1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Tiểu luận FTU) ảnh hưởng của lãi suất đến tăng trưởng kinh tế

35 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh Hưởng Của Lãi Suất Đến Tăng Trưởng Kinh Tế
Tác giả Đỗ Thị Thu Hồng, Nguyễn Thị Thu Phương, Nguyễn Thị Thu Trà
Người hướng dẫn T.S Nguyễn Thị Lan
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Tài Chính Tiền Tệ
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 522,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách về lãi suất là một công cụ quan trọng trong điều hànhchính sách tiền tệ quốc gia nhằm thúc đầy tăng trưởng kinh tế và kiềm chếlạm phát cũng như các biến số kinh tế khác.. Tổng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

LÃI SUẤT ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Giảng viên hướng dẫn: T.S Nguyễn Thị Lan Nhóm 8 – Lớp tín chỉ TCH301.9

1.Đỗ Thị Thu Hồng MSV: 1711110288 STT: 27 2.Nguyễn Thị Thu Phương MSV: 1711110562 STT: 55 3.Nguyễn Thị Thu Trà MSV: 1711110698 STT: 72

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 4

PHẦN 2: NỘI DUNG 5

CHƯƠNG I : TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

I Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước: 5

1 Tổng quan nghiên cứu ngoài nước: 5

1.1 Nghiên cứu của Karl Marx: 5

1.2 Nghiên cứu của M.Friedman: 6

1.3 Nghiên cứu của Keynes: 7

1.4 Một số nghiên cứu khác: 8

1.4.a Nghiên cứu của Adam Smith 8

1.4.b Nghiên cứu của Nicolas Gregory Mankiw 8

1.4.c Nghiên cứu của Mashat, Aleem : 9

2 Tổng quan nghiên cứu trong nước: 10

II Cơ sở lý thuyết và khung phân tích: 12

1 Cơ sở lý thuyết và khung phân tích rút ra từ các công trình nghiên cứu ngoài nước: 12

1.1 Nghiên cứu của Karl Marx: 12

1.2 Nghiên cứu của M.Friedman: 14

1.3 Nghiên cứu của Keynes: 19

1.4 Một số nghiên cứu khác 22

1.4.a Nghiên cứu của Adam Smith: 22

1.4.b Nghiên cứu của Nicolas Gregory Mankiw: 22

1.4.c Nghiên cứu của Masht, Aleem: 25

Trang 3

2 Cơ sở lý thuyết và khung phân tích rút ra từ các công trình

nghiên cứu trong nước: 26

III Phương pháp nghiên cứu: 29

1 Phương pháp nghiên cứu định lượng: 29

2 Phương pháp nghiên cứu định tính: 31

3 Phương pháp thu thập số liệu: 32

PHẦN 3: KẾT LUẬN 33

PHẦN 4: TÀI LIỆU THAM KHẢO 34

Trang 4

Chính sách về lãi suất là một công cụ quan trọng trong điều hànhchính sách tiền tệ quốc gia nhằm thúc đầy tăng trưởng kinh tế và kiềm chếlạm phát cũng như các biến số kinh tế khác Lãi suất được sử dụng linh hoạt

sẽ có tác động tích cực đến nền kinh tế và ngược lại Cùng với sự chuyển đốisang nền kinh tế thị trường, Việt Nam đã có những cải cách cơ bản trong cáchoạt động của toàn bộ hệ thống ngân hàng và tài chính

Nhận thức được tầm quan trọng của ảnh hưởng của lãi suất đến tăng

trưởng kinh tế nên chúng em đã chọn đề tài nghiên cứu: “Tổng quan nghiên

cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu về ảnh hưởng của lãi suất đến tăng trưởng kinh tế”

Mong cô và các bạn xem xét để bài tiểu luận của chúng em được hoànthiện hơn Chúng em xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

1.4.b NỘI DUNG CHƯƠNG I : TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

I Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước:

1.4.c Tổng quan nghiên cứu ngoài nước:

