước được truyền lại cho thế hệ sau và truyền từ xã hội này sang xã hội khác thông qua ngôn ngữ Chính vì thế, mọi xã hội luôn có sự tồn tại của ngôn ngữ và ngôn ngữ đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong khía cạnh này

Tôn giáo là một hệ thống các tín ngưỡng và nghi thức liên quan đến lĩnh vực

thần thánh, tâm linh con người Trên thế giới hiện nay tồn tại hàng nghìn tôn giáo khác nhau, có thể kể đến một số tôn giao chủ yếu như Thiên chúa giáo, Phật giáo, Hồi giáo… Tôn giáo ảnh hưởng lớn đến cách sống, niềm tin, giá trị và thái độ, thói quen làm việc và cách cư xử của con người trong xã hội đối với nhau và với xã hội khác Tôn giáo cũng có ảnh hường quyết định đến hành vi và ứng xử của các nhà kinh doanh trong đàm phán Tôn giáo, tín ngưỡng được xem như là một yếu tố nhạy cảm nhất của văn hóa Phần lớn mọi người đều chỉ am hiểu nền văn hóa của cộng đồng mình mà không có hiểu biết đúng đắn về những nền văn hóa khác Trong kinh doanh quốc tế, vi phạm những giá trị tôn giáo, tín ngưỡng mang lại những hậu quả kinh tế nghiêm trọng Điển hình như hãng thời trang Chanel đã khiến người dân ở các quốc gia Hồi giáo phản ứng tiêu cực gay gắt khi những họa tiết trang trí cho bộ sưu tập trang phục mùa hè năm 1997 rất giống với các họa tiết ở trang bìa Kinh Koran Hay đối với những người theo đạo Hindu ở Ấn Độ, hình ảnh con bò rất được trân trọng

do đó khi thâm nhập thị trường Ấn Độ cần chú ý đến hình ảnh mà đất nước họ tôn sùng

Các phong tục tập quán là những quy ước thông thường của cuộc sống hàng

ngày như nên mặc như thế nào, cách sử dụng các đồ ăn uống trong bữa ăn, cách xử

sự với những người sung quanh, cách sử dụng thời gian… Mỗi dân tộc đều có những phong tục tập quán mang đặc trưng riêng của mình Đối với các doanh nhân người Nhật, cách ăn mặc lịch sự và chỉnh tề thể hiện sự tôn trọng đối với đối tác Trước mỗi cuộc đàm phán, họ thường chuẩn bị rất kỹ lưỡng Họ cũng có thể nhịn ăn từ sáng đến chiều và đàm phán trong nhiều ngày Họ dùng tính kiên trì và chín chắn để thắng thế trong thương lượng Những nhà kinh doanh người Nhật thường rất khó tính với các đối tác mới nhưng lại rất thoáng khi đã coi đối tác là bạn

Giá trị là những niềm tin và chuẩn mực chung cho một tập thể người được các

thành viên chấp nhận, còn thái độ là sự đánh giá, sự cảm nhận, sự phản ảnh trước một

Trang 25

sự vật dựa trên các giá trị Ví dụ thái độ của nhiều quan chức tuổi trung niên của Chính phủ Nhật Bản với người nước ngoài không thiện chí lắm, họ cho rằng dùng hàng nước ngoài là không yêu nước Thái độ có nguồn gốc từ những giá trị, ví dụ người Nga tin tưởng rằng cách nấu ăn của Mc Donald là tốt nhất đối với họ (giá trị)

và do đó vui lòng đứng xếp hàng dài để ăn (thái độ)

Giáo dục là yếu tố góp phần nâng cao trình độ học vấn – nền tảng quan trọng

quyết định hành vi Các nhà kinh doanh được đào tạo và giáo dục tốt sẽ có trình độ cao, có kiến thức xã hội rộng và am hiểu hơn về đối tác, từ đó có những hành vi, cách

cư cử và thái độ sao cho phù hợp nhất với từng hoàn cảnh, tránh gây ra những sai sót ảnh hưởng đến quá trình và kết quả của đàm phán

Văn hóa thẩm mỹ thể hiện qua nghệ thuật, văn học, âm nhạc… Nó phản ánh

quan niệm, cách nhìn về cái đẹp, hướng tới chân – thiện – mỹ Các nhân tố này ảnh hưởng đến quan niệm của nhà kinh doanh về giá trị đạo đức, các chuẩn mực hành vi

Nếu người phương Tây thường tìm đến những cái đẹp phóng khoáng, hùng vĩ thì người phương Đông lại coi trọng cái đẹp tinh tế, tỉ mỉ Điều này không những ảnh hưởng đến những giá trị đạo đức thường ngày mà còn quy định tính cách, hành vi con người Người phương Tây thường phóng khoáng, tự do trong khi người phương Đông thường cẩn trọng, tỉ mỉ hơn trong công việc

1.2.2.2 Văn hóa vật chất

Đây còn được gọi là những sáng tạo hữu hình của con người, bao gồm các sản phẩm hàng hóa, công cụ lao động, hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội và tài chính như hệ thống gia thông, nhà máy, trường học, ngân hàng, bảo hiểm…

Văn hóa vật chất được thể hiện rõ nhất thông qua đời sống vật chất của toàn bộ người dân trong một quốc gia Chính vì vậy, văn hóa vật chất ảnh hưởng rất nhiều đến trình độ dân trí và lối sống của quốc gia đó Khi nghiên cứu về văn hóa vật chất người ta sẽ xem xét đến cách thức con người tạo ra những của cái vật chất này như thế nào thể hiện ở tiến bộ kỹ thuật và nghệ thuật sáng tạo Tiến bộ kỹ thuật và công nghệ tác động đến mức sống và phần nào quy định và giải thích những giá trị và niềm tin của xã hội Một xã hội có trình độ khoa học kỹ thuật cao, công nghệ tiên tiến sẽ

có cuộc sống vật chất sung túc hơn, mức sống cao hơn và điều này cũng ảnh hưởng

ít nhiều đến đời sống tinh thần của họ Niềm tin của họ cũng sẽ khác, họ tin vào khoa

Trang 26

học hơn là những thứ thuộc về tâm linh như số phận, họ tin rằng bằng những phát triển của khoa học, họ sẽ kiểm soát được những thứ xảy ra xung quanh mình tốt hơn, chứ không còn là hoàn toàn ngẫu nhiên và vô thức như trước nữa

Như vậy, văn hóa vật chất không tồn tại một mình, độc lập với văn hóa phi vật

chất mà chúng tác động qua lại lẫn nhau, tạo nên những giá trị đặc trưng thống nhất của từng xã hội

1.2.3 Ảnh hưởng của văn hóa đến đàm phán thương mại quốc tế Thứ nhất, văn hóa ảnh hưởng đến mục đích đàm phán

