Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu cụ thể của báo cáo: - Giới thiệu chung về thị trường hàng không ở Việt Nam lịch sử phát triển, thông tin và đặc điểm của các sản phẩm của ngành, vai trò và t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
-o0o -TIỂU LUẬN
TỔ CHỨC NGÀNH
BÁO CÁO PHÂN TÍCH NGÀNH HÀNG KHÔNG
TẠI VIỆT NAM 2018
Lớp tín chỉ : KTE408.3 Giảng viên hướng dẫn : TS Đinh Thị Thanh Bình Sinh viên thực hiện:
Trang 2PHIẾU ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ LÀM VIỆC CỦA CÁC THÀNH VIÊN
Người được nhận
đánh giáNgười đánh giá
Lê Đức Đàm Hoàng Anh Đức Đỗ Phương Linh Trần Minh Quân
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
I Cơ sở lý luận 3
I.1 Lý thuyết chung về mức độ tập trung thị trường 3
I.2 Lý thuyết chung về đo lường mức độ tập trung thị trường 4
II Tổng quan về ngành hàng không Việt Nam 7
II.1 Lịch sử ngành hàng không Việt Nam 7
II.2 Đặc điểm hàng hóa ngành hàng không 9
II.3 Thực trạng của ngành hàng không Việt Nam hiện nay 10
II.4 Vai trò của ngành hàng không đối với Việt Nam 12
III Đánh giá cấu trúc thị trường của ngành 15
III.1 Tổng quan về các doanh nghiệp trong ngành 15
III.2 Cấu trúc thị trường ngành hàng không Việt Nam 17
III.3 Rào cản gia nhập thị trường 21
IV Một số kiến nghị và giải pháp 27
KẾT LUẬN 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
Trang 4MỞ ĐẦU
I.1 Tính cấp thiết của đề tài
Với sự phát triển bùng nổ của khu vực dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của các quốcgia trên thế giới, ngành hàng không đang ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng của mìnhđối sự phát triển của bất kì nền kinh tế nào Không chỉ thế, ngành hàng không Việt Namđang chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ nhất trong nhiều thập kỷ qua khi mức tăng trưởngtrong 5 năm (2014-2018) liên tục đạt 2 con số Hàng loạt các cảng hàng không, sân bayđược nâng cấp, xây mới, trong đó có cả những sân bay, nhà ga lần đầu được xây mới bằngnguồn vốn tư nhân thông qua phương thức đầu tư BOT Nhiều cảng hàng không trong hệthống 22 cảng hàng không trên toàn quốc đã có một diện mạo mới, thậm chí có nhiều đơn
vị lọt vào nhóm các nhà ga, cảng hàng không được đánh giá tốt trên thế giới
Tuy nhiên, đi đôi với việc tăng trưởng khá “nóng” là những “điểm nghẽn” màngành hàng không đang phải đối mặt Cụ thể, áp lực quá tải về hạ tầng sân bay, bến đỗ đãkéo theo chất lượng dịch vụ hành khách bị ảnh hưởng Ngoài ra, sự cạnh tranh về giá,nguồn nhân lực… đang đặt ra những thách thức cho các nhà quản lý hãng hàng không cầnphải giải quyết
Nhận thấy việc đánh giá cấu trúc thị trường đóng vai trò quan trọng trong việc địnhhình chiến lược kinh doanh và hành vi của doanh nghiệp trên thị trường, Nhóm nghiêncứu đã thực hiện “Báo cáo phân tích ngành hàng không tại Việt Nam năm 2018” Thôngqua báo cáo này, Nhóm nghiên cứu hi vọng sẽ cung cấp thêm một số cung cấp thông tingiúp đánh giá, nhìn nhận các vấn đề của thị trường hàng không tại Việt Nam để từ đó cócác giải pháp phù hợp cho việc thúc đẩy thị trường phát triển
I.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu cụ thể của báo cáo:
- Giới thiệu chung về thị trường hàng không ở Việt Nam (lịch sử phát triển, thông tin và
đặc điểm của các sản phẩm của ngành, vai trò và tầm quan trọng của ngành,…)
- Tìm hiểu cấu trúc thị trường hàng không ở Việt Nam (các doanh nghiệp hoạt động trong
ngành, mức độ tập trung của ngành,…)
Trang 5- Tìm hiểu các rào cản gia nhập ngành gây ảnh hưởng hoặc có thể gây ảnh hưởng đến