Chúng ta có thể thấy các quan điểm, công trình nghiên cứu về lãi suất

và mối quan hệ của nó trong nền kinh tế gắn với thời gian và bối cảnh kinh tếnhất định nên có những điểm chưa tương đồng và chính xác Nhưng phầnnào đã cho chúng ta cái nhìn tổng thể về lãi suất và giúp chúng ta có nhữngcách tiếp cận dễ dàng hơn, tìm ra khoảng trống trong những công trìnhnghiên cứu đó và không ngừng cải thiện

1.4.d Nghiên cứu của Karl Marx:

- Lý thuyết của Mác chỉ ra nguồn gốc, bản chất lãi suất trong nềnkinh tế hàng hoá TBCN, trong nền kinh tế XHCN

- Qua qúa trình nghiên cứu bản chất của CNTB Mác đã vạch rarằng quy luật giá trị thặng dư tức giá trị lao động không của công nhân làmthuê tạo ra là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghia tư bản và nguồn gốc củamọi lãi suất đều xuất phát từ giá trị thặng dư Vì vậy sau khi phân tích côgthức chung của tư bản và hình thái vận động đầy đủ của tư bản, Mác đã kếtluận: “Lãi suất là phần giá trị thặng dư được tạo ra do kết quả bóc lột laođộng làm thuê bị tư bản bị tư bản – chủ ngân hàng chiếm đoạt”

Trang 6

các nhu cầu của tất cả các thành viên trong xã hội Tác dụng của lãi suất phảibám sát các mục tiêu kinh tế để không ngừng phát triển nền kinh tế

1.4.e Nghiên cứu của M.Friedman:

Milton Friedman (1912 – 2006) là một nhà kinh tế học người Mỹ.

Năm 1976, Friedman nhận Giải Nobel Kinh tế vì những đóng góp vào lĩnhvực phân tích tiêu dùng, lịch sử và lý thuyết tiền tệ cũng như vì công lao củaông trong việc chứng minh tính phức tạp của chính sách ổn định kinh tế vĩmô

Friedman chính là người đã lập nên trường phái kinh tế học vĩ mô rất

có ảnh hưởng – trường phái trọng tiền (monetarism) Tư tưởng chính trị củaFriedman nhấn mạnh những ưu thế của thị trường và những bất lợi khi Nhànước can thiệp vào nền kinh tế đã định hình quan điểm của những người theotrường phái bảo thủ và tự do ở Mỹ Quan điểm của ông về chính sách tiền tệ,thuế khóa, tư nhân hóa và giảm bớt sự can thiệp của chính phủ đã có tácđộng to lớn tới chính sách của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt thời kỳchính quyền Ronald Reagan ở Mỹ và Margaret Thatcher ở Anh

M.Friedman chính là người đã lập nên trường phái kinh tế học vĩ môrất có ảnh hưởng – trường phái trọng tiền (monetarism), cũng có quan điểmtương tự J.M.Keynes rằng lãi suất là kết quả của hoạt động tiền tệ Tuy nhiênquan điểm của Friedman khác cơ bản với Keynes ở việt xác định vai trò củalãi suất Nếu Keynes cho rằng cầu tiền là một hàm của lãi suất còn Friedmandựa vào nghiên cứu các tài liệu thực tế thống kê trong một thời gian dài, ông

đi đến khẳng định mức lãi suất không có ý nghĩa tác động đến lượng cầu vềtiền mà cầu tiền là biểu hiện là một hàm của thu nhập và đưa ra khái niệmtính ổn định cao của cầu tiền tệ Quan điểm của ông về chính sách tiền tệ,

Trang 7

động to lớn tới chính sách của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt thời kỳchính quyền Ronald Reagan ở Mỹ và Margaret Thatcher ở Anh.

Có thể thấy rằng: quan điểm coi lãi suất là kết quả hoạt động của tiền

tệ đã rất thành công trong việc xác định các nhân tố cụ thể ảnh hưởng đến lãisuất tín dụng Tuy nhiên, hạn chế của cách tiếp cận này là suy bản chất củalợi tức là bản chất của tiền và dừng lại ở việc nghiên cứu cụ thể

1.4.f Nghiên cứu của Keynes:

Lãi suất: là phần trả công cho sự chia ly của cải tiền tệ (số tiền trả choviệc không sử dụng tiền mặt trong một khoảng thời gian nhất định) Khôngphải cho tiết kiệm hay nhịn ăn tiêu (vì khi tích trữ tiền mặt dù rất nhiều cũngkhông nhận được khoản trả công nào cả)