Các nhà đàm phán với nền tảng văn hóa khác nhau sẽ có xu hướng đặt ra các mục tiêu đàm phán khác nhau Trong một số nền văn hóa, mục tiêu ưu tiên hàng đầu của người đàm phán là ký được hợp đồng Tuy nhiên, trong những nền văn hóa khác, mục tiêu ký hợp đồng không là mục tiêu duy nhất, quan trọng nhất của đàm phán mà tạo ra và duy trì mối quan hệ hợp tác tốt đẹp, lâu dài giữa các bên mới là mục tiêu được ưu tiên hơn cả Theo như một nghiên cứu được Jeswald W Salacuse thực hiện

trên 400 người từ 12 quốc gia khác nhau trên tờ Người đàm phán toàn cầu cho thấy

trong khi 74% câu trả lời của người Tây Ban Nha cho rằng mục tiêu của một cuộc đàm phán là ký kết hợp đồng thì chỉ khoảng 33% các nhà lãnh đạo Ấn Độ có cùng quan điểm như vậy Những con số khác biệt này giải thích cho việc những nhà đàm phán Châu Á coi việc tạo lập mối quan hệ là mục tiêu của cuộc đàm phán, do đó sẽ dành nhiều thời gian và nỗ lực cho quá trình chuẩn bị trước đàm phán trong khi nhà đàm phán thuộc các quốc gia Bắc Mỹ lại muốn đẩy nhanh quá trình đàm phán ngay

từ lần gặp mặt đầu tiên Quá trình chuẩn bị đàm phán là thời gian để các bên tìm hiểu lẫn nhau một cách kỹ lưỡng và cũng là nền tảng quan trọng trong việc xác lập và duy trì một mối quan hệ hợp tác tốt đẹp Tuy nhiên, khi mục tiêu của đàm phán là hợp đồng thì quá trình này sẽ được coi nhẹ hơn và ít sự chuẩn bị hơn

Như vậy việc nhìn nhận mục đích đàm phán của đối tác hay việc đối tác nhìn nhận về mục đích đàm phán của mình rất quan trọng Nếu trên bàn đàm phán là những nhà đàm phán thiên về tạo lập mối quan hệ thì việc đưa ra mức giá thấp sẽ không đủ

để thuyết phục họ ký kết hợp đồng mà trong những lần gặp mặt đầu tiên, thiện ý tạo lập và duy trì mối quan hệ của hai bên phải được thể hiện một cách chân thành để thuyết phục họ tham gia vào lần hợp tác này Ngược lại, nếu trên bàn đàm phán là

Trang 27

những nhà đàm phán hợp đồng thì việc cố gắng xây dựng một mối quan hệ tốt đẹp là lãng phí thời gian, các bên nên tập trung vào việc thương lượng những điều khoản của hợp đồng

Thứ hai, văn hóa ảnh hưởng đến thái độ đàm phán

Sự khác biệt về văn hóa, về tính cách cá nhân ảnh hưởng đến thái độ tham gia đàm phán của các nhà đàm phán theo một trong hai xu hướng cơ bản sau: cả hai bên nhượng bộ lẫn nhau để cùng thắng trong cuộc đàm phán hay cùng tranh đấu tới cùng đến khi một bên thắng, một bên thua Những nhà đàm phán kiểu Thắng – Thắng coi việc đàm phán ký kết hợp đồng như là một quá trình hợp tác, giải quyết vấn đề trong khi những nhà đàm phán theo kiểu Thắng – Thua coi đây là một cuộc đối đầu một mất một còn, triệt để tranh giành lợi ích cho đến khi thắng đối tác hoàn toàn trên bàn đàm phán Ví dụ, người Nhật thường sẽ đàm phán theo kiểu Thắng – Thắng trong khi người Tây Ban Nha thì hoàn toàn ngược lại Am hiểu về đối tác sẽ giúp cho bạn có lợi thế hơn khi ngồi trên bàn đàm phán, giúp việc lựa chọn chiến lược và những kỹ thuật đàm phán phù hợp hơn, đạt được hiệu quả đàm phán cao

Thứ ba, văn hóa ảnh hưởng đến phong cách cá nhân của người đàm phán

Phong cách cá nhân thể hiện trong cách giao tiếp, cách xưng hô, ăn mặc và tương tác với người khác của người đàm phán mà văn hóa lại ảnh ảnh hưởng mạnh

mẽ đến phong cách cá nhân này Thực tế cho thấy người Đức thường có cách ăn mặc trang trọng hơn so với người Mỹ Một nhà đàm phán với phong cách trang trọng thường xưng hô với đối tác bằng chức danh của họ, tránh những yếu tố cá nhân và đưa ra những câu hỏi liên quan đến cuộc sống cá nhân và gia đình của bên đối tác

Trong khi đó một nhà đàm phán mang phong cách ít trang trọng hơn, thoải mái hơn thường bắt đầu cuộc thảo luận bằng tên gọi và nhanh chóng phát triển một mối quan

hệ thân thiện hơn với đoàn đàm phán đối tác Họ thường có những cử chỉ rất thoải mái, tự nhiên trong suốt quá trình đàm phán như cởi bỏ áo khoác ngoài và xắn tay áo lên khi quá trình thương lượng trở nên căng thẳng hơn Mỗi nền văn hóa đều có những

lễ nghi, phép tắc ứng xử với những ý nghĩa riêng Lễ nghi và phép ứng xử này được coi là một phương thức giao tiếp khác giữa những người trong cùng một nền văn hóa, gắn kết họ thành một cộng đồng Ví dụ như người Mỹ gọi người khác bằng tên riêng của họ ngay từ lần gặp đầu tiên thể hiện sự thân thiện, mong muốn được kết bạn và

Trang 28

là một dấu hiệu tốt Tuy nhiên, người Nhật lại coi đó là một hành động thiếu lịch sự

và tôn trọng người khác

Như vậy các nhà đàm phán khi tham gia đàm phán với những đối tác thuộc những nền văn hóa khác nhau cần phải chú trọng hơn về điều này, tôn trọng những khác biệt về lễ nghi hay phép ứng xử của đối tác Đầu tiên nên bắt đầu bằng những

cử chỉ trang trọng sau đó chuyển dần sang lập trường thoải mái, thân thiện hơn nếu tình huống cho phép, không nên bắt đầu ngay bằng những hành động quá thân mật

Thứ tư, văn hóa ảnh hưởng đến phương thức giao tiếp trong đàm phán

Phương thức giao tiếp thay đổi theo các nền văn hóa khác nhau Một số nền văn hóa đề cao phương thức giao tiếp đơn giản, trực tiếp trong khi các nền văn hóa khác lại coi trọng lối giao tiếp phức tạp, gián tiếp, sử dụng ngôn từ bóng bẩy, hoa mỹ và thường vong vo, không đi thẳng vào vấn đề, những biểu hiện trên khuôn mặt, cử chỉ, điệu bộ và những loại ngôn ngữ cơ thể khác mang những ẩn ý riêng Nền văn hóa đề cao sự thẳng thắn, trực tiếp như nền văn hóa của người Mỹ, người Israel sử dụng cách đối đáp thẳng thắn, rõ ràng với những câu hỏi hay đề xuất của phía bên kia Tuy nhiên, trong nền văn hóa dựa trên phương thức giao tiếp gián tiếp như Nhật Bản, các nhà đàm phán thường dùng những bình luận, cử chỉ, điệu bộ hoặc những dấu hiệu mập mờ, không rõ ràng khi được hỏi hay đề xuất một vấn đề và thường sẽ không đưa

ra một cam kết hay từ chối rõ ràng ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên

Sự va chạm của những kiểu giao tiếp khác nhau trong một cuộc đàm phán thường gây ra hiểu lầm và mâu thuẫn giữa các bên Ví dụ như những nhà đàm phán Nhật Bản thường không trực tiếp thể hiện sự không đồng ý của mình với những đề xuất của đối phương khiến cho họ nghĩ rằng những đề xuất đó vẫn đang được cân nhắc trong khi chúng đã hoàn toàn bị từ chối Hay như trong khi đàm phán hiệp ước hòa bình giữa Hy Lạp và Israel, lối giao tiếp thẳng thắn, trực tiếp của phía Israel và khuynh hướng giao tiếp gián tiếp của của người Hy Lạp đã khiến cho mối quan hệ của hai bên trở nên xấu đi Các nhà đàm phán Hy Lạp cho rằng sự trực tiếp của phía Israel là sự hung hăng, công kích, là một sự xúc phạm trong khi trước kiểu giao tiếp gián tiếp của các nhà đàm phán Hy Lạp, phía Israel tỏ ra thiếu kiên nhẫn và nghi ngờ

sự trung thực, không nói lời thật lòng của đối tác

Thứ năm, văn hóa ảnh hưởng mức độ nhạy cảm với thời gian

Trang 29

Bàn về mức độ nhạy cảm với thời gian, các nhà nghiên cứu cho rằng thái độ với thời gian của mỗi nền văn hóa khác nhau thì khác nhau Người Đức luôn luôn đúng giờ trong khi người La-tinh thường đến muộn, người Nhật thường kéo dài quá trình đàm phán trong khi người Mỹ rất nhanh chóng đưa ra quyết định Những nhà bình luận cho rằng một vài nền văn hóa coi trọng thời gian hơn so với những nền văn hóa khác, tuy nhiên điều này có thể không đúng trong một số tình huống Người đàm phán

có thể nhận định khác nhau về lượng thời gian mà họ cần sử dụng và cống hiến cho cuộc đàm phán phụ thuộc vào mục tiêu đàm phán mà họ đề ra từ trước Đối với người

Mỹ, mục đích của đàm phán là ký kết hợp đồng, thời gian là tiền bạc nên họ luôn có

xu hướng đẩy nhanh quá trình đàm phán Do đó, người Mỹ luôn cố gắng tối giản những lễ nghi, hình thức đến mức tối thiểu và đi vào thương lượng kinh doanh nhanh chóng Người Nhật và những người Châu Á thì hoàn toàn ngược lại, họ coi việc tạo lập mối quan hệ với đối tác là mục tiêu chính của cuộc đàm phán chứ không phải là việc ký kết hợp đồng Do vậy, họ đầu tư nhiều thời gian hơn trong quá trình đàm phán

để các bên có thể hiểu biết nhiều hơn về nhau và quyết định có nên đi vào một mối quan hệ hợp tác lâu dài hay không Với họ, việc cố gắng rút gọn thời gian đàm phán của đối phương được coi là đang cố gắng che dấu một điều gì đó Một tình huống được giới truyền thông chú ý đặc biệt vào giữa những năm 1990 là ví dụ điển hình

Hợp đồng cung cấp điện dài hạn giữa công ty con ENRON của công ty năng lượng Dabhol, Mỹ với chính quyền bang Maharashtra Ấn Độ đã gặp phải những thách thức lớn và hoàn toàn bị hủy bỏ và chấm dứt một cách vội vàng do quá trình đàm phán bị đẩy nhanh quá mức Điều này không những khiến cho hai bên không thực hiện được hợp đồng mới mà còn phá hủy những nỗ lực xây dựng và phát triển những hợp đồng tương tự trước đây Công chúng Ấn Độ cho rằng chính quyền đã không bảo vệ lợi ích của họ vì quá trình đàm phán được thực hiện quá nhanh Giải thích cho điểu này, chủ tịch kiêm giám đốc điều hành công ty quốc tế ENRON, Rebecca Mark, đã công bố với giới truyền thông rằng: “Chúng tôi đã rất quan tâm đến vấn đề thời gian vì với chúng tôi thời gian là tiền bạc” Sự khác biệt về thái độ đối với thời gian giữa Mỹ và

Ấn Độ đã khiến cho việc hợp tác kinh doanh của hai bên gặp rất nhiều khó khăn Vì vậy để giảm thiểu những thiệt hại do sự khác biệt này mang lại, các bên cần tìm hiểu

về kỹ lưỡng hơn về văn hóa hai bên, đặc biệt là những điểm khác biệt để tìm ra biệt

Trang 30

pháp khắc phục và dung hòa những khác biệt đó, tránh gây ra sự hiểu lầm như tình huống trên

Thứ sáu, văn hóa ảnh hưởng đến khuynh hướng cảm xúc của người đàm phán

Thống kê những hành vi đàm phán thuộc các nền văn hóa khác nhau chỉ ra khuynh hướng hành động theo cảm xúc của từng nhóm người cụ thể Người Mỹ La-tinh thường thể hiện cảm xúc của mình trên bàn đàm phán trong khi người Nhật hay các quốc gia châu Á khác lại có xu hướng che giấu cảm xúc Rõ ràng ở đây tính cách

cá nhân đóng vai trò rất quan trọng, cũng sẽ có những người La-tinh đầy thụ động và những người Nhật rất bộc trực Tuy nhiên, những nền văn hóa khác nhau có những quy định khác nhau về chuẩn mực và hình thức thể hiện cảm xúc và những quy định này cũng được mang vào bàn đàm phán Các nhà đàm phán nên tìm hiểu kỹ lưỡng về những quy định này Trong thực tế, người Mỹ La-tinh và người Tây Ban Nha thuộc nhóm văn hóa xếp hạng cao nhất về khuynh hướng bộc lộ cảm xúc, trong cộng đồng Châu Âu người Anh và người Đức kiềm chế cảm xúc tốt nhất và Nhật Bản được coi

là dân tộc có mức độ kiểm soát và che giấu cảm xúc cao nhất Châu Á cũng như trên toàn thế giới Khi tham gia đàm phán, người Mỹ có xu hướng sử dụng cách tiếp cận

từ trên xuống, đưa ra mức thỏa thuận cao nhất nếu đối phương chấp nhận những điều kiện đã nêu ra, trong người Nhật thích kiểu tiếp cận từ dưới lên khi đàm phán hợp đồng bằng cách đề xuất mức thỏa thuận thấp nhất và sau đó mở rộng ra và tăng lên khi đối phương chấp nhận những điều kiện bổ sung Nắm bắt được cảm xúc và phương pháp tiếp cận của đối tác sẽ giúp cho ta giành được thế chủ động trên bàn