mức độ cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành (rào cản pháp lý và chính sách, ràocản công nghệ, đầu tư, …)
I.3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của báo cáo là thị trường Hàng không tại
Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam trong
năm 2018
I.4 Phương pháp nghiên cứu
Báo cáo là kết quả của việc phân tích các thông tin thu thập thông qua các báo cáothường niên của các doanh nghiệp trong ngành
I.5 Kết cấu báo cáo
Chương 1: Cơ sở lý luậnChương 2: Tổng quan về ngành hàng không ở Việt NamChương 3: Đánh giá cấu trúc thị trưởng của ngành hàng không ở Việt NamChương 4: Một số giải pháp kiến nghị
Trang 6Chương II Cơ sở lý luận
II.1 Lý thuyết chung về mức độ tập trung thị trường
II.1.1 Khái niệm về mức độ tập trung thị trường
Mức độ tập trung của thị trường phản ánh sự phân bổ về kích cỡ và số lượng củacác doanh nghiệp Số lượng doanh nghiệp ít hơn và kích cỡ lớn hơn dẫn đến sự gia tăng
về mức độ tập trung của thị trường Khi mức độ tập trung tăng lên, các nhà sản xuất cókhả năng nhiều hơn trong việc giảm bớt mức độ cạnh tranh và hợp tác với nhau trong việcđịnh giá Mức độ tập trung tăng khiến cho việc câu kết/thông đồng trở nên dễ dàng hơn
Trong hầu hết các thị trường, mức độ cạnh tranh nằm giữa 2 mức là cạnh tranhhoàn hảo (mức độ thấp nhất) và độc quyền (mức độ tập trung cao nhất) Trong đó, cạnhtranh hoàn hảo là cạnh tranh trong một mô hình kinh tế được mô tả là một mẫu kinh tế thịtrường lý tưởng, ở đó không có người sản xuất hay người tiêu dùng nào có quyền hay khảnăng khống chế được thị trường, làm ảnh hưởng đến giá cả; độc quyền là thuật ngữ trongkinh tế học chỉ về trạng thái thị trường chỉ có duy nhất một người bán và sản xuất ra sảnphẩm không có sản phẩm thay thế gần gũi Phương pháp đo mức độ tập trung cung cấpmột cách thức đơn giản để đo mức độ cạnh tranh của thị trường
II.1.2 Một số thuật ngữ liên quan đến mức độ tập trung thị trường a) Tập trung của người mua
Đo lường tỉ trọng tính theo phần trăm của một sản phẩm nào đó được mua bởi một
số ít người mua Hàng hoá và dịch vụ của một ngành nào đó càng được mua bởi một số ítngười mua thì mức độ tập trung người mua càng cao Trong trường hợp cực đoan, ngườimua duy nhất cho một loại sản phẩm hay dịch vụ nào đó sẽ dẫn đến tình huống được gọi
là sự độc quyền của người mua
b) Tập trung quyền sở hữu
Đo lường mức độ tỉ trọng nắm giữ cổ phần trong một công ty Tập trung quyền sởhữu mô tả tài sản hay sự kiểm soát tài sản của công ty giữa những cá nhân, gia đình haypháp nhân kinh doanh khác nhau
Trang 7II.2 Lý thuyết chung về đo lường mức độ tập trung thị trường
II.2.1 Khái niệm về đô lường mức độ tập trung thị trường
Đo lường tập trung thị trường là đo lường vị trí tương đối của các doanh nghiệplớn trong ngành Tập trung thị trường ám chỉ đến mức độ mà sự tập trung sản xuất vàomột thị trường đặc biệt hay là sự tập trung sản xuất của ngành nằm trong tay một vài hãnglớn trong ngành Một ngành có mức độ tập trung hóa cao tức là một ngành được chi phốibởi một số ít hãng Khi nói trình độ tập trung hoá của một ngành tức là nói đến mức độtập trung thị trường của ngành đó Nói chung, mức độ tập trung thị trường biểu thị sứcmạnh thị trường của những hãng lớn, nghĩa là ngành càng tập trung thì các hãng lớn càng
có sức mạnh thị trường cao và ngược lại
II.2.2 Một số chỉ số đo lường mức độ tập trung thị trường a) Tỷ lệ tập trung hóa (Concentration Ratio)