Lãi suất chịu ảnh hưởng của hai nhân tố là: khối lượng tiền trong tiêudùng (tỉ lệ nghịch) và sự ưa chuộng tiền mặt (tỉ lệ thuận) Đây là điểm quantrọng để Keynes đưa ra chính sách điều chỉnh kinh tế của Nhà nước (tănghiệu quả giới hạn tư bản và giảm lãi suất) Sự ưa chuộng tiền mặt là khuynhhướng có tính chất hàm số, biều diễn dưới dạng hàm số:

Trang 8

1.4.g Một số nghiên cứu khác:

1.4.h. Nghiên cứu của Adam Smith

A.Smith (1723 - 1790) là người mở ra giai đoạn mới trong sự phát triểncủa kinh tế chính trị tư sản, ông là bậc tiền bối lớn nhất của Mác Tác phẩmnổi tiếng nhất của ông là "Nghiên cứu về bản chất và nguồn gốc sự giàu cócủa các dân tộc"

Về thế giới quan và phương pháp luận của A.Smith cơ bản là thế giớiquan duy vật nhưng còn mang tính tự phát và máy móc, trong phương phápcòn song song tồn tại cả hai phương pháp khoa học và tầm thường Điều nàyảnh hưởng sâu sắc đến các học thuyết kinh tế tư sản sau này

Học thuyết của A.Smith là một trong những học thuyết có tiếng vang lớn,

nó trình bày một cách có hệ thống các phạm trù kinh tế, xuất phát từ cácquan hệ kinh tế khách quan Học thuyết kinh tế của ông có cương lĩnh rõràng về chính sách kinh tế, có lợi cho giai cấp tư sản trong nhiều năm Trong

Lý luận về lợi nhuận, lợi tức, nhà nghiên cứu cổ điển đã đưa ra những quanđiểm sơ khai về lãi suất

1.4.i. Nghiên cứu của Nicolas Gregory Mankiw

Nicolas Gregory Mankiw (sinh năm 1958) là nhà kinh tế học nổi tiếngngười Mỹ, ông theo trường phái Kinh tế học Keynes mới, và được bình chọn

là một trong 20 nhà kinh tế học xuất sắc nhất thế giới hiện nay

Ông là tác giả của cuốn sách “Kinh tế học vĩ mô” được xuất bản vào năm

1992, và cuốn sách này đã nhanh chóng trở thành giáo trình giảng dạy chínhcủa nhiều trường kinh tế trên thế giới, trong đó có Việt Nam

Nghiên cứu của ông xoay quanh về những vấn đề của lãi suất ảnh hưởngđến môi trường cũng như môi trường tác động ngược trở lại lãi suất

Trong kinh tế học, thuật ngữ "chi phí thực đơn" được sử dụng để chỉ mộtkiểu tác hại của lạm phát Xuất phát từ tác hại của việc thay đổi giá này mà

lý luận như sau:

 Giả dụ có một cú sốc dẫn tới mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầukhiến cho mức giá chung của nền kinh tế tăng lên, nghĩa là lạm phát

Trang 9

 Trong ngắn hạn, mức tăng giá là không lớn Nhưng việc sửa lại (in ấn,phân phát lại, ) các thực đơn, các báo giá để phản ánh sự tăng giá cả nhỏ nóitrên lại không nhỏ Các doanh nghiệp phải chịu chi phí lớn hơn những lợi ích

mà họ thu được nếu tăng giá bán sản phẩm của mình

Vì vậy, các doanh nghiệp có xu hướng trong ngắn hạn sẽ không thay đổi giá

cả Và vì vậy, họ cũng không thay đổi mức tiền công trả cho lao động vàcũng không thay đổi số lao động trong doanh nghiệp của mình

 Thế có nghĩa là trong ngắn hạn, thị trường hàng hóa sẽ có thể có mấtcân bằng Tổn thất xã hội và tổn thất cá nhân (của doanh nghiệp) xảy ra, songtổn thất cá nhân nhỏ hơn tổn thất xã hội Đây là một loại thất bại thị trường,

và vì thế cần có sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế

1.4.j. Nghiên cứu của Mashat, Aleem :