đàm phán, từ đó có thể đạt được kết quả đàm phán tốt nhất

Thứ bảy, văn hóa ảnh hưởng tới hình thức và cách xây dựng thỏa thuận

Cho dù mục đích của nhà đàm phán là mối quan hệ hợp tác hay một hợp đồng được ký kết thì các giao dịch được đàm phán trong hầu hết các tình huống đều được gói gọn trong hình thức một văn bản hợp đồng Yếu tố văn hóa ảnh hưởng đến hình thức của văn bản thỏa thuận giữa các bên Người Mỹ thích những hợp đồng càng chi tiết càng tốt, có thể bao quát cả những tình huống có thể phát sinh kể cả những tình huống có khả năng xảy ra không cao Họ cho rằng bản chất của thương lượng là hợp đồng và một hợp đồng được ký kết phải có khả năng xử lý được những tình huống

Trang 31

mới phát sinh Trong những nền văn hóa khác như Trung Quốc, hợp đồng với những điều khoản chung được ưa chuộng hơn những quy định cụ thể Bởi vì họ cho rằng bản chất của thương lượng là mối quan hệ giữa các bên, nếu có những tình huống không mong đợi phát sinh thì các bên nên nhìn vào mối quan hệ của mình để giải quyết vấn đề chứ không phải nhìn vào hợp đồng Các nhà đàm phán Trung Quốc giải thích khuynh hướng đưa ra những biện pháp dự phòng của người Mỹ như là bằng chứng của việc thiếu tự tin vào tính ổn định của mối quan hệ nền tảng

Văn hóa cũng ảnh hưởng đến cách xây dựng thỏa thuận theo lối suy diễn hay quy nạp Một hợp đồng có thể bắt đầu bằng những điều khoản chung rồi đi sâu vào những điều khoản riêng hoặc bắt đầu bằng những điều khoản cụ thể như giá cả, ngày giao hàng, chất lượng sản phẩm rồi được tổng hợp thành hợp đồng Những nền văn hóa khác nhau thường nhấn mạnh hơn vào một cách tiếp cận Ví dụ như người Pháp thích cách tiếp cận đầu tiên hơn trong khi người Mỹ lại tiến hành đàm phán như việc thực hiện một chuỗi các thỏa hiệp và sự cân bằng các điều khoản chi tiết Với người Pháp, bản chất của đàm phán là chấp thuận những điều khoản chung Những điều khoản ấy được chấp thuận trở thành khuôn khổ xây dựng hợp đồng, dẫn dắt và quyết định quá trình đàm phán sau đó Còn với người Mỹ, họ đề cao giá trị của những điều khoản chi tiết, là điều kiện cơ sở để giải quyết tranh chấp phát sinh sau này

Thứ tám, văn hóa ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức đoàn đàm phán

Trong bất kỳ cuộc đàm phán nào, sự hiểu biết về cơ cấu tổ chức của đối tác, ai

là người đưa ra cam kết và quyết định được đưa ra như thế nào là rất quan trọng Văn hóa ảnh hưởng đến cách các nhà lãnh đạo tổ chức nhóm của mình trong mỗi cuộc đàm phán Một vài nền văn hóa đề cao vai trò cá nhân trong khi những nền văn hóa khác lại nhấn mạnh yếu tố tập thể Trong nhóm đàm phán thuộc kiểu nền văn hóa đề cao cá nhân thường sẽ có một người lãnh đạo cấp cao có quyền quyết định tất cả vấn

đề Các nhóm đàm phán người Mỹ thường được tổ chức theo cơ cấu này Trong khi

đó, những nền văn hóa khác như Nhật Bản và Trung Quốc lại coi trọng đàm phán kiểu tập thể và quyết định được đưa ra dựa trên sự nhất trí của cả nhóm Trong những nhóm này thường không có sự phân chia rõ ràng rằng ai là lãnh đạo của cả nhóm hay

ai là người có quyền thực hiện cam kết với đối tác Các nhóm đàm phán kiểu Mỹ thường nhỏ, số lượng thành viên ít trong khi các nhóm đàm phán kiểu Nhật thường

Trang 32

lớn và có nhiều thành viên Quá trình đưa ra quyết định của nhóm ít thành viên và có người lãnh đạo sẽ nhanh hơn nhóm được tổ chức theo kiểu thống nhất ý kiến của các thành viên

Như vậy, văn hóa ảnh hưởng rất nhiều đến các cuộc đàm phán kinh doanh, đặc biệt trong kinh doanh quốc tế Các nhà quản lý cũng như các thành viên trong đoàn đàm phán cần nhận thức được tầm quan trọng và cấp thiết của việc tìm hiểu đối tác trước khi tiến hành đàm phán, đặc biệt là những khác biệt về mặt văn hóa Nhiều khi chỉ vì không nắm được đầy đủ thông tin về đối tác, không am hiểu văn hóa đối tác

mà cuộc đàm phán của hai bên gặp không ít trở ngại, thậm chí không đạt được kết quả như mong muốn

Trang 33

CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA NHẬT BẢN ĐẾN

ĐÀM PHÁN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VỚI CÁC

DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

2.1 Những nét văn hóa đặc trưng của Nhật Bản

2.1.1 Cơ sở hình thành văn hóa Nhật Bản

Văn hóa Nhật Bản hình thành dựa trên nhiều yếu tố khác nhau như điều kiện địa lý, những ảnh hưởng văn hóa nước ngoài trong suốt chiều dài lịch sử và truyền thống triết học và tinh thần

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên và địa lý của Nhật Bản

Nhật Bản (xứ sở mặt trời mọc) là một quốc gia nằm tách biệt với đại lục, có đến hơn 6.800 hòn đảo lớn nhỏ và 4 đảo lớn (Hokkaido, Honshu, Kyusyu, Shikoku) Tính chất đảo tạo cho người Nhật tâm lý “đảo quốc” (shimakuni) khiến họ vừa hiếu khách lại vừa dặt dè trong giao tiếp Mặc dù đất chật người đông, lại bị chia cắt nhưng con người Nhật Bản lại vô cùng đoàn kết, họ học cách sống chung với nhau, sống vì cộng đồng, quan tâm đến cảm xúc, suy nghĩ của người khác từ đó tạo nên tính cộng đồng cao trong xã hội người Nhật Thiên nhiên khắc nghiệt với những cơn sóng thần, động đất, bão, sạt lở…thường xuyên xảy ra tạo nên tâm lý tôn sùng thiên nhiên và mong muốn được chung sống hài hòa thay vì đấu tranh để kiểm soát Những khó khăn chồng chất khó khăn khiến con người nơi đây không còn cách nào khác phải mạnh

mẽ sống, kiên cường, bền bỉ, yêu lao động và hăng say làm việc Tinh thần ấy đã tạo nên một dân tộc Nhật Bản có một không hai trong lịch sử, đồng thời đưa quốc gia này nên vị trí nhất nhì thế giới về phát triển kinh tế