Đây là chỉ số được sử dụng nhiều khi đo lường tập trung hóa của ngành, nó đượcxác định bằng tỉ lệ sản lượng của r doanh nghiệp lớn trong ngành với r là một số tùy ý
Đôi khi tỉ lệ tập trung còn đo lường bằng doanh thu, số nhân công…Xu hướng hiện nayngười ta thường đo lường bằng doanh thu của các doanh nghiệp có quy mô lớn
Công thức:
Cr = ∑i=1
m
qiQ
Si: Thị phần của doanh nghiệp thứ i, Si = q i
Q
Trang 8 Tiêu chí đánh giá:
- Tỷ lệ tập trung này càng tiệm cận bằng 1 thì độ tập trung ngành càng cao Càng gần với
thị trường độc quyền
- Tỷ lệ tập trung này càng tiệm cận bằng 0 thì độ tập trung của ngành càng thấp Càng gần
với thị trường cạnh tranh độc quyền
Cr chỉ tính đến r doanh nghiệp lớn hàng đầu mà không tính đến tất cả các doanh nghiệptrong ngành
b) Chỉ số HHI (Hirschman-Herfindahl Index)
Chỉ số này đầu tiên được sử dụng bởi Hirschman và sau này là Herfindahl, tính đếntất cả các điểm của đường cong tập trung, bằng cách tổng bình phương thị phần của tất cảcác doanh nghiệp trong ngành:
Công thức:
HHI = ∑
i=1
m (qi
Trang 9m: Số doanh nghiệp lớn nhất thị trườngqi: Sản lượng của doanh nghiệp thứ iQ: Tổng sản lượng của ngành
Si: Thị phần của doanh nghiệp thứ i, Si = q i
Q
Tiêu chí đánh giá:
- HHI nằm trong khoảng từ 1/m (cạnh tranh hoàn hảo) đến 1 (độc quyền)
- HHI nhỏ thể hiện không có một doanh nghiệp nào có quyền lực nổi trội trên thị trường
- HHI càng lớn, mức độ tập trung trong ngành công nghiệp càng cao
Ưu điểm:
- Chỉ số HHI đơn giản, dễ tính toán, mang tính trực giác cao.
- Bằng việc lấy tổng bình phương các thị phần của các hãng sẽ khuếch đại các hãng có thị
phần lớn trong ngành
- Chỉ số HHI hầu như đáp ứng các tiêu chuẩn của tập trung.
Trang 10Chương III Tổng quan về ngành hàng không Việt Nam
III.1 Lịch sử ngành hàng không Việt Nam
Ngành hàng không tại Việt Nam bắt đầu vào năm 1956 khi Thủ tướng Phạm VănĐồng ký và ban hành Nghị định số 666/TTG nhằm thành lập Cục Hàng không dân dụngtrực thuộc Chính phủ và nằm dưới quyền quản lý của Không Quân Nhân dân Việt Nam,đặt ra cơ sở cho việc ra đời tổ chức vận chuyển hàng không, hội nhập, giao lưu hàngkhông với các nước, đáp ứng nguyện vọng đi lại bằng đường hàng không của nhân dân
Ngành hàng không Việt Nam trong giai đoạn 1956 – 1975:
Từ năm 1956, ngay sau khi ra đời, ngành Hàng không Việt Nam đã gặt hái đượcmột số thành công khi kể từ tháng 2 năm 1956, máy bay của Hàng không dân dụng ViệtNam đã bắt đầu thay thế Hàng không Pháp để phục vụ Ủy ban quốc tế giám sát việc thựchiện Hiệp định Geneve tại Việt Nam, nhiệm vụ chủ yếu của Hàng không Việt Nam thời kì
1956 – 1959 này là đưa những đoàn đại biểu cấp cao từ Việt Nam qua các quốc gia trênthế giới và ngược lại cho những hội nghị, công tác Tới cuối năm 1959, theo thống kê củaTrung đoàn Không quân vận tải 919 (được sát nhập bởi Cục Hàng không dân dụng vàKhông quân vận tải); số máy bay của Việt Nam là 10, và tổng số chuyến bay đã đượcthực hiện thành công là 3,735 Trong thời kì kháng chiến chống Mỹ tại miền Nam và xâydựng Chủ nghĩa xã hội tại miền Bắc, vào ngày 7/6/1963, Thủ tướng Chính phủ ra Quyếtđịnh số 39/BT tái thành lập Cục Hàng không dân dụng; nhiệm vụ của ngành Hàng khôngDân dụng trong thời kì này là vận chuyển nhân lực, hàng hóa và tư trang chi viện chomiền Nam kháng chiến chống Mỹ cũng như tăng cường quản lý lực lượng hàng khôngdân dụng đồng thời nâng cao vai trò, vị trí của hàng không dân dụng Việt Nam trêntrường quốc tế
Ngành hàng không Việt Nam trong giai đoạn 1976 đến nay:
Sau khi đất nước giải phóng vào năm 1975, khu vực hàng không Việt Nam đã pháttriển lớn mạnh với sự kiện Thủ tướng chính phủ ra Quyết định số 28/CP về việc thành lậptổng cục Hàng không dân dụng trực thuộc Hội đồng Chính phủ, số máy bay trong đoànbay tới thời điểm này là 42 chiếc Kể từ năm 1976, cơ sở hạ tầng được đẩy mạnh phát
Trang 11triển, các sân bay được trang bị với nhiều thiết bị hiện đại hơn nhằm phục vụ việc quản lý
và sắp xếp các đường bay Tổng cục Hàng không dân dụng thống kê rằng trong năm
1976, đội bay của tổng cục gồm hơn 50 chiếc bao gồm cả máy bay đến từ Liên Xô và Mỹ
và đã phục vụ hơn 250.000 hành khách cả trong nước và ngoài nước Từ ngày 20/8/1976,Chính phủ cho phép Ngành hàng không bán vé và cước hàng hóa; từ 1976 đến 1979 cụcvận chuyển được 1.161.928 lượt hành khách, 8.624 tấn hàng hóa, bưu kiện nội địa và40.000 lượt khách, 700 tấn hàng hóa đối với các tuyến bay quốc tế, thực hiện thành công2.514 chuyến bay, đảm bảo 50.000 giờ bay an toàn trong và ngoài nước; thường xuyên có70% máy bay tốt
Ngày 1/3/1980, Chính phủ Việt Nam tuyên bố gia nhập Công ước về Hàng khôngdân dụng quốc tế ký tại Chicago Theo Điều 92 của Công ước, Hàng không dân dụng ViệtNam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế (ICAO)ngày 12/4/1980 Sau khi được chính thức công nhận là thành viên chính thức của ICAO,Tổng cục trưởng hàng không dân dụng Việt Nam Trần Mạnh lần đầu tiên tham dự Đại hộiđồng ICAO lần thứ 23 tại Canada Tại diễn đàn này, Việt Nam đã nhận được sự đồng tìnhcủa cộng đồng hàng không dân dụng quốc tế đối với việc trao lại quyền điều hành vùngthông báo bay (FIR) Hồ Chí Minh cho Việt Nam Cũng trong năm 1980, viện trợ quốc tếsau chiến tranh giảm đáng kể cộng thêm khó khăn đến từ chính sách cấm vận của Mỹ đãkhiến cho Tổng cục Hàng không rơi vào khủng hoảng, nhu cầu bay đến từ người dânđang tăng cao nhưng cục không thể thay thế những máy bay đã cũ, ngoài ra việc tập trungvào vấn đề quân sự trong nhiều năm qua đã thể hiện rõ sự suy giảm về sự hiệu quả cả vềmặt kinh tế và cả mặt nhân lực; Tổng cục đã thực hiện cải cách về mặt cấu trúc cũng nhưvăn hóa, tập trung vào việc sửa chữa và bảo dưỡng trang thiết bị, tập trung hơn vào hainhiệm vụ chính của hàng không dân dụng: dịch vụ hàng không và vận chuyển hàngkhông Cuộc cải tổ toàn bộ của Tổng cục Hàng không Việt Nam đã dẫn đến sự ra đời củaHãng Hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) và sự tách biệt khỏi quản lý của
Bộ Quốc phòng
Năm 1993 đánh dấu một bước đi mới của ngành hàng không Việt Nam khiVietnam Airlines chính thức hoàn thành chương trình tái cấu trúc của nó và tách ra khỏi
Trang 12Tổng cục Hàng không và trở thành một doanh nghiệp nhà nước Tuy rằng trước đó vàotháng 12 năm 1990, Chính phủ cũng cấp phép thành lập hãng hàng không PacificAirlines, tuy nhiên nó vẫn là một thành viên của Vietnam Airlines và Ngành hàng khôngViệt Nam vẫn là một ngành độc quyền, với gần như 100% thị phần của ngành thuộc vềVietnam Airlines và cho đến tháng 1 năm 2005, Pacific Airlines mới được cấp phép táicấu trúc và bán lại 30% cổ phần của mình cho Vietnam Airlines và tách ra; chính phủ làmđiều này nhằm bãi bỏ hoàn toàn thế độc quyền của Vietnam Airlines và hướng đến thịtrường tự do hơn Tiếp theo đó là sự thành lập của Vietjet Air vào năm 2007 và một loạtcác hãng hàng không khác Tính đến năm 2010, có 7 hãng hàng không nội địa đã đi vàohoạt động, cho thấy rằng thị trường hàng không vào thời điểm này đã được coi là thịtrường cạnh tranh độc quyền và đang hướng tới một thị trường tự do hơn trong tương lai.