Năm 2003, Mashat (2003) sử dụng mô hình VECM trong giai đoạnQ1/1980 - Q4/2002 tại Ấn Độ nhằm so sánh hiệu quả truyền dẫn giữa cáckênh lãi suất, tỷ giá và kênh tín dụng

Từ đó nhận thức được ảnh hưởng của chính sách tiền tệ, trong đó cóchính sách lãi suất tới nền kinh tế

Năm 2010, Aleem (2010) xem xét các cơ chế truyền dẫn CSTT ở Ấn

Độ giai đoạn Q4/1996 - Q4/2007 Tác giả sử dụng mô hình VAR để kiểmtra tác động của CSTT thông qua các kênh truyền dẫn như lãi suất, tỷ giá,kênh tín dụng

Trang 10

1.4.k Tổng quan nghiên cứu trong nước:

Trần Ngọc Thơ và cộng sự (2013) nghiên cứu về cơ chế truyền dẫnCSTT ở Việt Nam tiếp cận theo mô hình SVAR với các biến gồm: Giá dầu,lãi suất cơ bản của Mỹ, biến trong nước gồm sản lượng công nghiệp, chỉ sốgiá tiêu dùng, cầu tiền M2, lãi suất tiền gửi VND kỳ hạn 3 tháng, tỷ giá danhnghĩa Trong số 7 biến được sử dụng trong mô hình, biến đại diện cho nhómbiến ngoại sinh là giá dầu thế giới (PC) và lãi suất cơ bản (Federal FundsRate) của Mỹ Mẫu được phân thành hai mẫu nhỏ để có thể so sánh cơ chếtruyền dẫn ở hai thời kỳ Mẫu thứ nhất được quan sát từ tháng 1/1998 đếntháng 12/2006 Mẫu thứ hai gồm các quan sát từ tháng 1/2007 đến tháng4/2012 Kết quả nghiên cứu cho thấy có một số vấn đề còn bỏ ngỏ trong đó

có vấn đề về giá (giá cả tăng lên khi thắt chặt tiền tệ) Kênh lãi suất tạo raphản ứng trễ đối với biến lạm phát trong khi tỷ giá hối đoái lại có phản ứngngay tức thì trước cú sốc tỷ giá hối đoái

Đinh Thị Thu Hồng (2013) nghiên cứu về hiệu quả của CSTT thôngqua kênh truyền dẫn lãi suất, bằng cách tiếp cận mô hình GARCH bất đốixứng Các quốc gia trong mẫu nghiên cứu bao gồm: Việt Nam, TrungQuốc, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Hàn Quốc, Hồng Kông,Thái Lan Thời kỳ được xem xét từ 1/1997 - 12/2009 Các kết quả thựcnghiệm thu được cho thấy truyền dẫn lãi suất ở Việt Nam xảy ra không hoàntoàn, với cơ chế truyền dẫn đối xứng; tuy nhiên, tốc độ điều chỉnh về mứccân bằng dài hạn của lãi suất tiền gửi và cho vay có sự chênh lệch trongtrường hợp lãi suất cao hơn hoặc thấp hơn mức cân bằng

Trang 11

Trong tạp chí ngân hàng ngày 24/6/2010 về Chính sách lãi suất: Cơ sở

lý luận và thực tiễn, TS Nguyễn Thị Kim Thanh - Viện trưởng Viện Chiến

lược ngân hàng – NHNN đã chỉ ra rằng năm 2009, khủng hoảng kinh tế tàichính toàn cầu đã đặt hệ thống ngân hàng Việt Nam đứng trước một năm đầykhó khăn và thách thức Trên cơ sở bám sát chỉ đạo, điều hành của Chínhphủ cùng với sự nỗ lực của toàn ngành, hoạt động ngân hàng năm 2009 đãđạt được nhiều kết quả tích cực Trong đó, nổi bật là việc triển khai kịp thời

cơ chế hỗ trợ lãi suất, điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động của các ngânhàng thương mại (NHTM) trong năm 2009 đã có sự ổn định tương đối so vớinăm 2008 Tuy nhiên, trên thực tế, những biến động và căng thẳng trên thịtrường tiền tệ vẫn còn tồn tại, ở một số thời điểm, đã có những ảnh hưởngđến hoạt động của các doanh nghiệp và tâm lý của người dân trong nền kinh