2.1.1.2 Ảnh hưởng văn hóa nước ngoài trong suốt chiều dài lịch sử

Nhật Bản chịu rất nhiều ảnh hưởng từ văn hóa nước ngoài, đặc biệt là Trung Quốc ngay từ thế kỷ thứ 4 Những triết lý của đạo Khổng để lại dấu ấn đậm nét trên con người Nhật Bản thể hiện ở sự đề cao địa vị, thứ bậc và tôn trọng người lớn tuổi hơn mình Sự du nhập văn hóa phương Tây từ những thế kỷ 17, 18 tạo nên những nét hiện đại trong văn hóa Nhật Bản Sớm phải tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác nhau như vậy tạo nên tính nhạy cảm với những biến đổi bên ngoài, tinh thần học hỏi và óc sáng tạo của con người nơi đây Tuy nhiên việc tiếp thu những cái mới không đồng

Trang 34

nghĩa với việc quên đi cái cũ, tinh thần giữ gìn, bảo tồn những giá trị truyền thống của người Nhật tạo nên sự đan xen, hòa quyện lẫn nhau giữa cái mới và cái cũ, cái hiện đại và cái truyền thống đặc trưng trong văn hóa Nhật Bản Ngay cả chính trị cũng chịu ảnh hưởng của nét văn hóa này, chế độ quân chủ lập hiến, vẫn có Thiên Hoàng nhưng chỉ mang tính chất biểu tượng, mọi vấn đề trong nước đều được giải quyết theo Hiến pháp Nét văn hóa đặc sắc này còn thể hiện trên nhiều mặt khác nhau

ở xã hội và con người Nhật Bản Nhật Bản hiện nay là một nước công nghiệp phát triển, cuộc sống có mang hơi thở của một xã hội phương Tây hiện đại, nhưng không phải vì thế mà làm mất đi những giá trị truyền thống lâu đời Các nghệ thuật truyền thống xa xưa như kịch no, kabuki, trà đạo, bonsai…các lễ hội truyền thống hàng năm như lễ hội mừng năm mới (Shogatsu), lễ hội búp bê (Hina matsuri), lễ Obon, lễ hội cấy…, tất cả đều được giữ gìn và không hề bị phai mờ theo dòng chảy của thời gian,

dù là trong hoàn cảnh lối sống hiện đại đang du nhập một cách nhanh chóng Những nét đẹp cổ truyền trong văn hoá Nhật luôn được gìn giữ và bảo tồn nhưng những cái mới, cái hiện đại cũng được tiếp thu khá nhanh chóng Đi trên đất Nhật Bản, ở đâu chúng ta cũng có thể bắt gặp những lăng tẩm, đền chùa…vẫn giữ nguyên lối kiến trúc

cổ xưa, nhưng chúng ta cũng sẽ được chiêm ngưỡng cả những thành quả của khoa học kỹ thuật tiên tiến, những đô thị với kiểu kiến trúc hiện đại không thua kém bất cứ nơi nào trên thế giới Sự tồn tại của các yếu tố mới và cũ còn được thể hiện qua thực phẩm, trang phục và lối sống của người Nhật

2.1.1.3 Tôn giáo và triết học Nhật Bản

Người Nhật trong mắt người phương Tây đôi khi được miêu tả như những người không rõ ràng về tôn giáo do cách thể hiện niềm tin tôn giáo khá đặc biệt so với các nước khác, đặc biệt là Mỹ Đời sống tôn giáo của người Nhật Bản là sự pha trộn và kết hợp các tôn giáo, thường là sự hiện diện của Thần đạo lúc sinh ra, khi kết hôn theo nghi lễ của Thiên đạo hoặc Thần đạo và vai trò của Phật đạo trong hành trình tới cái chết Nếu Ki-tô giáo hướng con người tới những giá trị cá nhân, tinh thần tự biết

về chính mình và nuôi dưỡng sở thích cá nhân thì Phật giáo lại hướng con người tới những giá trị nhân sinh cao cả, hoàn thiện nhân cách đạo đức con người, nâng cao tinh thần trách nhiệm đối với tập thể và cạnh tranh trên tinh thần Tứ nhiếp: Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành và Đồng sự Tuy có triết lý giáo dục khác nhau với cách thức hoạt động

Trang 35

dường như trái ngược nhưng cả Ki-tô giáo và Phật Giáo đều giáo dục con người biết yêu thương, biết trân trọng chính mình và người khác, biết hòa nhập và hoạt động tập thể

Có lẽ Nhật Bản là một trong số ít các quốc gia không có sự lựa chọn cố định học thuyết nào làm định hướng phát triển cho mình Người Nhật tiếp nhận các học thuyết kinh tế từ trường phái cổ điển đến Mác, Keynes…, từ triết học phương Đông đến phương Tây… Phần lớn các hệ tư tưởng được ứng dụng, thích nghi và tồn tại ở Nhật Bản là xuất phát từ nhu cầu của họ để lựa chọn, cấy ghép, vì thế việc vận dụng

ít bị máy móc và mang tính thực dụng cao Tính thực dụng trong văn hóa Nhật Bản thể hiện qua việc người Nhật có thể nắm bắt và vận dụng nhanh chóng những tiến bộ, thành tựu Mỗi khi có sự thay đổi của bên ngoài, họ cố gắng nhận biết và kịp thời thích ứng một cách có hiệu quả Người Nhật tiếp nhận, học tập, vận dụng hệ thống giáo dục, cách tổ chức xã hội, lối sống và cả tiến bộ kỹ thuật…của thế giới một cách linh hoạt, nhanh chóng khéo léo trong cách xử thế, do đó ít bị lạc hậu với thời cuộc

Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc phát triển kinh tế và quan hệ quốc tế với các nước trên thế giới, đưa Nhật Bản lên vị trí cường quốc, có mối quan hệ hợp tác sâu rộng trên thị trường toàn cầu

2.1.2 Những nét văn hóa đặc trưng của con người Nhật Bản

2.1.2.1 Tôn trọng lễ nghi, thứ bậc

Ý thức tôn trọng thứ bậc đã ăn sâu trong tư tưởng của người Nhật từ lâu Ý thức này bắt nguồn từ Rei (lễ) của Khổng Tử, quy định quan hệ giữa người và người trong sinh hoạt xã hội, công sở và cá nhân Những cơ sở của Rei dùng làm cơ sở cho sự vâng lời, phục tùng và tôn kính trước những người có uy tín Người Nhật cho rằng:

“Quan hệ giữa người trên và người dưới cũng như quan hệ giữa gió và có, cò phải rạp xuống khi gió thổi” Bởi vậy trong các tổ chức Nhật Bản người ta rất coi trọng những lễ nghi và thứ bậc đã quy định Ví dụ, trong phòng họp hay trong các buổi tiệc, người có chức vụ thấp nhất sẽ ngồi gần cửa ra vào, người có chức vụ càng cao thì càng ngồi gần phía bên trong Hoặc người đứng đầu sẽ ngồi ở giữa dọc theo hai bên sườn của căn phòng rồi xung quanh họ lần lượt là các chức vụ từ cao đến thấp Cũng như vậy, trong một tổ chức hay công ty, các nhóm làm việc luôn theo sát sự chỉ đạo của người đứng đầu Mọi hoạt động thường xuyên cũng như những thay đổi dù là nhỏ

Trang 36

nhất phải luôn được báo cáo bằng văn bản cho cấp trên và chỉ khi nào được sự đồng

ý ở trên mới được tiến hành

Sắc thái tôn ti và trật tự trong xã hội Nhật Bản còn thể hiện rất rõ ràng trong cách xưng hô và hình thức chào hỏi của người Nhật Trong tiếng Nhật người ta sử dụng 3 nhóm ngôn ngữ để nói chuyện: Khi nói chuyện với người lớn tuổi hơn hay có địa vị cao hơn thì phải dụng kính ngữ, khi nói chuyện với bạn bè thì dùng ngôn ngữ bình thường, đặc biệt khi nói về bản thân hay gia đình mình thì dùng khiêm tốn ngữ

Điều này cho thấy người Nhật thường hay khiêm tốn, đặt địa vị của mình thấp hơn khi nói chuyện Đề cao bản thân được coi là thiếu tôn trọng người đối diện Khi chào hỏi ở Nhật, mọi lời chào đều đi kèm cái cúi mình Cúi mình thể hiện sự tôn trọng, đối với những người lớn tuổi hoặc giữ chức vụ cao hơn mình thì khi cúi đầu phải cúi đầu thấp hơn, đối với bạn bè hoặc những người gặp nhiều lần trong ngày thì có thể cúi đầu nhẹ Cúi đầu chào cũng là cả một nghi lễ mang tính quy phạm mà những người lần đầu tiên đến Nhật Bản cần phải chú ý, nó không chỉ thể hiện trình độ, đẳng cấp con người bạn mà còn cho thấy tấm lòng và sự tôn trọng những nét văn hóa đặc trưng riêng của con người xử sở hoa anh đào và được đánh giá cao ngay từ những ấn tượng ban đầu

2.1.2.2 Làm việc siêng năng và yêu lao động

Yêu lao động và nhiệt tình trong mọi lĩnh vực hoạt động lao động là đặc điểm nổi bật trong tính cách dân tộc Nhật Người Nhật là những người vô cùng chăm chỉ, đến mức văn phòng thủ tướng Nhật phải xúc tiến vận động trong giới công nhân Nhật một phong trào kêu gọi dân chúng làm việc ít đi Rất nhiều công nhân Nhật còn tiếp tục công việc sau giờ làm việc bình thường Họ thường bắt đầu ngày làm việc lúc 9 giờ sáng và không về nhà trước 9 giờ tối và chỉ có vài giờ nghỉ ngơi chuẩn bị cho ngày làm việc hôm sau Họ tự nguyện làm thêm giờ đến tận khuya và thậm chí còn cảm thấy xấu hổ khi về nhà đúng giờ sau giờ làm việc Theo quan điểm của họ, làm việc là “làm hết việc” chứ không phải “làm hết giờ” Số giờ làm việc của người Nhật khoảng 2.100 giờ/năm, cao hơn người Châu Âu từ 20%-25% Không những thế, họ rất ít khi sử dụng hết ngày nghỉ có lương, dù số ngày nghỉ này không nhiều, khoảng

từ 10 đến 20 ngày tuỳ vào thâm niên công tác Công việc với họ là một niềm say mê,

vì thế họ luôn nhẫn nại, nỗ lực, kiên trì để có thể hoàn thành tốt công việc của mình

Trang 37

Người Nhật say mê công việc đến mức người phương Tây đã đặt cho họ những cái tên như “những người nghiện làm việc” hay thậm chí là “động vật kinh tế”

2.1.2.3 Sự tỉ mỉ và cẩn thận

Người Nhật từ xa xưa vẫn nổi tiếng với đức tính rất tỉ mỉ và cẩn thận trong công việc Họ tỉ mỉ và thận trọng ngay từ trong cách nghĩ cho đến khi tiến hành bất cứ một công việc gì dù là lớn hay nhỏ Từ việc phơi quần áo, uống trà cho tới việc sản xuất

ra một sản phẩm thủ công mỹ nghệ hay một chiếc ô tô… tất cả đều được người Nhật thực hiện một cách tỉ mỉ và chu đáo Có người nói rằng chỉ cần nhìn vào cách phơi quần áo thôi cũng có thể nhận ra một gia đình là người Nhật hay người nước khác trong một dãy phố có dân cư nhiều nước sinh sống hay uống trà – một nếp sinh hoạt hết sức giản dị cũng được nâng lên thành nghệ thuật “Trà đạo” Đồ thủ công mỹ nghệ thì chau chuốt đến từng chi tiết nhỏ, chiếc ô tô có hàng nghìn bộ phận nhưng bộ phận nào cũng được sản xuất và lắp rắp đúng tiêu chuẩn, đảm bảo chất lượng… Các sản phẩm có nguồn gốc Nhật Bản được người tiêu tiêu dùng thế giới tin tưởng và lựa chọn chính bởi sự tâm huyết của mỗi người tạo ra nó, không chỉ là công nghệ vượt trội mà còn là sự tỉ mỉ, chau chuốt đến từng chi tiết, từng công đoạn sản xuất Người Nhật cho rằng con người tỉ mỉ, cẩn thận trong công việc là có lương tâm với nghề, là hết lòng và nghiêm túc đối công việc của mình Chính điều đó đã góp phần làm nên

sự thành công của đất nước Nhật Bản ngày hôm nay

2.1.2.4 Sự cần kiệm

Từ xa xưa, người Nhật đã phải hứng chịu những hậu quả do thiên tai, động đất, hoả hoạn và bão tố thường xuyên xảy ra nên trong họ đã hình thành ý thức dành dụm cho những lúc khó khăn Họ không những cần cù mà còn rất tiết kiệm để có thể thực hiện hai mơ ước lớn trong đời đó là cho con cái được hưởng nền học vấn tốt nhất và mua nhà riêng Hơn thế, người Nhật luôn có tâm lý thận trọng trước những của cải

và luôn cảm thấy cần phải có mức tiêu dùng hợp lý Họ cho rằng chi tiêu nhiều tiền hơn mức cần thiết là lãng phí và thiếu tôn trọng cha ông Mức tiết kiệm của người Nhật rơi vào khoảng 17%-20% thu nhập, cao hơn nhiều so với các quốc gia khác như Đức, Anh và Mỹ đến mức chính phủ Nhật Bản phải có chính sách khuyến khích tiêu dùng đối với người dân