III.2 Đặc điểm hàng hóa ngành hàng không
Ngành hàng không, trong nội dung bài báo cáo này gói gọn lại là Hàng không dândụng; là một ngành thuộc nhóm các ngành cung cấp dịch vụ, vì vậy sản phẩm của ngànhchủ yếu là dịch vụ hàng không và vận chuyển hàng không, tuy nhiên không giống vớidịch vụ từ các ngành khác, dịch vụ được cung cấp của ngành hàng không là đặc thù, chính
nó cũng là một tổ hợp dịch vụ, với các cách phân loại khác nhau: Dịch vụ hàng khôngđược phân loại tùy vào tiêu chuẩn đánh giá Với cách phân loại phổ biến nhất là phân loạitheo tính chất và phạm vi hoạt động: Dịch vụ hàng không tại cảng hàng không, sân bay vàdịch vụ hàng không ngoài cảng hàng không, sân bay (chủ yếu là các dịch vụ trong chuyếnbay), ngoài ra nếu dựa trên dây chuyền kinh doanh vận tải hàng không, người ta có thểchia thành: dịch vụ hàng không trực tiếp tại dây truyền kinh doanh của nhà vận chuyểnhàng không và dịch vụ hàng không đảm bảo chức năng cho chuyến bay, dịch vụ ngoàidây truyền vận tải của hãng hàng không Dịch vụ hàng không không chỉ là một sản phẩmcủa ngành hàng không mà còn là một tiêu chí đánh giá chất lượng vận chuyển Khi kháchhàng yêu cầu cung cấp từ dịch vụ từ phía hãng hàng không thì một điều tất yếu là hãngphải cung cấp một cách đầy đủ và tốt nhất tất cả các dịch vụ một cách đồng đều, và yêucầu sự hợp tác của không chỉ doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mà các doanh nghiệp hỗ trợcác dịch vụ đi kèm Về dịch vụ vận tải hàng không thì đây cũng là một trong những sản
Trang 13phẩm quan trọng của hàng không dân dụng, bao gồm vận chuyển hàng hóa và vận chuyểnkhách hàng, dịch vụ vận tải hàng không có tính ưu việt hơn so với các dịch vụ vận tảibằng đường sắt, đường thủy và đường bộ do đường bay là đường thẳng, các hãng khaithác dịch vụ vận tải hàng không không cần tốn chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng liên quanđến đường vận chuyển Tuy nhiên, dịch vụ vận tải hàng không bị giới hạn bởi cước phílớn, đa số là trang thiết bị, chi phí sân bay,… tựu chung lại là các chi phí khác trong góidịch vụ vận chuyển mà hãng hàng không cung cấp Sản phẩm vận chuyển hàng không bịgiới hạn lại cung cấp cho khách hàng với mức thu nhập trung bình khá đến cao do phí dichuyển bằng đường hàng không là rất lớn, cao hơn khoảng 8 lần so với tàu biển và 2 – 4
so với đường sắt và đường bộ Ngoài ra việc vận chuyển bằng hàng không có lưu lượngkhông lớn, so với vận chuyển bằng đường thủy và đường sắt thì nhỏ hơn rất nhiều, chính
vì 2 lý do này, vận chuyển hàng không đối với hàng hóa giới hạn lại với những hàng hóagiá trị thấp, nguyên liệu, sản phẩm nông nghiệp do cước chiếm một tỷ lệ quá lớn trong giáhàng ở nơi đến làm cho giá hàng quá cao, không có sức cạnh tranh.Vận tải hàng khôngchỉ thích hợp với việc vận chuyển những mặt hàng có giá trị cao, hàng cứu trợ khẩn cấp,hàng đòi hỏi giao ngay …
III.3 Thực trạng của ngành hàng không Việt Nam hiện nay
Điểm mạnh:
Một trong những thế mạnh hàng đầu của hàng không Việt Nam so với các quốc giakhác đó chính là việc phát triển và chuyển giao công nghệ hàng không từ rất sớm, ngaykhi bắt đầu mở cửa đối với thế giới; do đó hiện nay hệ thống cảng hàng không, hệ thốngkiểm soát không lưu cũng như những công nghệ trên các phương tiện khá hiện đại so vớiphần còn lại của thế giới, điều đó giúp làm tăng mức độ cạnh tranh với những hãng kháctrong việc cấp phép khai thác các đường bay quốc tế; tiêu biểu là Vietnam Airlines làhãng hàng không quốc gia có uy tín, tầm cỡ trong khu vực nhờ thế mạnh về đội bay hiệnđại, dịch vụ đạt tiêu chuẩn 4 sao trên 5 sao hoặc hãng hàng không Jetstar Pacific Airlines
do Vietnam Airlines nắm giữ 70% cổ phần và Qantas của Úc nắm giữ 30% cổ phần cũng
là một trong những ví dụ cho thấy việc hợp tác sâu rộng với các quốc gia trên thế giới
Trang 14trong ngành hàng không từ đó cũng làm nâng tầm vị thế của Hàng không Việt Nam trêntrường quốc tế.
Điểm yếu:
Ngoài những thế mạnh kể trên, ngành hàng không Việt Nam có tồn tại một số yếuđiểm đáng lưu tâm, đó chính là tuy được chuyển giao công nghệ từ các quốc gia trên thếgiới, các cảng hàng không của Việt Nam vẫn chưa có thể phát huy hoàn toàn thế mạnhđến từ việc đó; lấy ví dụ cảng Hàng không quốc tế Cần Thơ vẫn chưa đáp ứng được kỳvọng mà Bộ GTVT đặt ra, nguyên nhân là do lượng hành khách không ổn định, chưa cónhiều chính sách để thu hút các hãng hàng không nước ngoài khai thác Ngoài ra, sự pháttriển không đồng đều giữa công nghệ bay và công nghệ tại các cảng hàng không như NộiBài và Tân Sơn Nhất cũng là một trong những yếu điểm của Hàng không Việt Nam
Cơ hội:
Các cảng hàng không hiện nay của Việt Nam đang được đầu tư một cách mạnh mẽđến từ các nhà đầu tư trên thế giới bằng cách khai thác các đường bay quốc tế cũng nhưtham gia xây dựng và chuyển giao công nghệ để nâng cao chất lượng của các cảng hàngkhông, đó là do Việt Nam là một trong những cửa ngõ của Đông Nam Á, từ Việt Nam cóthể bay một cách thuận tiện tới nhiều vị trí, việc có thể khai thác các đường bay quốc tếđến Tân Sơn Nhất, Nội Bài,… là một trong những thành công của các hãng; lấy ví dụhãng Hàng không của Thái Lan đã được Cục Hàng không cấp phép Đến tháng 3.2019,hãng Hàng không của Thái Lan sẽ chính thức khai thác những chuyến bay đầu tiên tạiCần Thơ Bên cạnh đó, có một số hãng Hàng không của Hàn Quốc, Trung Quốc cũng cónhững khảo sát đối với thị trường Cần Thơ Nhiều hãng hàng không có thế lực phía sau lànhững nhà đầu tư lớn đã sẵn sàng tham gia cuộc đua này như Bamboo Airlines, VietstarAirlines hay cả một liên doanh với AirAsia đang vẽ nên một viễn cảnh vô cùng sôi độngdành cho thị trường hàng không Việt Nam Hiệp định mở cửa bầu trời giữa các quốc giaĐông Nam Á cũng tạo ra cơ hội để các hãng hàng không Việt Nam nỗ lực củng cố nănglực và gia tăng thị phần để có thể đủ sức cạnh tranh với hơn 52 hãng hàng không nướcngoài đang khai thác hơn 78 đường bay đi và đến Việt Nam như hiện nay
Trang 15 Thách thức:
Áp lực giảm tốc toàn ngành đã bắt đầu xuất hiện khi lượng hành khách quốc tế tớiViệt Nam suy giảm ở thị trường chính là Trung Quốc, trong khi đó thị trường vận tải hàngkhông nội địa đã dần bước vào thời kỳ bão hòa Sự phát triển chưa đồng bộ của cơ sở hạtầng, đặc biệt là hai cảng hàng không quốc tế chính là Nội Bài và Tân Sơn Nhất đã kìmhàm đà tăng trưởng của toàn ngành Áp lực cạnh tranh ngày một gay gắt tới từ các doanhnghiệp mới như: Vinpearl Air, Bamboo Airway hay VietTravel Airlines… khiến cho thịtrường hàng không ngày càng trở nên chật chội khi ngành đang chịu áp lực giảm tốc trongngắn hạn Nếu không giải quyết được sớm những thách thức liên quan đến việc phát triển
cơ sở hạ tầng trong những năm tiếp theo, ngành vận tải hàng không Việt Nam có thể sẽgiẫm vào “vết xe đổ” của ngành Hàng không Indonesia, khi có nhiều hãng hàng khônghoạt động mà các sân bay vẫn xưa cũ, tạo nên áp lực quá lớn cho công tác quản lý, dẫnđến nguy cơ mất an toàn cũng như tình trạng hoãn, hủy chuyến tràn lan; một điều đangxảy ra với mật độ càng tăng lên trong ngành hàng không Việt Nam, đặc biệt với hai hãngchiếm thị phần rất lớn là Vietjet Air và Vietnam Airlines
III.4 Vai trò của ngành hàng không đối với Việt Nam
III.4.1 Góp phần phát triển kinh tế quốc gia a) Giúp cho các quá trình sản xuất diễn ra liên tục và bình thường
Với xu hướng toàn cầu hóa việc giao thương đã được mở rộng ra khắp thế giới
Các hợp đồng mua bán quốc tế ngày càng nhiều hơn Chính vì vậy, sự phát triển của hệthống GTVT bằng đường hàng không mở ra nhằm đáp ứng xu thế tất yếu của quá trìnhhội nhập Với mối quan hệ qua lại mật thiết đối với các ngành kinh tế cung cấp nguyênnhiên liệu vận chuyển máy móc thiết bị trong và ngoài nước một cách tiện lợi và nhanhchóng nhằm tăng cường quá trình chuyên môn hóa cho các ngành kinh tế làm tăng khốilượng và cự ly vận chuyển giao thông vận tải Giao thông vận tải bằng đường hàng khôngcòn làm cho các ngành kinh tế thế giới có sự gắn kết và có mối liên hệ chặt chẽ với nhauhơn Như vậy, nhờ có ngành hàng không mà việc cung ứng vật tư kỹ thuật nguyên liệu
Trang 16năng lượng cho các cơ sở sản xuất trong và ngoài nước diễn ra liên tục, nhanh chóng vàkhông bị gián đoạn
Hàng không kết nối mạng lưới giao thông vận tải trên toàn thế giới Đó là điều vô cùngcần thiết cho kinh doanh toàn cầu và du lịch Nó đóng một vai trò quan trọng trong việcthúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là ở các nước đang phát triển
Hàng không vận chuyển gần 2 tỷ hành khách mỗi năm và 40% kim ngạch xuất khẩu liênvùng hàng hóa (theo giá trị)
40% khách du lịch quốc tế hiện nay đi du lịch bằng đường hàng không
Ngành công nghiệp vận tải hàng không tạo ra tổng cộng 29 triệu việc làm trên toàn cầu
Tác động của hàng không lên kinh tế toàn cầu được ước tính khoảng $ 2,960 tỷ đồng,tương đương với 8% của thế giới Tổng sản phẩm trong nước (GDP)
25% công ty bán hàng phụ thuộc vào vận tải hàng không 70% doanh nghiệp báo cáorằng, để phục vụ một thị trường lớn thì sử dụng dịch vụ hàng không là điều tất yếu
III.4.2 Thúc đẩy sự phát triển hệ thống giao thông vận tải
Hệ thống giao thông vận tải phát triển là cơ sở cho sự phát triển của các nền kinh tếkhác Hệ thống giao thông vận tải đường bộ, đường thủy, đường hàng không thường cótác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau ví dụ hệ thống giao thông vận tải bằng đường bộphát triển mạnh thì lưu lượng vận chuyển bằng đường bộ sẽ tăng và điều tất yếu các hệthống giao thông vận tải khác sẽ bị ảnh hưởng Tuy nhiên, bên cạnh việc tăng tính cạnhtranh trong hệ thống GTVT, sự phát triển đồng bộ sẽ thúc đẩy sự phát triển hài hòa hơncủa hệ thống giao thông vận tải
III.4.3 Vai trò đối với xã hội a) Phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân
GTVT phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân điều này thể hiện rất rõ trong đời sống
Sự phát triển của ngành hàng không đã làm cho việc giao thông đi lại giữa các vùng cácđịa phương thuận tiện, nếu như trước kia địa hình và khoảng cách gây khó khăn cản trởviệc đi lại thì giờ đây sự phát triển của ngành hàng không làm cho phục vụ nhu cầu đi lạicủa nhân dân được thuận lợi và nhanh chóng hơn Chính vì vậy, ngành hàng không không
Trang 17ngừng nâng cấp nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu đi lại bằng máy bay đang ngày càng giatăng
b) Là nhân tố quan trọng trọng trong sản xuất và phân bố dân cư
Các mối liên hệ kinh tế, xã hội giữa các địa phương được thực hiện nhờ mạnglưới GTVT Những tiến bộ của ngành hàng không đã mở rộng các mối liên hệ vận tải vàđảm bảo sự giao thông thuận tiện giữa các địa phương trên thế giới Vì thế những nơi gầncác cảng hàng không, các đầu mối giao thông cũng là nơi tập trung phân bố sản xuất vàdân cư Vì vậy mà cơ sở sản xuất đặt ở các vị trí gần những nơi này cũng đồng nghĩa làgần nguyên liệu và gần nơi tiêu thụ.việc giảm chi phí đáng kể vận tải ở nhiều ngành sảnxuất, nhất là các ngành đòi hỏi nhiều chi phí vận tải trong cơ cấu giá thành sản phẩm Vớinhững tiến bộ của ngành hàng không trong GTVT đã làm cho quan niệm về khoảng cáchkhông gian thay đổi căn bản chẳng hạn ở các nước phát triển khi hỏi về khoảng cách giữa
2 địa điểm người ta thường hỏi phải mất bao nhiêu giờ (phút) nếu đi bằng ôto hay tàu hỏahay là máy bay mà không diễn đạt bằng km => người ta dùng thời gian tiêu phí để đolường khoảng cách chứ không dùng đơn vị đo khoảng cách thực sự
c) Thúc đẩy hoạt động kinh tế – văn hóa ở những vùng xa xôi
Ngành hàng không phát triển đã khắc phục những trở ngại về địa hình,tăng cườnggiao lưu kinh tế-xã hội giữa các địa phương trên thế giới, làm cho giao thương gi ữa các đ
ịa phương trong nước được mật thiết,dễ dàng hơn,quản lý của chính quyền đ ược chặt chẽhơn.Như vậy, nó góp phần tăng cường tính thống nhất về mặt nhà nước, củng c ố tínhthống nhất của nền kinh tế; tạo nên mối giao lưu kinh tế giữa các nước trên thế giới
GTVT bằng hàng không rõ ràng đã tạo nên mối giao lưu kinh tế giữa các nước làm choviệc thông thương giữa các nước dễ dàng hơn
Chương IV Đánh giá cấu trúc thị trường của ngành
IV.1 Tổng quan về các doanh nghiệp trong ngành
Hiện tại có 72 hãng hàng không quốc tế và 5 hãng không Việt Nam khai thác hơn
200 đường bay quốc tế thường lệ và thuê chuyến từ 25 quốc gia và vùng lãnh thổ đến 8 điểm