tế, đồng thời cũng đặt ra những thách thức đối với hoạt động của ngành Ngânhàng trong năm 2010 Một trong những vấn đề của năm 2009, mặc dù đã cónhững giải đáp cụ thể về chính sách điều hành, song, trong những tháng đầunăm 2010, vẫn nổi lên những vấn đề tranh luận xoay quanh việc điều hànhchính sách lãi suất của NHNN, đặc biệt là việc dỡ bỏ trần lãi suất huy động

có được thực hiện hay không đã gây ảnh hưởng không tích cực đến sự ổnđịnh của hệ thống ngân hàng

Từ đó nhận thức được mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất của phầnlớn Ngân hàng Trung ương (NHTƯ) của các nước trên thế giới cũng nhưNHNN Việt Nam là ổn định giá trị đồng tiền của quốc gia - thông qua việckiểm soát lạm phát Trong đó, lãi suất là một trong những công cụ điều hànhchính sách tiền tệ (CSTT) của NHTƯ để đạt được mục tiêu tôn chỉ đó

Trang 12

I Cơ sở lý thuyết và khung phân tích:

1 Cơ sở lý thuyết và khung phân tích rút ra từ các công trình nghiên cứu ngoài nước:

1.1 Nghiên cứu của Karl Marx:

Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, theo Mác, khi xã hội phát triển thì

tư bản tài sản tách rời tư bản chức năng, tức là quyền sở hữu tư bản tách rờiquyền sử dụng tư bản nhưng mục đích của tư bản là giá trị mang lại giá trịthặng dư thì không thay đổi Vì vậy, trong xã hội phát sinh quan hệ cho vay

và đi vay, đã là tư bản thì sau một thời gian giao cho nhà tư bản đi vay sử

dụng, tư bản cho vay được hoàn trả lại cho chủ sở hữu nó kèm theo một giátrị tăng thêm gọi là lợi tức

Về thực chất lợi tức chỉ là một bộ phận của giá trị thặng dư mà nhà tưbản đi vay phải cho nhà tư bản vay Trên thực tế nó là một bộ phận của lợinhuận bình quân mà các nhà tư bản công thương nghiệp đi vay phải chia chocác nhà tư bản cho vay Do đó nó là biểu hiện quan hệ bóc lột tư bản chủnghĩa được mở rộng trong lĩnh vực phân phối và giới hạn tối đa của lợi tức làlợi nhuận bình quân, còn giới hạn tối thiểu thì không có nhưng luôn lớn hơnkhông

Vì vậy sau khi phân tích côg thức chung của tư bản và hình thái vậnđộng đầy đủ của tư bản Mác đã kết luận:”Lãi suất là phần giá trị thặng dưđược tạo ra do kết quả bóc lột lao động làm thuê bị tư bản bị tư bản – chủngân hàng chiếm đoạt”

Sang đến nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, các nhà kinh tế học Mác xítnhìn nhận trong nền kinh tế XHCN cùng với tín dụng, sự tồn tại của lãi suất

Trang 13

và tác động của nó do mục đích khác quyết định, đó là mục đích thoả mãnđầy đủ nhất các nhu cầu của tất cả các thành viên trong xã hội Lãi suấtkhông chỉ là động lực của tín dụng mà tác dụng của nó đối với nkt phải bámsát các mục tiêu kinh tế Trong XHCN không còn phạm trù tư bản và chế độngười bóc lột người song điều đó không có nghĩa là ta không thể xác địnhbản chất của lãi suất Bản chất của lãi suất trong xã hội chủ nghĩa là “giá cảcủa vốn cho vay mà nhà nước sử dụng với tư cách là công cụ điều hoà hoạtđộng hạch toán kinh tế ”