Trang 38

2.1.2.5 Tính tập thể cao

Đây là yếu tố đặc trưng vượt trội, khó có thể tìm thấy ở các quốc gia khác Trong đời sống của người Nhật, tập thể đóng vai trò rất quan trọng Ngay từ cách xưng hô trong giao tiếp, luôn nói “chúng tôi” thay vì “tôi” cho thấy sự đề cao tập thể, khiêm nhường thậm chí gạt lại cái tôi cá nhân Trái với chủ nghĩa cá nhân ở phương Tây, chủ nghĩa tập thể ở Nhật yêu cầu lợi ích cá nhân phải đặt dưới mục đích và tiêu chuẩn của tập thể Sự thành công hay thất bại trong con mắt người Nhật đều là chuyện chung của nhóm và mọi thành viên trong nhóm: “Thành công của họ là do sự nỗ lực của cả tập thể chức không phải sự xuất thần của một cá nhân” hay “lỗi của một người là lỗi của cả tập thể”, bất kể một cá nhân đã làm ra sao, đều hưởng chung sự cay đắng hay vinh quang mà nhóm đã đạt được

Trong công việc, người Nhật luôn cố gắng tìm sự hòa hợp giữa mình và những người xung quanh Họ cho rằng, một khi các điều kiện hoạt động làm ăn sinh sống của một xã hội, một cộng đồng hay một công ty, một tập thể mà tốt thì cuộc sống của

họ cũng sẽ theo đó mà đi lên Sự phát triển của tập thể chính là sự đảm bảo bền vững nhất cho bản thân con người Vì vậy, người Nhật thường ít cãi cọ hay dùng những từ

có thể làm mất lòng người khác Các tập thể có thể cạnh tranh với nhau gay gắt, nhưng tuỳ theo hoàn cảnh và trường hợp, các tập thể có thể liên kết với nhau để đạt mục đích chung Hai công ty Nhật có thể cạnh tranh với nhau ở trong nước, nhưng khi ra nước ngoài lại có thể bắt tay nhau để cùng cạnh tranh với một công ty nước ngoài khác Trẻ con từ bé ở Nhật bản đã được dạy cách phối hợp với nhau để làm việc (không phải làm việc 1 mình mà là phải biết hoà đồng phối hợp với các bạn khác cùng làm việc tập thể), chúng được dạy là: " phải biết nỗ lực làm việc hết mình vì mục tiêu chung của cả tập thể chứ không vì lợi ích riêng mình" Do vậy mới có những công ty gia đình trị lớn mạnh như Toyota, Honda… Công ty như một đại gia đình và dường như không có quan hệ bóc lột "Tư bản – Công nhân" Mỗi người công nhân hay giám đốc đều là một thành viên của đại gia đình đều cố gắng miệt mài làm việc

Họ không phải làm việc vì bị thúc ép, quản lý mà tự nguyện cống hiến sức lực để đóng góp thành công cho mục tiêu tập thể công ty như đóng góp công sức xây dựng

"đại gia đình" vậy

Trang 39

2.1.2.6 Tính kỷ luật và ý thức trách nhiệm

Tính kỷ luật ở Nhật Bản đã đạt tới sự mẫu mực mà các nước khác luôn ngưỡng

mộ và học hỏi Mỗi người Nhật được rèn luyện để tuân theo một trật tự đã được quy định, thực hiện cần mẫn nghĩa vụ của mình, kính trọng một cách không vụ lợi cấp trên và những người lớn tuổi Doanh nhân Nhật Bản nổi tiếng về tính kỷ luật và tổ chức Đức tính này giúp các nhân viên giành được sự tin tưởng của lãnh đạo và cả công ty trở thành một khối thống nhất cùng thực hiện một mục tiêu chung Người Nhật luôn luôn đúng giờ và làm việc theo kế hoạch Họ cũng luôn có ý thức rõ ràng giữa tài sản công ty và tài sản cá nhân Trong doanh nghiệp Nhật, việc sử dụng những

đồ dùng văn phòng, gọi điện thoại cá nhân, sử dụng ô tô công cho mục đích cá nhân

là điều cấm kỵ Thậm chí nếu xe ô tô không có ai sử dụng và vẫn tính phí, nhưng nếu cần đi đâu đó với mục đích cá nhân thì họ cũng gọi taxi Việc tiết kiệm chi phí tối đa cho công ty đã ăn sâu vào tiềm thức của người Nhật

Người Nhật luôn có ý thức trách nhiệm rất cao trong công việc Khi giao việc cho một công nhân Nhật Bản thì hoàn toàn có thể yên tâm về kết quả cũng như tiến

độ công việc Việc đúng hẹn và làm thêm giờ là hết sức bình thường trong các doanh nghiệp Nhật Bản Khi các doanh nghiệp làm việc với nhau, họ cũng phân công trách nhiệm rất rõ ràng Hơn nữa, mỗi người Nhật luôn đề cao tinh thần trách nhiệm đối với doanh nghiệp của mình Ngược lại, doanh nghiệp chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với nhân viên của mình trong phạm vi quy định Hoàn thành trách nhiệm của mình là công việc được ưu tiên hàng đầu và là tiêu chí sống của mỗi người dân Nhật Bản

2.1.2.7 Đối nhân xử thế khéo léo và rất coi trọng những mối quan hệ

Người Nhật được coi là bậc thầy trong việc đối nhân xử thế Sự khéo léo, tinh

tế trong cách ứng xử giữa người với người tạo nên một cộng đồng chung sống hòa bình và gắn kết với nhau Những lễ nghi như chào hỏi, văn hóa tặng quà, cách ứng

xử giao tiếp… đều có những quy chuẩn riêng tạo nên nét văn hóa tinh tế mà đặc sắc

Bản tính của người Nhật không thích đối kháng, đặc biệt là đối đầu cá nhân Để tránh điều đó, họ luôn làm theo sự nhất trí Họ chú tâm giữ gìn sự hoà hợp đến mức nhiều khi lờ đi cảm xúc cá nhân, bởi với người Nhật, giữ gìn sự nhất trí, thể diện và

uy tín là vấn đề cốt tử Ở Nhật Bản, từ chối cũng là cả một nghệ thuật Họ rất ít khi trực tiếp từ chối một đề nghị nào của người khác mà thường tìm cách để cho đối

Trang 40

phương có thể tự hiểu ra rằng đề nghị chưa được đồng ý Từ “không” vì thế rất ít khi xuất hiện trong ngôn ngữ giao tiếp của người Nhật Tôn trọng người lớn tuổi hơn mình cũng thể hiện sự khôn khéo trong cách ứng xử của người Nhật Đối với người Nhật, người lớn tuổi tượng trưng cho kinh nghiệm và kỹ năng, càng nhiều tuổi thì càng giàu kinh nghiệm và kỹ năng càng giỏi

Ngưởi Nhật rất trọng quan hệ và luôn biết cách giữ ấm cho các mối quan hệ đó

Tặng quà được xem như một sợi dây gắn kết con người lại với nhau và giúp thể hiện tâm tư, tình cảm và sự trân trọng Chỉ qua một món quà nhỏ mà ta có thể thấy ở trong

đó một kho tàng những giá trị văn hóa sâu sắc và rất nhân văn của người Nhật Tặng quà đã trở thành một thói quen hiện hữu trong cuộc sống, người Nhật tặng quà cho nhau không những trong các dịp lễ đặc biệt như: tết, ngày cưới hỏi, sinh nhật… mà ngay cả trong những sinh hoạt hàng ngày để thể hiện lòng biết ơn và xác định mối quan hệ Trong văn hóa Nhật Bản, tặng quà đã trở thành một phong tục rất quan trọng,

vì thế mà Nhật Bản còn được biết đến với tên gọi “Thiên đường tặng lễ vật cho nhau”

2.1.2.8 Coi trọng hình thức

Chú ý đến hình thức là biểu hiện của phép lịch sự và rất được coi trọng trong môi trường kinh doanh Nhật Bản Tuỳ vào ngành nghề và loại công việc mà có trang phục khác nhau Trang phục sạch sẽ, phù hợp với hoàn cảnh không chỉ ảnh hưởng đến uy tín cá nhân mà còn ảnh hưởng tới uy tín công ty Thậm chí có công ty còn quy định chi tiết đến cả cách để đầu tóc, móng tay, cà vạt… Comple được dùng phổ biến, ngay cả đối với những người lao động không làm việc trong văn phòng Sau khi đến chỗ làm, họ thay trang phục, mặc quần áo lao động và hết ngày lại mặc comple trở

về nhà

2.1.2.9 Có óc cầu tiến và rất nhạy cảm với những biến đổi trên thế giới

Có thể nói không có dân tộc nào nhạy bén với cái mới bằng người Nhật Họ không ngừng theo dõi những biến đổi của thế giới, đánh giá, cân nhắc những ảnh hưởng của trào lưu và xu hướng chính đang diễn ra đối với Nhật Bản Khi xác định được trào lưu đang thắng thế, họ sẵn sàng chấp nhận, nghiên cứu và học hỏi để bắt kịp trào lưu đó, không để mất thời cơ Và chính tinh thần thực dụng, óc hiếu kỳ và óc cầu tiến của người Nhật là động lực đưa nước Nhật trở thành cường quốc trên thế giới

dù cho điều kiện tự nhiên có khắc nghiệt thế nào đi chăng nữa Họ học hỏi tất cả rồi

Ngày đăng: 11/10/2022, 06:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Hoàng Ánh, 1998, Ảnh hưởng của văn hóa đến thương mại quốc tế trên thế giới và ở Việt Nam, Luận Văn Thạc sĩ kinh tế, ĐH Ngoại Thương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của văn hóa đến thương mại quốc tế trên thế giới và ở Việt Nam
2. Nguyễn Hoàng Ánh, 2004, Chuyên đề đàm phán thương mại quốc tế, đề tài nghiên cứu cấp Tiến sĩ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề đàm phán thương mại quốc tế
3. Ngô Xuân Bình - Trần Quang Minh, 2005, Quan hệ Việt Nam- Nhật Bản: Quá khứ, hiện tại và tương lai, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt Nam- Nhật Bản: Quá khứ, hiện tại và tương lai
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
4. Từ Đức Chi, 1997, Bản lĩnh kinh doanh của các công ty Nhật Bản, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản lĩnh kinh doanh của các công ty Nhật Bản
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
5. Ngô Xuân Dân, 1998, Đàm phán và ký kết hợp đồng kinh doanh quốc tế, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đàm phán và ký kết hợp đồng kinh doanh quốc tế
Nhà XB: NXB Thống kê
6. Dương Phú Hiệp - TS Vũ Văn Hà, 2004, Quan hệ kinh tế Việt Nam- Nhật Bản trong bối cảnh quốc tế mới, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ kinh tế Việt Nam- Nhật Bản trong bối cảnh quốc tế mới
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
7. Nguyễn Văn Hồng, 2012, Giáo trình Đàm phán thương mại quốc tế, NXB Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đàm phán thương mại quốc tế
Nhà XB: NXB Thống Kê
8. Vũ Dương Huân, “Phong cách đàm phán của người Nhật Bản”, Tạp chí nghiên cứu Quốc tế, (61) (6/2005), tr.103 - 109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phong cách đàm phán của người Nhật Bản”
9. Hồ Chí Minh, 1995, Hồ Chí Minh Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh Toàn tập
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
10. Nguyễn Thị Mơ, 2012, Giáo trình Pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại, NXB Bách Khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại
Nhà XB: NXB Bách Khoa
11. Vũ Thị Kim Nhung, 2001, Kinh doanh với thị trường Nhật Bản, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh doanh với thị trường Nhật Bản
Nhà XB: NXB Lao động
12. Hoàng Đức Thân, 2006, Giáo trình giao dịch và đàm phán kinh doanh, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giao dịch và đàm phán kinh doanh
Nhà XB: NXB Thống kê
13. Nguyễn Xuân Thơm - Nguyễn Văn Hồng, 2001, Kỹ thuật đàm phán thương mại quốc tế, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật đàm phán thương mại quốc tế
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
14. Ngô Minh Thúy - Ngô Tự Lập, 2003, Nhật Bản - Đất nước, con người, văn học, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản - Đất nước, con người, văn học
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
15. Đinh Văn Tiến, 1998, Nghệ thuật đàm phán kinh doanh, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật đàm phán kinh doanh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
16. Lam Triều, 2004, Làm thế nào để đàm phán thành công, NXB Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm thế nào để đàm phán thành công
Nhà XB: NXB Phụ nữ
17. Đoàn Thị Hồng Vân, 2004, Đàm phán trong kinh doanh quốc tế, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đàm phán trong kinh doanh quốc tế
Nhà XB: NXB Thống kê
18. UNESCO, 1989, Tạp chí “Người đưa tin UNESCO”, số 11-1989, Những vấn đề Khoa học Xã hội & Nhân văn – Chuyên đề Văn hoá học, NXB Đại học Quốc gia, 2013.Tài liệu tham khảo từ Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người đưa tin UNESCO
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
5. Howard F. Van Zandt, 1970, How to negotiate in Japan, tại https://hbr.org/1970/11/how-to-negotiate-in-japan (Truy cập 10/4/2017) Sách, tạp chí
Tiêu đề: How to negotiate in Japan
6. Kwintessential, Guide to Japan, Etiquette, Customs, Culture and Business, tại http://www.kwintessential.co.uk/resources/guides/guide-to-japan-etiquette-customs-culture-business/ (Truy cập ngày 1/5/2017) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Guide to Japan, Etiquette, Customs, Culture and Business

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Sự khác biệt giữa ba kiểu chiến lược đàm phán - (Luận văn FTU) văn hóa nhật bản trong đàm phán thương mại giữa doanh nghiệp nhật bản và doanh nghiệp việt nam
Bảng 1.1 Sự khác biệt giữa ba kiểu chiến lược đàm phán (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w