Qua những lãi suất luận trên ta thấy các nhà kinh tế học Mác xít đã chỉ

rõ nguồn gốc và bản chất lãi suất Tuy nhiên quan điểm của họ không thể

hiện được vai trò của lãi suất và các biến số kinh tế vĩ mô khác ngày naytrước sự đổ vỡ của hệ thống XHCN, cùng với chính sách làm giàu chínhđáng , chính sách thu hút đầu tư lâu dài… đã không phù hợp với các chínhsách trước đây vì nó tôn trọng quyền lợi người đầu tư, người có vốn, thừanhận thu nhập từ tư bản Các chính sách về lãi suất cần dựa vào mục tiêukinh tế của nền kinh tế

Trang 14

1.4.b Nghiên cứu của M.Friedman:

Trường phái trọng tiền mà Friedman xây dựng lấy đối tượng nghiêncứu là nền kinh tế thị trường TBCN Ông đã áp dụng phương pháp kinh tế vĩ

mô, coi trọng vai trò kinh tế của nhà nước và các công cụ để nhà nước điềutiết nề kinh tế thị trường Ông chủ trương làm tăng mức cung tiền tệ hàngnăm theo một tỷ lệ nhất định, tạo sự ổn định và thúc đẩy tăng trưởng sảnlượng của nền kinh tế TBCN

Friedman khẳng định trường phái trọng tiền chỉ tác dụng khi có khoảnthu nhập không chắc chắn bởi vì khi đó xuất hiện tâm lý dự trữ đề phòng làmcho tiết kiệm tăng lên, còn khi có khoản thu nhập chắc chắn, ổn định thì mứctăng tiêu dùng cao hơn mức tăng thu nhập, tiết kiệm chỉ là số dư ra của tiêudùng và phụ thuộc vào các khoản thu nhập tức thời

Friedman cho rằng chính sách tài chính chỉ liên quan tới phân phối thunhập quốc dân cho quốc phòng và tiêu dùng công cộng, còn các biến số kinh

tế vĩ mô phụ thuộc vào mức cung tiền tệ Mức cung tiền tệ là nhân tố có tínhquyết định đến sản lượng quốc dân Cầu về tiền có tính ổn định cao, chỉ cómức cung tiền mới có tính không ổn định

Theo lý thuyết trọng tiền hiện đại cho rằng lạm phát là căn bệnh nangiải của xã hội chứ không phải là thất nghiệp, thất nghiệp chỉ là hiện tượngbình thường diễn ra trong xã hội Vì thế phải kiểm soát lạm phát

Trường phái trọng tiền ủng hộ và bảo vệ quan điểm tự do kinh doanh,

đề nghị phải dựa vào thị trường, nhà nước không nên can thiệp nhiều vào nềnkinh tế mà chỉ giới hạn ở việc điều chỉnh mức cung tiền tệ

Khung phân tích:

Trang 15

Trường phái trọng tiền là một trường phái tư tưởng kinh tế nhấn mạnhvai trò của chính phủ trong việc kiểm soát lượng tiền trong lưu thông Đó làquan điểm trong kinh tế tiền tệ mà sự thay đổi trong cung tiền có ảnh hưởnglớn đến sản lượng quốc gia trong ngắn hạn và mức giá đối với thời kỳ dàihơn, mục tiêu của chính sách tiền tệ được đáp ứng tốt nhất bằng mục tiêu tốc

độ tăng trưởng cung tiền

Friedman và Anna Schwartz đã viết một cuốn sách có ảnh hưởng, Lịchsử tiền tệ của Hoa Kỳ, 1867-1960, và lập luận "lạm phát luôn luôn và ở khắpmọi nơi là một hiện tượng tiền tệ." Mặc dù ông phản đối sự tồn tại của Dựtrữ Liên bang, Friedman vẫn ủng hộ sự tồn tại của nó, một chính sách ngânhàng trung ương nhằm giữ cung và cầu tiền ở trạng thái cân bằng, được đobằng tốc độ tăng trưởng trong sản xuất và nhu cầu.Quan điểm về chủ nghĩatrọng tiền của Friedman một phần mang tính kinh tế và một phần mang tínhchính trị Việc tăng đều đặn lượng cung tiền, ông lập luận, sẽ dẫn đến một

Trang 16

tính đến sự tăng trưởng của sản xuất, cũng như sự sụt giảm của vận tốc lưuthông của tiền tệ Tỉ suất tăng trưởng của cung tiền tệ cần được chọn là, mộtcách xấp xỉ, tỉ suất tăng trưởng của giá cả trong dài hạn.

Lãi suất các quỹ liên bang có hiệu lực ở Mỹ được thể hiện biểu đồ trong hơn nửa thế kỷ

Ông chưa bao giờ tuyên bố rằng làm theo nguyên tắc của ông sẽ loại bỏtất cả các cuộc suy thoái, nhưng ông đã lập luận rằng sự lên xuống trong lộtrình tăng trưởng của nền kinh tế sẽ nhỏ và có thể vượt qua – do vậy mới có

sự quả quyết rằng Đại Suy thoái đã không xảy ra nếu CDTLB tuân theo cácquy tắc của chính sách trọng tiền Và đi cùng với niềm tin có dè dặt vào khảnăng ổn định của nền kinh tế khi tuân theo các quy luật trọng tiền, là sựkhinh thường thiếu dè dặt mà Friedman dành cho khả năng của các quanchức CDTLB nếu được giao phó việc cân nhắc hành động Chứng cớ đầutiên cho sự không đáng tin cậy vào Cục dự trữ Liên bang là sự khởi đầu củacuộc Đại Suy thoái, nhưng Friedman có thể chỉ ra nhiều ví dụ khác về cácchính sách sai đường “Quy luật tiền tệ”, ông đã viết vào năm 1972, “sẽ bảo

vệ chính sách tiền tệ khỏi sự chuyên quyền của một nhóm ít người không bịcử tri kiểm soát và khỏi những áp lực ngắn hạn của chính trị đảng phái”

Từ đó ta thấy được những khoảng trống trong nghiên cứu của M.Friedman

Trang 17

Thứ nhất, khi Mỹ và Anh thử đưa học thuyết trọng tiền vào thực tế cuối

năm 1970, cả hai đều đã thu được những kết quả tệ hại: ở mỗi nước việc tăngđều đặn lượng cung tiền đều không thể ngăn ngừa tình trạng suy thoái khốcliệt Cục dự trữ Liên bang (CDTLB) chính thức đề ra những mục tiêu tiền tệkiểu Friedman vào năm 1979, nhưng thực tế đã từ bỏ chúng vào năm 1982khi tỉ lệ thất nghiệp lên đến 2 con số Việc từ bỏ này được thực hiện chínhthức vào năm 1984, và suốt từ đó CDTLB đã tiến hành chính những biệnpháp tinh chỉnh tùy nghi mà Friedman đã chỉ trích Chẳng hạn, CDTLB phảnứng với tình trạng suy thoái năm 2001 bằng cách cắt giảm lãi suất và chophép lượng cung tiền tăng với những tỉ lệ mà đôi lúc vượt quá 10% mỗi năm

Một khi CDTLB tin rằng sự phục hồi đã vững chắc, nó đảo ngược quá trìnhnày, tăng lãi suất và cho phép mức tăng lượng cung tiền trở về số không

Thứ hai, từ đầu những năm 1980, sự thành công tương đối của CDTLB

và các cơ quan tương đương của những nước khác đã làm xói mòn hình ảnh

mà Friedman muốn dùng để miêu tả các quan chức Ngân hàng Trung ươngnhư người vụng về không thể cải tạo được Lạm phát duy trì ở mức thấp, suythoái – ngoại trừ Nhật Bản, sẽ được bàn thêm ở dưới – tương đối ngắn vàkhông có ảnh hưởng sâu rộng Và tất cả điều này đã xảy ra bất chấp sự thayđổi thất thường của lượng cung tiền mà những nhà kinh tế trọng tiền đã sợ,

và dẫn họ - trong đó có cả Friedman - đến dự báo về những thảm họa khôngxảy ra Khi David Warsh của tờ The Boston Globe chỉ ra năm 1992,

“Friedman đã làm cùn ngọn giáo của mình khi dự báo lạm phát vào nhữngnăm 1980 thường xuyên sai nặng”

Ngày đăng: 11/10/2022, 06:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Mơ hình mơ tả sự cân bằng của nền kinh tế - (Tiểu luận FTU) ảnh hưởng của lãi suất đến tăng trưởng kinh tế
Hình 1. Mơ hình mơ tả sự cân bằng của nền kinh tế (Trang 19)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm