TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNGKHOA KINH TẾ QUỐC TẾ =====000===== TIỂU LUẬN KINH TẾ DU LỊCH Đề tài: Ảnh hưởng của đô thị hóa đối với phát triển du lịch tại thành phố Hà Nội Giảng viên hướng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
=====000=====
TIỂU LUẬN KINH TẾ DU LỊCH
Đề tài: Ảnh hưởng của đô thị hóa đối với phát triển
du lịch tại thành phố Hà Nội Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Hải Yến Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 2
Trang 2Hà Nội, tháng 03/2019
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
A LÝ THUYẾT CHUNG VỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 3
1) Lý thuyết về đô thị hóa 3
2) Lý thuyết về phát triển du lịch 5
B .TÌNH TRẠNG ĐÔ THỊ HÓA VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VIỆT NAM 9
1) Thực trạng đô thị hóa của Việt Nam 9
2) Tổng quan du lịch Việt Nam 13
C QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA CỦA HÀ NỘI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÀNH PHỐ 15
1) Thực trạng đô thị hóa ở Hà Nội 15
1.1) Đặc điểm thành phố Hà Nội 15
1.2) Đặc điểm chung của đô thị hóa Hà Nội: 16
1.3) Các mặt tiêu cực của quá trình đô thị hóa Hà Nội: 20
2) Du lịch Hà Nội 26
2.1) Tiềm năng phát triển du lịch của Hà Nội 26
2.2) Tình hình vận chuyển khách du lịch: 28
2.4) Các chính sách phát triển du lịch của thành phố hiện nay: 31
2.5) Thực trạng phát triển kinh tế du lịch Hà Nội 33
2.6) Điểm yếu của phát triển du lịch Hà Nội 37
D MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA 37
1) Một số giải pháp giải quyết những ảnh hưởng tiêu cực của đô thị hóa đến phát triển du lịch Hà Nội 38
1.1) Đối với vấn đề đô thị hoá ở Hà Nội không tạo điều kiện phát triển theo hướng bền vững 38
1.3) Đối với vấn đề ô nhiễm môi trường: 39
1.4) Đối với vấn đề hao mòn tài nguyên du lịch 40
1.5) Đối với vấn đề các tệ nạn xã hội 41
2) Bài học về phát triển du lịch trong quá trình đô thị hóa của Thái Lan và bài học cho Việt Nam 42
2.1) Phát triển du lịch của Thái Lan và bài học cho Việt Nam 42
2.2) Bài học cho Việt Nam 43
Trang 3KẾT LUẬN 46 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 47 LỜI MỞ ĐẦU
Du lịch là một hoạt động phổ biến trong đời sống xã hội của hoạt động kinh
tế của các nước Kinh tế du lịch đã và đang trở thành ngành kinh tế quan trọng và chiếm
tỷ trọng ngày càng tăng trong thu nhập kinh tế quốc dân Đặc biệt ở những nước đangphát triển, du lịch là một trong những ngành kinh tế phát triển năng động và khởi sắcnhất, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế và là một trong những yếu tố quan trọng đểthúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển Ở nước ta, ngành du lịch đã hình thành từlâu và phát triển mạnh mẽ kể từ sau đổi mới và đã được Đảng, Nhà nước hết sức quantâm Hiện nay trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, chuyểnđổi các họa động kinh tế - xã hội theo hướng tiên tiến, hiện đại nhằm mục tiêu dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và bảo vệ vững chắc nền độc lập của
tổ quốc thì du lịch càng có vai trò quan trọng
Đô thị hóa là một quy luật tất yếu, tỷ lệ đô thị hóa được xem là một chỉ báo
về sự phát triển của một quốc gia, vùng miền, địa phương Đô thị hóa không chỉ là sự
mở rộng không gian địa lý của các thành phố, thị xã, mà còn là quá trình biến đổi dân
cư Việt Nam là một nước đang phát triển, vừa thoát khỏi nhóm nước có thu nhập thấp,bước vào nhóm các quốc gia có mức thu nhập trung bình
Thành phố Hà Nội là thủ đô, là một trong các trung tâm kinh tế - văn hóa –
xã hội của cả nước, là đầu mối giao lưu kinh tế giữa nước ta với các nước Đông Nam Á
và thế giới ở phía Bắc Thành phố Hà Nội cũng là địa bàn có lợi thế và tiềm năm du lịchrất nhiều Nhiều năm qua, hoạt động du lịch thành phố đã đóng góp một phần rất lớnvào ngân sách thành phố nói riêng và nền kinh tế nước ta nói chung Tuy nhiên vấn đề
đô thị hóa của Thành phố Hà Nội còn có nhiều điểm yếu, chưa thực sự là động lực thúcđẩy các ngành kinh tế, đặc biệt là kinh tế du lịch Vì vậy, trong khuôn khổ bài nghiêncứu này, nhóm tác giả muốn chỉ ra những ảnh hưởng của đô thị hóa lên sự phát triển dulịch của Thành phố Hà Nội và đề xuất một số giải pháp giải quyết vấn đề này
Trang 4A LÝ THUYẾT CHUNG VỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH.
1) Lý thuyết về đô thị hóa.
Khái niệm Đô thị hóa
Từ góc độ nhân khẩu học và địa lý kinh tế, đô thị hóa được hiểu là sự di cư
từ nông thôn tới đô thị, là sự tập trung ngày càng nhiều dân cư sống trong những vùnglãnh thổ đô thị Mức độ đô thị hóa của một quốc gia được đo lường bằng tỷ lệ dân cư đôthị trong tổng số dân Về mặt xã hội, đô thị hóa được hiểu là quá trình tổ chức lại môitrường cư trú của con người Đô thị hóa không chỉ thay đổi sự phân bố dân cư và nhữngyếu tố vật chất, mà còn làm chuyển hóa những khuôn mẫu của đời sống kinh tế - xã hội,phổ biến lối sống đô thị tới các vùng nông thôn, và toàn bộ xã hội Như vậy, quá trình
đô thị hóa không chỉ diễn ra về mặt số lượng như tăng trưởng dân số, mở rộng lãnh thổ,tăng trưởng về sản xuất, mà còn thể hiện cả về mặt chất lượng, nâng cao mức sống, làmphong phú hơn các khuôn mẫu và nhu cầu văn hóa
Cho đến thế kỷ 20, quá trình đô thị hóa thế giới chủ yếu diễn ra theo bềrộng, ở đó các dấu hiệu về sự tăng trưởng số dân đô thị, số lượng các thành phố, sự mởrộng lãnh thổ các đô thị chiếm ưu thế Nửa sau của thế kỷ được đánh dấu bởi quá trình
đô thị hóa theo chiều sâu, đặc biệt ở các nước công nghiệp phát triển Sự gia tăng củacác dấu hiệu định lượng chững lại, thậm chí sút giảm (do phi tập trung hóa đô thị, quátrình đô thị hóa ) Thay vào đó, các dấu hiệu định tính được chú ý đề cao: chất lượng,tiêu chuẩn sống đô thị được nâng cao, sự đa dạng và phong phú các kiểu mẫu văn hóa
và nhu cầu Tuy nhiên, đối với các nước thuộc thế giới thứ ba, quá trình đô thị hóa vẫncòn nằm trong khuôn khổ của quá trình đô thị hóa theo bề rộng
Phân loại Đô thị
Cách phân loại chính thức của Nhà nước theo Nghị định số 42/2009
NĐ-CP, ban hành ngày 7/5/2009 và có hiệu lực 2/7/2009 được áp dụng để làm cơ sở cho các
so sánh Theo đó các đô thị ở Việt Nam được phân thành 6 loại như sau: loại đặc biệt,loại I, loại II, loại III, loại IV và loại V, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyếtđịnh công nhận Cụ thể là:
1 Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nộithành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc Việt Nam có hai đô thị đặc biệt là Hà
Trang 52 Đô thị loại I là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành,huyện ngoại thành Đô thị loại I cũng bao gồm các thành phố trực thuộc tỉnh có cácphường nội thành và xã ngoại thành Có 26 thành phố thuộc đô thị loại I (Tính đến21/12/2018).
3 Đô thị loại II là thành phố trực thuộc tỉnh có các phường nội thành và các
xã ngoại thành Có 28 thành phố, huyện thuộc đô thị loại II (Tính đến ngày25/02/2019)
4 Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nộithành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị Có 45 thành phố, thị xã thuộc đô thị loạiIII (Tính đến tháng 02/2019)
5 Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoạithị, hoặc thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập trung
6 Đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập trung
và có thể có các điểm dân cư
Mức độ đô thị hóa và quy mô của các đô thị được giả định là giảm dần theo các loại đôthị nêu trên, nghĩa là đô thị loại đặc biệt có mức độ đô thị hóa cao hơn cả
Chỉ số Đô thị hóa
Trong thực tế, người ta phân tích đô thị hóa trên cơ sở xem xét các biểu hiệnchính, đó là:
Tỉ lệ đô thị hóa: Được đo bằng phần trăm giữa dân số đô thị trên tổng
dân số của vùng hoặc một lãnh thổ tại một thời điểm nhất định
Tốc độ đô thị hóa: Phản ánh mức độ (nhanh, chậm) tăng dân số đô thị
của một vùng hoặc một lãnh thổ tại một thời kì nhất định Tốc độ đô thị hóa được tínhbằng nhịp tăng dân số đô thị (%) qua các năm hoặc của một thời kì (có thể là vài năm, 5năm hoặc 10 năm, 20 năm)
Số lượng và quy mô dân số của các đô thị mới và số việc làm tạo ra do
phát triển các đô thị đó: Mức độ đáp ứng nhu cầu dân cư và số nông dân chuyển thànhthị dân cũng được các nhà phát triển quan tâm khi đánh giá về đô thị hóa Trong thực tế,đây chính là việc “cấy” điểm đô thị mới vào những nơi đang trống vắng văn minh đô thịhay vào khoảng không gian lãnh thổ giữa Cực phát triển và Cực tăng trưởng (phải tínhtới khi đã hoàn chỉnh)
Chất lượng đô thị hóa: Mức đáp ứng cho người dân về nhà ở, kết cấu hạ
tầng kĩ thuật, học hành, khám chữa bệnh, điện, nước, thông tin, mua sắm hàng hóa, vui
Trang 6chơi giải trí cùng các tác động tới khu vực nông thôn… và thân thiện với môi trườngcũng như đô thị hóa có hiệu suất cao trong việc sử dụng đất và khai thác không giantrong quá trình đô thị hóa
Khi phân tích đô thị hóa cần phân tích cả mặt số lượng và mặt chất lượngcủa đô thị hóa Tuy nhiên, chất lượng đô thị hóa không thể hiện ở mức độ đáp ứng nhucầu về kết cấu hạ tầng hay nhà ở
Bản chất của Đô thị hóa
Chủ nghĩa Mác xác định tính lịch sử cụ thể của đô thị hóa trong mối quan hệvới các hình thái kinh tế xã hội: "Lịch sử thời trung cổ là lịch sử của các thành phố,nhưng là những thành phố dựa trên chế độ sở hữu ruộng đất và nông nghiệp Lịch sửchâu Á có thể nói là một kiểu thống nhất không thể phân chia giữa thành phố và nôngthôn (những thành phố lớn ở đây chẳng qua là những kinh đô của các vương quốc, lànhững cục bướu mọc trên chế độ kinh tế theo đúng nghĩa của nó)"
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã nhiều lần chỉ rõ các thànhphố lớn đối với sự hình thành ý thức giai cấp công nhân: Ăngghen đã nhấn mạnh:
"Không có các thành phố lớn, không có cái đà thúc đẩy của thành phố đối với sự pháttriển của ý thức xã hội, thì công nhân không thể tiến lên được như vậy" Lênin đã viết:
"Thành phố tất yếu phải kéo theo mình nông thôn Nông thôn tất yếu phải đi theo thànhphố" Lênin cho rằng dân cư nông thôn đi về thành phố là một "hiện tượng tiến bộ", đặcbiệt sự di cư vào thành phố đã "lôi dân chúng ra khỏi những nơi xa xôi hẻo lánh, hoangdại, lạc hậu, bị lịch sử bỏ quên và đem họ đến với cơn lốc của đời sống xã hội hiệnđại…, nâng cao trình độ văn hóa và ý thức của dân cư, tạo cho họ những tập quán vànhu cầu văn hóa" Lênin cho rằng: "Thành phố là những trung tâm của đời sống kinh tế,chính trị và tinh thần của nhân dân, và là những động lực chủ yếu của sự tiến bộ"
Đương nhiên, những mặt tiêu cưc của sự phát triển các thành phố lớn cũng được nêu lênnhư Ăngghen đã nói: "Thông qua các thành phố lớn, nền văn minh đã để lại cho chúng
ta một di sản mà muốn khắc phục được nó thì chúng ta phải mất nhiều thời gian vànhiều cố gắng Nhưng thế nào cũng phải khắc phục và sẽ khắc phục được, mặc dù đó làmột quá trình lâu dài"
Những nhà xã hội học mácxít quan niệm đô thị hóa hiện nay như là một quátrình lịch sử thế giới, gắn chặt với sự phát triển lực lượng sản xuất và những hình thứcquan hệ xã hội Đô thị hóa không chỉ là sự tăng trưởng cơ học các thành phố và sự tập
Trang 7trung dân cư Đô thị hóa được gắn liền với sự cải biến kinh tế - xã hội sâu sắc ở thànhphố cũng như ở nông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải, xâydựng nhà ở, giao thông công cộng, dịch vụ Chính những quan hệ thành phố, với tất cảnội dung xã hội rộng rãi của nó, tạo thành bản chất của đô thị hóa.
Trong khi thúc đẩy sự trật tự hóa các tiềm lực kinh tế, văn hóa vào các thànhphố, đô thị hóa kéo vùng ngoại vi lên trình độ của khu trung tâm Điều này lại là mộtkích thích phát triển hơn nữa của những khu trung tâm đóng vai trò quyết định Nhưvậy, vùng ngoại vi phát triển thông qua khu trung tâm là một hình thức quần cư được đôthị hóa
2) Lý thuyết về phát triển du lịch
Khái niệm
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới, du lịch bao gồm tất cả các hoạt động củanhững người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trảinghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề
và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bênngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính làkiếm tiền
Ở Việt Nam, khái niệm du lịch được nêu trong Luật Du lịch (2016) như sau:
"Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi
cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉdưỡng trong một khoảng thời gian nhất định."
Du lịch là một hiện tượng xã hội, đã ra đời từ cuối xã hội nguyên thủy, vàngay từ lúc đó, hoạt động du lịch đã bao kèm với hoạt động kinh tế và thương mại giữangười với người
Logic và lịch sử đã chứng tỏ hoạt động du lịch và kinh tế du lịch không thể
ra đời và phát triển bất kỳ do tác động chủ động chủ quan, tùy tiện của cá nhân hay lựclượng xã hội nào Sự ra đời và phát triển của du lịch là khách quan khi đời sống kinh tế
xã hội tồn tại những điều kiện nhất định
Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng cũng đã nhấn mạnh: "Phát triển du
lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trên cơ sở khai thác lợi thế và điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hóa, lịch sử, đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và phát triển nhanh du lịch quốc tế,
Trang 8sớm đạt trình độ của khu vực Xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất, hình thành các khu
du lịch trọng điểm, đẩy mạnh hợp tác, liên kết với các nước".
Tính chất đồng bộ và tổng hợp của hoạt động du lịch Nhu cầu du lịch là
tổng hợp của các nhu cầu: nhu cầu đi lại, ăn nghỉ, vui chơi, giải trí và các nhu cầu bổsung khác Các nhu cầu trên xuất phát đồng bộ trong một khoảng thời gian nhất định(thời gian đi du lịch)
Tính chất tổng hợp trong hoạt động kinh doanh du lịch Một sản phẩm
du lịch tổng hợp không thể do một đơn vị kinh doanh tạo ra, mà do tổng hợp các hoạtđộng kinh doanh đa dạng tạo ra, Khách du lịch trong một chuyến đi du lịch, ngoài việcthỏa mãn một số nhu cầu đặc trưng như tham quan, giải trí, chữa bệnh, … họ vẫn cónhững nhu cầu thường ngày như ăn, ngủ Do vậy, họ phải sử dụng nhiều loại dịch vụ vàhàng hóa khác khó có thể chỉ do một cơ sở du lịch duy nhất tạo ra hay sản xuất ra được
Vì những lý do đó hoạt động kinh doanh du lịch mang tính chất tổng hợp Vì những lý
do đó, hoạt động kinh doanh du lịch mang tính chất tổng hợp Các thành viên tham giavào quá trình tạo nên một sản phẩm du lịch tổng hợp là rất đa dạng, nên việc thống nhất,liên kết mọi nỗ lực và tham vọng là điều hết sức cần thiết
Có mối quan hệ, liên kết với các ngành khác, các nhà cung cấp Du lịch
là hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp Do vậy, ngành du lịch chỉ có thể phát triển đượckhi có sự phối hợp chặt chẽ với các ngành khác như tài chính, ngân hàng, xây dựng,giao thông vận tải, văn hóa, hải quan, bưu chính viễn thông, …
Du lịch là hoạt động kinh tế mới mẻ, còn đang trong quá trình phát triển.
Du lịch quần chúng phát triển mạnh từ giữa thế kỷ XIX, sau đó bị gián đoạn bới 2 cuộcchiến tranh thế giới Xưa kia khi hoạt động du lịch là sơ khai, mang tính lẻ tẻ khôngquần chúng, thì khi nói đến khách du lịch tức là nói đến người khởi hành đi tìm kiếmnhững kiến thức và sự giải trí; khi nói đến du lịch, tức là nói đến cuộc hành trình và lưutrú tạm thời của con người ngoài nơi lưu trú thường xuyên Nhưng khi hoạt động du lịch
đã mang tính quần chúng, xuất hiện một bộ máy đặc biệt chuyên phục vụ du lịch (xuất
Trang 9hiện các xí nghiệp và hoạt động phục vụ du lịch như y tế, thương mại, sản xuất, du lịch,
…), thì khi nói đến du lịch không chỉ còn dề cập đến "người du lịch"
Phân loại loại hình du lịch
Dựa vào các tiêu thức phân loại khác nhau có thể phân du lịch thành các loạihình du lịch khác nhau Trong phạm vi bài nghiên cứu này, các tác giả phân loại loạihình du lịch sử dụng các tiêu thức sau:
Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi du lịch.
Du lịch quốc tế: là hình thức du lịch mà các chuyến đi vượt ra khỏi biên
giới (lãnh thổ) quốc gia của khách du lịch, bao gồm: du lịch quốc tế đến và du lịch ranước ngoài
Du lịch trong nước: là loại hình du lịch mà các chuyến đi của cư dân
trong lãnh thổ quốc gia họ
Du lịch nội địa: bao gồm du lịch quốc tế đến và du lịch trong nước.
Du lịch quốc gia: bao gồm du lịch nội địa và du lịch quốc tế đi.
Căn cứ vào mức độ tương tác của du khách đối với điểm du lịch
Bảng 1: Các loại hình du lịch dựa theo mức độ tương tác của du khách đối với
Thượng lưu Độc đáo, mới lạ Thu nhập cao Đầu tư lớn tại điểm
Đại chúng tiền An toàn, phổ biến, Thu nhập trung Kinh tế: Quan
Trang 10khởi khí hậu phù hợp
bình và cao, nhómnhỏ, cá nhân, ổnđịnh
trọng
Đại chúng
Khu nghỉ mát nổitiếng vào mùa dulịch
Trung lưu, sốlượng lớn vàthường xuyên
Kinh tế: Quantrọng
Thuê bao Khu du lịch thông
thường
Thu nhập trungbình và thấp, sốlượng lớn
Kinh tế: QuantrọngMôi trường: Tiêucực
Xu hướng phát triển du lịch hiện nay
Theo dự đoán của các nhà khoa học trên thế giới thì du lịch đại chúng cótương lai và xu hướng phát triển tốt Du lịch quốc tế ngày một phát triển mạnh Có thểphân các xu hướng của sự phát triển du lịch trên thế giới theo 2 nhóm chính như sau:
Nhóm các xu hướng phát triển của cầu du lịch:
Xu hướng 1: Du lịch ngày càng được khẳng định là một hiện tượng kinh
tế - xã hội phổ biến, nhu cầu và khả năng đi du lịch ngày một tăng (cả về số lượng vàchất lượng)
Xu hướng 2: Sự thay đổi về hướng và về phân bố của luồng khách du
lịch quốc tế Việc quần chúng hóa trong hoạt động du lịch và khả năng đi du lịch xa hơnkéo theo nhiều biến đổi trong hướng vận động của khách du lịch
Xu hướng 3: Sự thay đổi trong cơ cấu chi tiêu của khách du lịch Những
năm trước đây tỷ trọng chi tiêu của khách dành cho các dịch vụ cơ bản (ăn, ở, vậnchuyển) chiếm phần lớn Hiện nay thì tỷ trọng chi tiêu của khách cho các dịch vụ bổsung (mua sắm hàng hóa, đồ lưu niệm, tham quan, giải trí) tăng lên
Trang 11 Xu hướng 4: Sự thay đổi trong hình thức tổ chức chuyến đi của khách du
lịch Khách du lịch chỉ sử dụng một phần dịch vụ các tổ chức kinh doanh du lịch Nhiềukhi họ không mua chương trình du lịch, trọn gói, nhất là khách châu Âu
Xu hướng 5: Sự hình thành các nhóm khách theo độ tuổi Sự hình thành
3 nhóm khách trên thị trường du lịch thế giới là: khách du lịch là học sinh, sinh viên;
khách du lịch là những người đang ở trong độ tuổi lao động tích cực và khách du lịchcao tuổi
Xu hướng 6: Sự gia tăng các điểm đến du lịch trong một chuyến đi du
lịch Trong những năm gần đây khách du lịch có xu hướng thích đi nhiều nước, thămnhiều điểm du lịch trong chuyến đi du lịch của mình
Nhóm xu hướng phát triển của cung du lịch.
Xu hướng 1: Đa dạng hóa sản phẩm du lịch.
Xu hướng 2: Phát triển hệ thống bán sản phẩm du lịch.
Xu hướng 3: Tăng cường hoạt động truyền thông trong du lịch.
Xu hướng 4: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong du lịch Ở
những nước du lịch phát triển mạnh đã và đang diễn ra quá trình công nghiệp hóa vàhiện đại hóa du lịch, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ cao như điện tử tinhọc, vô tuyến viễn thông, tự động hóa, công nghệ sinh học, … để phát triển công nghiệp
lữ hành, công nghiệp khách sạn, công nghiệp vận chuyển khách du lịch
Xu hướng 5: Đẩy mạnh quá trình khu vực hóa, quốc tế hóa Các tuyến du
lịch giữa các nước được gắn kết với nhau đáp ứng nhu cầu đi du lịch nhiều nước trongmột chuyến hành trình của khách
Xu hướng 6: Hạn chế tính thời vụ trong du lịch
B) TÌNH TRẠNG ĐÔ THỊ HÓA VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VIỆT NAM 1) Thực trạng đô thị hóa của Việt Nam
Tổng quan quá trình đô thị hóa của Việt Nam
Do xuất phát điểm là một nước có nền nông nghiệp lạc hậu, tốc độ đô thịhóa ở Việt Nam diễn ra chậm chạp Nhưng kể từ sau thời kì đổi mới (1986), cùng với sựphát triển của đất nước, quá trình đô thị hóa cũng tăng nhanh đáng kể Tốc độ đô thị hóatrung bình trong giai đoạn 1999 – 2009 là 3,4%/ năm
Trang 12Bảng 2: Tỷ lệ đô thị hóa của Việt Nam giai đoạn 1930 - 2017
N Năm
1 1930
1 1950
1 1970
1 1979
1 1989
1 1999
2 2009
2 2017
2 2018
%
70,5
10
20,6
19,2
22
23,5
29,6
37,5
34,75
Nguồn: Tổng cục thống kê
Đến cuối năm 2017, toàn quốc có 813 đô thị, bao gồm: 2 đô thị loại đặc biệt,
19 đô thị loại I, 23 đô thị loại II, 45 đô thị loại III, 84 đô thị loại IV, 640 đô thị loại V, tỷ
lệ đô thị hóa đạt khoảng 37,5% (tăng 0,9% so với năm 2016)
Đặc điểm quá trình đô thị hóa của Việt Nam
Đô thị hóa gắn liền với tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu KT làm tăng cơ
cấu ngành DL
Lịch sử quá trình đô thị hóa trên thế giới cho thấy một quy luật: công nghiệphóa thúc đẩy đô thị hóa Hai yếu tố này luôn có mối quan hệ phụ thuộc, bổ sung hỗ trợlẫn nhau, thể hiện qua số lượng các khu công nghiệp tại Việt Nam tăng nhanh chóngcùng với quá trình đô thị hóa
Kinh tế du lịch đã và đang trở thành ngành kinh tế quan trọng và chiếm tỷtrọng ngày càng tăng trong thu nhập kinh tế quốc dân Đặc biệt là ở những nước đangphát triển, du lịch là một trong những ngành kinh tế phát triển năng động và khởi sắcnhất, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế và là một trong những yếu tố quan trọng đểthúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển
GDP cả nước năm 2018 tăng 7,08%, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2008trở về đây, rong đó khu vực dịch vụ tăng 7,03%, đóng góp 42,7% Điều này chứng tỏ xuthế tiến bộ, phù hợp với hướng chuyển dịch cơ cấu trong quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước nhằm góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng và củng cố tiềmlực kinh tế đất nước
Khu vực dịch vụ năm 2018 tăng 7,03%, cao hơn mức tăng các năm giaiđoạn 2012-2016, trong đó các ngành dịch vụ thị trường có tỷ trọng đóng góp lớn vàotăng trưởng GDP như bán buôn, bán lẻ; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm;
dịch vụ lưu trú và ăn uống; vận tải, kho bãi đều đạt mức tăng trưởng khá Hoạt động
Trang 13thương mại dịch vụ năm 2018 có mức tăng trưởng khá, sức mua tiêu dùng tăng cao,tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm nay đạt 4.395,7 nghìn tỷđồng, tăng 11,7% so với năm 2017.
Bảng 3: Tỷ trọng cơ cấu GDP trong các ngành kinh tế qua các năm
Năm
Cơ cấu GDP (%) Nông nghiệp, lâm
Nguồn: Tổng cục thuống kê
Thúc đẩy di cư và mật độ dân số cao ở các khu đô thị lớn, tỷ lệ dân cư đô
thị tăng liên tục qua các năm
Đến năm 2017, số dân thành phố là 32,8 triệu người, chiếm khoảng 35%
dân số cả nước Điều này cho thấy có luồng di cư lớn từ nông thôn vào thành thị Cầnlưu ý rằng, ngoài luồng di cư từ nông thôn vào thành thị, tham gia vào quá trình đô thịhoá còn có cả sự thay đổi ranh giới hành chính (từ xã trở thành thị trấn hoặc phường)dẫn tới nhiều khu vực nông thôn đã trở thành thành thị Tuy nhiên, dân cư đô thị phân
Trang 14bố không đồng đều, chủ yếu tập trung ở các đô thị lớn, trong đó các đô thị loại đặc biệt
và loại I chiếm gần 50% dân số đô thị cả nước Đặc biệt, dân số ở hai thành phố Hà Nội
và HCM chiếm khoảng 1/3 dân số thành thị cả nước
Các cụm đô thị lớn ở vùng đồng băng sông Hồng, Đông Nam Bộ và cácthành phố lớn thường có mật độ dân số cao hơn, trong khi các vùng miền khác có mật
độ dân số khá thấp Năm 2016, mật độ dân số cả nước là 280 người/km2, nhưng ở HàNội là 2182 người/km2 (gấp 7,8 lần), Tp.HCM là 4025 người/km2 (gấp 14,3 lần) Trongkhi đó, một số nơi có mật độ rất thấp như Bắc Kạn là 66 người/km2, Điện Biên là 58người/km2 Chính vì mật độ dân số quá đông nên các thành phố lớn đang phải chịu đựng
sự quá tải về hạ tầng kỹ thuật và môi trường, gây nguy cơ bệnh "đầu to", phát triển đôthị thiếu bền vững
Gắn với mở rộng địa giới hành chính và nâng cấp đô thị
Như đã nói ở trên, tỷ lệ dân cư đô thị ở các tỉnh, thành phố tăng lên khôngchỉ là kết quả của quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa Có thể thấy, việc phân loạilại địa giới hành chính có vai trò không nhỏ đối với gia tăng tỷ lệ dân số đô thị ở một sốđịa phương Việc phân chia lại địa giới hành chính có thể dẫn đến một trong hai hệ quả:
tăng tỷ lệ đô thị hóa (Tp Cần Thơ, tỉnh Vĩnh Phúc), nhưng cũng có thể dẫn đến hiệntượng nông thôn hóa đô thị (Tp Hà Nội, Tp.Đà Lạt)
Bên cạnh đó, đô thị hóa ở Việt Nam còn có xu hướng chạy đua nâng cấp đôthị: từ đô thị loại thấp lên đô thị loại cao, từ thành phố trực thuộc tỉnh đến thành phốtrực thuộc Trung ương Quá trình này thường mang đậm dấu ấn chủ quan của các nhàquản lý Sự phân cấp hành chính tạo nên khác biệt rõ ràng giữa các loại hình đô thị Đôthị thuộc loại phân nhóm cao hơn được phân bổ ngân sách nhiều hơn, có chính sáchphát triển đô thị thông thoáng hơn Cán bộ quản lý ở các đô thị lớn cũng có lương vàphụ cấp cao hơn so với người đồng cấp ở đô thị nhỏ hơn Do đó, các thành phố thườngtập trung đầu tư kết cấu hạ tầng để đáp ứng các tiêu chí nâng cấp đô thị
Nhiều nơi mang tính tự phát, thiếu quy hoạch
Sự dễ dãi, sự yếu kém trong quy hoạch, quản lý, sử dụng cùng tư tưởngchạy theo lợi ích kinh tế trước mắt đã đưa tới tình trạng sử dụng quỹ đất tuỳ tiện, lãngphí Hầu hết các khu công nghiệp, dịch vụ, dân cư đều bám dọc các quốc lộ huyết mạch,các vùng nông thôn trù phú Hệ quả là, hàng chục vạn hécta đất nông nghiệp màu mỡ,
Trang 15nền tảng bảo đảm an ninh lương thực quốc gia đã bị sử dụng cho mục đích khác, tácđộng mạnh đến công ăn việc làm, thu nhập và đời sống của hàng triệu lao động nôngnghiệp Đi liền với thực trạng này là sự nảy sinh phân hoá giàu nghèo, thậm chí cả mâuthuẫn xã hội.
Hiện nay, các vùng ven đô thị tại Việt Nam đang xảy ra quá trình đô thị hóa
tự phát Đặc trưng của khu vực này là luôn biến đổi theo quá trình phát triển của các đôthị Nhiều làng nghề năng động cần xây dựng khu công nghiệp để phát triển nghề đãđược chính quyền địa phương cho phép tự đô thị hóa không cần quy hoạch và hỗ trợ củaNhà nước
Định hướng đô thị hóa ở nước ta
Định hướng phát triển chung không gian đô thị cả nước theo hướng bảo đảm phát triểnhợp lý các vùng đô thị hóa cơ bản giữa 6 vùng kinh tế - xã hội, giữa miền Bắc, miềnTrung và miền Nam; giữa phía đông và phía tây; gắn với việc phát triển các cực tăngtrưởng chủ đạo và thứ cấp quốc gia, đồng thời bảo đảm phát triển theo mạng lưới, có sựliên kết tầng bậc theo cấp, loại đô thị
2) Tổng quan du lịch Việt Nam
Trong những năm gần đây, du lịch Việt Nam có sự tăng trưởng ổn định, lượt kháchquốc tế tăng trung bình 11%/ năm, riêng năm 2016 đạt 10 triệu khách, tăng 26% và năm
2017 đạt gần 13 triệu lượt khách , tăng 29,1% so với cùng kỳ Khách du lịch nội địa đạt73,2 triệu Tổng thu từ khách du lịch đạt 510.900 tỷ đồng
Theo báo cáo của Tổ chức Du lịch và Lữ hành thế giới, tổng đóng góp của ngành Dulịch và Lữ hành Việt Nam vào GDP là 18,4 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 9,1% Tuy nhiên tỷtrọng giá trị xuất khẩu từ du lịch của Việt Nam chỉ chiếm 4,5% tổng giá trị xuất khẩu
Trong khi đó, tỷ trọng đóng góp vào GDP và tỷ trọng giá trị xuất khẩu từ du lịch củacác nước trong khu vực như: Campuchia là 28,3% và 26,5%; Lào là 14,2% và 23,1%;
Myanmar là 6,6% và 26,4% Về năng lực cạnh tranh, Việt Nam có lợi thế về giá cả; tàinguyên thiên nhiên; tài nguyên văn hóa; nguồn nhân lực (được xếp hạng từ 30 –37/136) Trái lại, một số chỉ tiêu về vệ sinh, y tế; công nghệ thông tin; chế độ ưu tiên về
du lịch; tính bền vững môi trường; dịch vụ du lịch bị đánh giá thấp, xếp hạng từ 129/136
Trang 1680-Bảng 4: Tổng thu từ khách du lịch giai đoạn 2000 - 2018
Trang 17Kết cấu hạ tầng du lịch được quan tâm hỗ trợ của nhà nước và thu hút dượccác thành phần kinh tê tham gia đầu tư Nhiều công trình giao thong, sân bay được cảitạo và đầu tư mơi, cơ sở vật chất các khu du lịch được đầu tư, nâng cấp từng bước tạođiều kiện mở đường cho hoạt động du lịch và liên quan vẫn chưa đảm bảo yêu cầu củanhành dịch vụ hiện đại và hội nhập
Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở lưu trú và dịch vụ phát triển nhanh,chất lượng được nâng lên một bước, nhiều khu du lịch, resort, khu giải trí, khách sạncao cấp đạt trình độ quốc tế đã hình thành nhưng còn chiếm tỷ trọng nhỏ chưa làm thayđổi căn bản diện mạo của ngành, chưa hình thành được hệ thống các khu du lịch quốcgia với thương hiệu nổi bật
Sản phẩm du lịch đã có đổi mới, phát triển đa dạng hơn nhưng chất lượngcòn nghèo nàn, đơn sơ, thiếu tính độc đáo, đặc sắc, thiếu đồng bộ và liên kết chưa cao
và ít sáng tạo Sản phẩm dịch vụ có hàm lượng giá trị gia tăng cao còn chiếm tỷ trọngnhỏ, nhiều sản phẩm trùng lắp, suy thoái nhanh
Thị trường du lịch đã từng bước được lựa chọn theo mục tiêu Tuy nhiêncông tác nghiên cứu thị trường còn nhiều yếu kém, chưa thực sự đi trước một bước, haithác, thu hút thị trường còn dừng ở bề nổi, thụ động; chưa phân đoạn và chưa có tiêuđiểm tập trung
Việc khai thác tài nguyên du lịch không ngừng được mở rộng nhưng dothiếu kinh nghiệm và chưa có tầm nhìn dài hạn nên kém hiệu quả và bền vững; các ditích, di sản đã phát huy giá trị phục vụ du lịch nhưng sự chủ động liên kết hai tháchchưa cao; cong tác bảo tồn văn hóa và bảo vệ môi trường diễn ra ở nhiều nơi Ván đề vệsinh trật tự, an ninh, an toàn, tệ nạn xã hội vẫn còn tồn tại phổ biến
Thương hiệu và hình ảnh Du lịch Việt Nam đang ngày càng có vị thế Theođánh giá của Tổ chức Bloom Counsulting về xếp hạng thương hiệu du lịch và thươngmại trên thế giới, Việt Nam được xếp hạng 47 toàn cầu và xếp thứ 15 của châu Á Đượcđánh giá có sự vượt hạng khá ấn tượng, chỉ đứng sau một số quốc gia cùng khu vực nhưThái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia nhưng du lịch Việt Nam vẫn tồn tại khá nhiềubất cập như: an ninh chưa đảm bảo (nạn móc túi), phục vụ kém (nạn chặt chém, phânbiệt đối xử), môi trường du lịch ngày càng xuống cấp,…
Trang 18C) QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA CỦA HÀ NỘI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÀNH PHỐ.
1) Thực trạng đô thị hóa ở Hà Nội.
1.1) Đặc điểm thành phố Hà Nội
Vị trí địa lí
Hà Nội nằm tiếp giáp với nhiều tỉnh ở miền bắc Việt Nam: Thái Nguyên,Vĩnh Phúc, Hà Nam, Hòa Bình, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên; cách thành phố cảngHải Phòng 120 km, thành phố cảng Nam Định 87km tạo thành 3 cực chính của đồngbằng sông Hồng Ngoài ra, Hà Nội còn nằm ở hữu ngạn sông Đà và hai bên sông Hồng
→ Vị trí và địa thế thuận lợi cho một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa,
du lịch, khoa học, đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam
Kinh tế
Năm 2017, thu nhập bình quân đầu người của Hà Nội là 91 triệu VND,trong khi của cả nước là 53,5 triệu VND Kinh tế của Thủ đô liên tục phát triển qua cácnăm Trong 9 tháng đầu năm 2018, GRDP tăng 7,17% so với cùng kỳ năm ngoái; kimngạch xuất khẩu ước tính đạt 10,5 tỷ USD, tăng 21,6%; chỉ số sản xuất công nghiệptăng 7,4%; giá trị gia tăng nông nghiệp tăng 3,37% Lượng khách du lịch tăng 17,6%,trong đó, khách quốc tế tăng 19,8%, giúp Hà Nội xếp thứ 7 trong top 10 thành phố cótăng trưởng du lịch nhanh nhất thế giới, kéo theo đó là lợi thế về dịch vụ thương mại,vận tải,…
Hà Nội là một trong những địa phương thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhiềunhất cả nước Năm 2018, tổng vốn đầu tư phát triển ước tính đạt 219,44 nghìn tỷ đồng,tăng 10,3%; đầu tư nước ngoài khoảng 6,265 tỷ USD, gấp 5,39 lần so với cùng kỳ nămngoái Có 18,68 nghìn doanh nghiệp mới thành lập, vốn đăng ký đạt 204,53 nghìn tỷđồng Thu ngân sách nhà nước ước đạt 166,2 nghìn tỷ đồng, bằng 69,7% dự toán, tăng13,7%
Tuy đã mở rộng địa giới hành chính, giúp tăng lực lượng lao động lên hơn3,8 triệu người, Hà Nội vẫn thiếu lao động, đặc biệt là lực lượng có thay nghề cao Việcchuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra vẫn còn chậm, nhất là cơ cấu nội ngành công nghiệp,dịch vụ và các sản phẩm mũi nhọn
Trang 19 Kiến trúc và quy hoạch đô thị
Năm 2010, Hà Nội lập đồ án quy hoạch chung xây dựng thủ đô đến năm
2030 và 2050: 9,1 triệu dân vào năm 2030 và hơn 10 triệu dân vào năm 2050 Về mặtkiến trúc, có thể chia Hà Nội hiện nay thành 4 khu: khu phố cổ, khu thành cổ, khu phốPháp và các khu mới quy hoạch
Vào những năm 1960 – 1970, hàng loạt các khu nhà tập thể theo kiểu lắpghép xuất hiện Cuối những năm 1990 – 2000, nhiều con đường giao thông chính của
Hà Nội như Giải Phóng, Nguyễn Văn Cừ,… được mở rộng, các khách sản, hàng quá,cao ốc mọc lên như nấm, các khu đô thị mới như KDT Nam Thăng Long, Ecopark, Dulịch hồ Tây, Linh Đàm,… cũng dần xuất hiện Tuy nhiên, việc quy hoạch không hợp lý,thiếu đồng bộ khiến cho đô thị trở nên chắp vá, thiếu thẩm mỹ, không đủ không giancông cộng
1.2) Đặc điểm chung của đô thị hóa Hà Nội:
Hà Nội là một trong hai thành phố có tốc độ và tỷ lệ đô thị hóa cao nhất ViệtNam Quá trình đô thị hóa của Hà Nội phát triển mạnh theo chiều rộng và có sức lan tỏalớn Năm 2000, dân số Hà Nội là 2,7 triệu người, đến năm 2018, con số đã tăng lên 8,2triệu người với 55% sống ở thành thị Sau khi sáp nhập mở rộng địa giới hành chính thủ
đô Hà nội, gồm Thành phố Hà Nội cũ với tỉnh Hà Tây cũ, huyện Mê Linh tỉnh VĩnhPhúc và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình với tổng diện tích tự nhiên3.344,6km2
So với tốc độ đô thị hóa của cả nước là 34,75%, tốc độ đô thị hóa của HàNội gần gấp đôi (69,7%) Trong suốt 10 thế kỷ (từ năm 1010-2010) lịch sử hình thành
và phát triển của thủ đô Hà Nội gắn liền với quá trình đô thị hoá Khu thành cổ, khu 36phố phường, khu phố Pháp qua các thời kỳ đều được xác định là trung tâm Hà Nội cổhay đô thị lõi lịch sử, là trung tâm văn hoá – chính trị – kinh tế, nơi tập trung các cơquan đầu não của nhà nước Việt Nam, nơi diễn ra những hoạt động văn hoá mang tầmquốc gia, khu vực và quốc tế Giai đoạn từ Hòa bình lập lại đến nay, Hà Nội đã nhiềulần quy hoạch lại thành phố với những nguyên tắc là văn minh, hiện đại và môi trườngtrong sạch
Nhìn tổng quát, đô thị hóa Hà Nội theo hướng bền vững là quá trình kết hợpchặt chẽ, hài hòa của 3 mặt phát triển KT-XH và MT Mục tiêu kinh tế: đạt được sựtăng trưởng cao và ổn định với cơ cấu kinh tế hợp lý hiện đại; phát triển dịch vụ - công
Trang 20nghiệp - nông nghiệp, theo hướng ưu tiên các lĩnh vực công nghệ cao, hiệu quả kinh tếlớn, ít gây ô nhiễm MT, phù hợp với hội nhập kinh tế quốc tế Mục tiêu xã hội: xâydựng Thủ đô thành trung tâm văn hóa tiêu biểu của quốc gia; xây dựng con người mới,thực hiện công bằng xã hội; tập trung giải quyết tình trạng nghèo, tệ nạn xã hội và giảiquyết việc làm Mục tiêu về môi trường: tính toán các phương án do tác động của conngười với thiên nhiên, chọn phương án tối ưu nhằm nâng cao chất lượng sống cho conngười, nhưng vẫn bảo đảm cân bằng các hệ sinh thái.
Quá trình đô thị hóa kéo theo sự phát triển tất yếu của hệ thống giao thông
Hà Nội là một trong những thành phố có lượng dân số và mật độ dân cư caonhất cả nước nên giao thông đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu đi lại
và vận chuyển hành khách, hàng hóa ngày một gia tăng
Quá trình đô thị hóa gắn với công nghiệp hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại
Thúc đẩy công nghiệp hóa
Không chỉ là trung tâm chính trị, văn hóa, Hà Nội còn đi đầu trong quá trìnhcông nghiệp hóa ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Hiện nay trên địa bàn Hà Nội, có
17 khu công nghiệp với tổng diện tích gần 3.500 ha, nằm chủ yếu ở ven quốc lộ 5, quốc
lộ 2, cao tốc Thăng Long – những vị trí có hạ tầng giao thông khá thuận lợi Tỷ lệ lấpđầy của các khu công nghiệp đạt khoảng 85%, cao hơn so với toàn vùng (70%) Trong
đó, có 9 KCN với tổng diện tích 1,264 ha, đang hoạt động ổn định với tỷ lệ lấp đầy trên95%: Thăng Long; Nội Bài; Thạch Thất - Quốc Oai; Nam Thăng Long; Sài Đồng B; HàNội – Đài Tư; Quang Minh I; Phú Nghĩa; Khu công viên công nghệ thông tin Một sốKCN vẫn còn đất để thu hút đầu tư như: KCN Phú Nghĩa (20 ha); KCN Quang Minh I(2 ha) Các KCN khác đang chuẩn bị đầu tư hạ tầng, riêng KCN Hỗ trợ Nam Hà Nội,diện tích 77 ha đang tiếp tục hoàn thiện xây dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật để thu hút đầu
tư thứ phát Trong 9 tháng đầu năm 2018, các KCN đã thu hút đầu tư được 277,7 triệuUSD, tăng 90% so với cùng kỳ năm 2017 Tính đến nay, các KCN thu hút 649 dự án,trong đó có 335 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với vốn đăng ký 5,6 tỷ USD; 314 dự
án đầu tư trong nước với vốn đăng ký 14.800 tỷ đồng Tổng doanh thu của các KCN đạtkhoảng 5,470 tỷ USD, tăng 6,6%; tổng kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 3,180 tỷ USD,
Trang 21Dự báo đến năm 2020, Hà Nội sẽ có thêm 14 khu công nghiệp mới với tổngdiện tích 6.100 ha, tăng 250% so với nguồn cung hiện tại (Theo báo cáo của ColliersInternational)
Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại
Đô thị hóa đã thúc đẩy nhanh chóng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từnông lâm ngư nghiệp sang các ngành công nghiệp và dịch vụ Từ năm 1980 đến năm
2017, sau khi trải qua thời kì đổi mới, tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm mạnh từ 41%
xuống còn 2,8%, tỷ trọng ngành công nghiệp chiếm 29,7% và dịch vụ là 57,7% Trong
đó, ngành công nghiệp vẫn tập trung vào 5 lĩnh vực chính, chiếm tới 75,7% tổng giá trịsản xuất công nghiệp, là cơ – kim khí, điện – điện tử, dệt may, chế biến thực phẩm vàcông nghiệp vật liệu
Chuyển dịch cơ cơ cấu vùng kinh tế của Hà Nội đã có những thay đổi theohướng tích cực, từng bước khai thác và phát huy lợi thế của từng vùng, từng ngành,từng thành phần kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao qua các thời kỳ vàqua các năm Sự biến đổi về biên giới hành chính dẫn đến sự mở rộng thành phố dẫnđến những biến đổi quan trọng như quá trình đô thi hóa tăng nhanh thúc đẩy quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng việc làm phi nông nghiệp, chuyển đổi mục đích sửdụng đất… Khu vực kinh tế thành thị gồm có 10 quận nội thành có tốc độ tăng trưởngcao là nơi tập trung của các ngành dịch vụ, công nghiệp có trình độ, có giá trị lớn Khuvực ngoại thành gồm 18 huyện và 1 thị xã có tốc độ phát triển chậm hơn do vậy sẽ có
xu hướng gia tăng khoảng cách với nội thành Hiện ngành nông nghiệp và cơ cấu kinh
tế ngoại thành đã có sự chuyển biến bước đầu tích cực, các địa phương cũng đẩy mạnhviệc phát triển sản xuất hình thành các khu công nghiệp tập trung, các vùng chuyêncanh cho sản xuất nông nghiệp, các vùng sản xuất hàng hoá trên cơ sở điều kiện tựnhiên, kinh tế – xã hội của từng vùng Điều này tạo thuận lợi cho phát triển công nghiệpchế biến, góp phần tạo nên xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷtrọng sản xuất công nghiệp và dịch vụ
Đô thị hóa với gắn liền với việc mở rộng quy mô thủ đô, tạo không gian thuận lợi bảo đảm tính bền vững của quá trình đô thị hóa
Năm 2008, việc Hà Tây sáp nhập vào Hà Nội đã mở rộng diện tích thủ đô lên 3.324,92km² Sau khi mở rộng, Hà Nội có 29 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm 10 quận, 18
Trang 22huyện, 1 thị xã và 580 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 404 xã, 154 phường và 22 thịtrấn Việc mở rộng Hà Nội thực sự cần thiết cho hướng phát triển bền vững thủ đô, nhất
là nhu cầu phát triển công nghiệp và vấn đề bảo vệ môi trường Thủ đô mở rộng baogồm cả tỉnh Hà Tây có các trục xuyên tâm và dải xanh đan xen cho phép Hà Nội pháttriển các khu mới ra xa khu trung tâm, có những vùng đệm mầu xanh ở giữa khu mới vàthành phố cũ Các dải xanh đó là các hành lang dẫn gió, đóng góp vào việc bảo vệ môitrường sinh thái Nếu các dải xanh đó chật hẹp, thì đơn thuần chỉ là giải cách ly, chống
ồn, chống bụi Nếu dải xanh lớn hơn, có thể là một trang trại trồng cây ăn quả, hoặc làkhu sản xuất rau sạch, hoa tươi cho thành phố, lớn hơn nữa, có thể tạo thành khu du lịchsinh thái hoặc thành phố vệ tinh như ở Khu Công nghệ cao Hòa Lạc
Đô thị hóa gắn với mở rộng phạm vi thúc đẩy sự phát triển các khu vực xung quanh với tư cách là “bệ đỡ” cho sự phát triển của Hà Nội
Vùng Thủ đô Hà Nội được hình thành theo Quyết định 490/QĐ-TTg ngày5/5/2008 bao gồm toàn bộ ranh giới hành chính Thủ đô và 6 tỉnh: Vĩnh Phúc, HưngYên, Bắc Ninh, Hải Dương, Hà Nam và Hoà Bình với diện tích tự nhiên khoảng13.436km2, bán kính ảnh hưởng từ 100-150km Đây sẽ là động lực, một bệ đỡ vữngvàng cho sự phát triển của Hà Nội cũng như các tỉnh nằm trong vùng Cụ thể: Sự pháttriển của Vùng Thủ đô Hà Nội, bên cạnh Vùng đô thị hạt nhân và phụ cận còn có Vùngphát triển đối trọng Vùng phát triển đối trọng của Vùng Thủ đô (phạm vi 30-60 km)hình thành với ba tiểu vùng lớn: Vùng đối trọng phía Tây là Hoà Bình; Vùng đối trọngphía Đông và Đông Nam gồm các tỉnh chuyển tiếp giữa Đồng bằng sông Hồng vớivùng Duyên hải Bắc Bộ như Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương và Hà Nam; Vùng đốitrọng phía Bắc và Đông Bắc gồm các khu vực Bắc sông Hồng, dọc theo hành lang trụcđường 18, chủ yếu là bán sơn địa thuộc tỉnh Vĩnh Phúc và Nam các tỉnh Bắc Giang,Thái Nguyên và Quảng Ninh
Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ gồm 7 tỉnh và thành phố: Hải Phòng, HàNội, Quảng Ninh (hạt nhân của vùng), Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh và Vĩnh Phúc
Đây là trung tâm kinh tế năng động và là đầu tàu kinh tế quan trọng của miền Bắc nóiriêng và cả nước nói chung Tất cả sẽ giúp cho Hà Nội có điều kiện cũng như tráchnhiệm quan trọng trong phát triển và thực hiện sự lan tỏa, liên kết kinh tế với với cáctỉnh thành khác
Hình 1: Các vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Trang 231.3 Các mặt tiêu cực của quá trình đô thị hóa Hà Nội:
Xu hướng phát triển theo chiều rộng các khu đô thị:
Khu dân cư, đô thị Hà Nội phần lớn được quy hoạch theo kiểu lấp chỗtrống, chiếm đất, nhà xưởng một tầng Đô thị “một tầng” không đảm bảo yêu cầu về độcao và tính hiện đại Vì thế tình trạng hiện nay, nhất là những khu đô thị mới, sức chứagần như đã cạn và bắt đầu có hiện tượng tắc nghẽn, các cơ sở hạ tầng về giao thôngđường xá đều quá tải
Mô hình “kinh tế mặt đường” thể hiện rõ rệt trong phát triển các khu
đô thị.
Hiện nay các khi đô thị, hu công nghiệp nằm quá gần nhau và bám sat trêncác tuyến giao thông trọng điểm, huyết mạch đã và đang cản trở đến lưu thông củanhiều đoạn, trong đó quốc lộ 5 là một điển hình Trên đường quốc lộ 5 có tớ 80% cáckhu công nghiệp chỉ nằm cách mép đường khoảng 30m đổ lại Mặc dù khi xây dựnggiao thông đã tránh đi qua các đô thị nhưng các địa phương lại san đất, giao mặt bằngđất phát triển các khu công nghiệp và khu đô thị hình thành bám đường phát triển, vànhư vậy đường đến đâu, nhà đến đó Hậu quả đường 5 đã trở thành “phố 5” Các làng xã
đô thị hóa thường được bao bọc bởi những dãy nhà ở chiếm mật độ cao sán vai cùngnhiều công trình công cộng của thành phố
Tính chất ồ ạt, phần nào thể hiện tính tự phát trong phát triển đô thị:
Biểu hiện rõ nét là các công trình xây dựng mọc lên như nấm sau mưa tạicác khu vực mới mở nhưng không tuân theo hoặc không đúng các quy hoạch chhung,quy hoạch chi tiết dã được duyệt Trên địa bàn thành phố Hà Nội đã đồng loạt triển khailập dự án khu đô thị mới một cách ồ ạt, trong đó có nhiều dự án không mang lại hiệuquả, gây lãng phí đất đai và vốn đàu tư, nhiều khu đô thị đươc quy hoạch nhưng không
Trang 24thể lấp đầy được Nhiều đô thị, do công tác quy hoạch chưa có tầm nhìn dài hạn và đúngtầm vóc nên thực tế chưa có đô thị hiện đại, đẹp như mong muốn.
Mặt khác, giữa phát triển đô thị và phát triển khu công nghiệp cũng như hệthống giao thông và mạng lưới dịch vụ phát triển mang những yếu tố thiếu đồng bộ:
Nhiều nơi có khu công nghiệp nhưng lai không quy hoạch đô thị, nhà ở và ngược lại
Trong cơn sốt phát triển đô thị, Hà Nôi nhìn giống như môt công trường xây dựn lớn,khá hỗn độn Không ít công trình cũ đã bị phá bỏ để xây dựng các công trình to lớn hơn
và mở rộng đường xá, sân bay, thiên nhiên bị phá hủy, đất nông nghiệp bị lấn chiếm,nhà ở ngoai ô và cả sân golf trên địa bàn thành phố
Sự không hợp lý trong tổ chức kinh tế và điểm dân cư đô thị
Trên địa bàn Hà Nội, hệ thống các đô thị - trung tâm chưa hình thành mộtcách hợp lý, việc đặt các khu công nghiệp, trung tâm thương mại dịch vụ, các khu côngnghệ cao, các đơn vị cơ quan nghiên cứu chưa thực sự dựa trên những dấu hiệu lợi thế
so sánh của từng khu vực khác nhau trên địa bàn thành phố Phần lớn các cơ sở kinh tếcũng như dân cư vẫn tập trung ở những khu đô thị truyền thống mà chưa có xu hướngdãn ra các đô thị mới, hay các địa danh mới sát nhập vào Hà Nội, làm cho các đô thịtruyền thống trở nên quá tải nhưng chưa có biện pháp hữu hiệu điều hòa quá trình tăngtrưởng đó
Mặc dù phát triển khá mạnh song các đô thị Việt Nam hiện vẫn chưa thực
sự đáp ứng được nhu cầu xã hội hóa nhà ở cho mọi đối tượng Tại Hà Nội Thống kêcủa UNFPA cho thấy, hiện 25% cư dân thành thị Hà Nội không đủ tiền để mua nhà ở,20% nhà ở thành thị bị xếp vào loại không đạt tiêu chuẩn Đặc biệt, ở Hà Nội khoảng30% dân số có diện tích nhà ở dưới 3m2/người.Trong các khu đô thị mới, phần lớn đấtđai dành phát triển quỹ nhà ở, xây dựng các công trình dịch vụ để bán và cho thuê, diệntích cây xanh, các khu vui chơi công cộng bị thu hẹp tối đa để giảm bớt suất đầu tư hạtầng cơ sở Xét về lâu dài, nó lại ảnh hưởng xấu đến chất lượng môi trường cũng nhưchất lượng dịch vụ xã hội của khu vực (khu nhà ở ngày càng bị thiếu diện tích vườnhoa, cây xanh, nhà trẻ, các tuyến đi bộ ) Cơ sở hạ tầng xã hội và kỹ thuật tại các khudân cư đô thị thành phố nhìn chung không đồng bộ, mạng lưới giao thông trong vàngoài đô thị chưa phát triển, gây trở ngại cho các mối liên thông giữa đô thị với cácvùng lân cận cũng như với hoạt động: làm việc - nghỉ ngơi - sinh hoạt của người dântrong đô thị
Trang 25 Phát triển nguồn nhân lực không theo kịp được với quá trình đô thị hóa
Thứ nhất, quá trình đô thị hóa đã tạo ra một dòng di chuyển ồ ạt dân cư ở
các địa phương khác vào Hà Nội Dự kiến dân số Hà Nội đến 2020 là 8 triệu với tỷ lệ đôthị hóa là 54%, 2030 lên tới 9 triệu và 70% Tình trạng tăng vọt dân số cơ học ở Hà Nộilàm đậm thêm sự mất cân đối trong phân bố dân cư, lao động trên phạm vi toàn quốc
Hà Nội phải gánh chịu áp lực quá tải rất nặng nề về dân số, áp lực về tạo công ăn việclàm, chỗ ở cho người dân nghèo, nâng cao chất lượng môi trường, về cơ sở hạ tầng kỹthuật, hạ tầng xã hội
Thứ hai, hiện nay, thành phố Hà Nội có tới trên 70% số người bị thu hồi đất
do đô thị hóa và xây dựng khu đô thị không có trình độ chuyên môn Trong đó, số ngườiđược đào tạo tay nghề sau khi bị thu hồi đất chỉ chiếm 0,22% Trong đó, Nhà nước đàotạo 0,03%; đơn vị nhận đất đào tạo 0,03%; gia đình tự đào tạo 0,16%.hiện có 37,7% sốngười bị mất đất có thu nhập thấp hơn so với khi còn đất Tỷ lệ thất nghiệp trước và saukhi thu hồi đất tăng từ 5,22% lên 9,1%; làm thuê, xe ôm tăng từ 4,76% lên 8,4%; buônbán tăng từ 10,88% lên 13,6% và số người bị thu hồi đất được nhận vào làm trong cáckhu công nghiệp chỉ có 2,79% Nhiều người sau khi nhận tiền đền bù, tiền hỗ trợ đã sửdụng vào việc mua sắm phương tiện đi lại, vật dụng sinh hoạt chứ không chú tâm đếnviệc học nghề, giải quyết việc làm; có gia đình trở nên giàu có sau khi nhận tiền bồithường, nhưng chỉ sau một vài năm lại rơi vào tình trạng khó khăn do thất nghiệp Thựctrạng này chứng tỏ quá trình đô thị hoá Hà Nội chưa gắn kết và tác động mạnh mẽ đếnnông nghiệp, nông thôn, nông dân Tình trạng thiếu việc làm, dư thừa lao động; sự phânhoá thu nhập và những khó khăn về đời sống của người nông dân Hà Nội ngày càng rõràng hơn
Thứ ba, thiếu trầm trọng nguồn nhân lực chất lượng cao, vì thế, không đáp
ứng được yêu cầu sử dụng và phát triển công nghệ cao trên địa bàn thành phố, bắt đầu
có sự “ra đi” của một số nhà đầu tư nước ngoài (hãng SONY đóng cửa là dấu hiệu đángnói do không thể bán được mặt hàng chất lượng kỹ thuật như hiện nay) Mô hình nângcao chất lượng nguồn nhân lực hợp lý mà hiện nay đô thị lớn của nhiều nước đã làm làxây dựng các khu “sinh dưỡng công nghiệp” khu “:nuôi dưỡng công nghiệp” để cải tiếncông nghệ và đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao chưa được phát triểntrên địa bàn thành phố
Trang 26 Cơ sở hạ tầng đô thị chưa đảm bảo các tiêu chuẩn phát triển đô thị hiện đại
Đầu tiên, phải kể đến sự không đồng bộ giữa đô thị hóa với hệ thống cơ sở
hạ tầng giao thông: tính tất cả các loại đường giao thông thì Hà Nội mới chỉ đạt 1,24 kmđường/km2, quỹ đất dành cho giao thông rất ít, chỉ đạt dưới 8% đất đô thị ( dưới 40%
mức hợp lý cho đô thị), hạ tầng lạc hậu, nhỏ bé không đáp ứng được yêu cầu của cuộcsống, Mạng lưới đường giao thống không hợp lý, không liên hoàn để tạo giao thôngthông suốt, thiếu tổ chức phân luồng giao thông hợp lý; Về giao thông công cộng HàNội mới đáp ứng chưa quá 15% nhu cầu đi lại.; sự gia tăng nhanh của các phương tiện
cá nhân chưa được kiểm soát, ý thức của một số người dân tham gia giao thông chưađược cao; ùn tắc giao thông, tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường còn diễn ra nghiêmtrọng
Kế đến là sự bất cập về cơ sở hạ tầng cấp, thoát nước.Về cấp nước: Tỷ lệ
bao phủ dịch vụ cấp nước còn thấp, bình quân 70-80%, một số đô thị lớn đạt 80-90%,các thị trấn đạt khoảng 50- 60%; tiêu chuẩn cấp nước bình quân 90-120 l/người/ngày;
chất lượng dịch vụ cấp nước chưa ổn định; Hệ thống cấp nước sạch chưa bảo đảm yêucấu chất lượng, tỷ lệ đường ống cũ đang được sử dụng trong mạng lưới đường ống cấpnước trong các đô thị Hà Nội cũn cao Mạng lưới thoát nước trở nên đáng lo ngại hơncả: Năng lực thoát nước tại đô thị Hà Nội hiện nay chỉ đạt 35% so với nhu cầu, làm cho
hiện tựợng úng ngập trở thành những “thảm họa” đối với đô thị Hà Nội Năm 1995, Hà
Nội có 110 hồ với hơn 2.100 ha, trong tổng diện tích đất xây dựng 10.000ha, song trênthực tế hiện nay đã san lấp hết 30% diện tích hồ trong khi đó lại không có hồ mới HồYên Sở dự định là 130ha thì hiện không xây dựng đủ, trong khu đô thị Ciputra dự kiến
có 30ha hồ song nhà đầu tư vẫn không đào Khu Yên Hoà có 20 ha mặt nước song thực
tế không có Khu Mỹ Đình dự kiến có công viên và hồ khoảng 10ha song không ai làm
Trong quy hoạch đều có hồ song các chủ đầu tư chỉ làm nhà mà không đầu tư đào hồ
Ô nhiễm môi trường đô thị Hà nội trở thành điểm “điểm nóng” cản trở sự phát triển.
Ô nhiễm môi trường nước trở nên cực kỳ nghiêm trọng: hệ thống thoát
nư-ớc thải, nưnư-ớc mưa còn yếu kém so với quy mô đô thị hóa, thường xuyên gây ra úng
Trang 27mương, sông thoát nước như các sông Tô Lịch, Kim Ngưu, Sét, Lừ đều bị ô nhiễm trầmtrọng do hàng ngày phải tiếp nhận khối lượng lớn nước thải sinh hoạt và nước thải côngnghiệp chưa qua xử lý (ví dụ lượng nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp trungbình của thành phố Hà Nội xấp xỉ 450.000 m3/ngày.đêm) Các hồ trong nội thành cũngđều đã bị ô nhiễm chủ yếu do nước thải sinh hoạt không qua xử lý và rác thải đô thị đổtrực tiếp vào hồ 9/ 11 khu công nghiệp của Hà Nội chưa xây dựng hoàn chỉnh hệ thốngnước thải tập trung.
Hà Nội đang là một (trong hai) thành phố ô nhiễm nhất cả nước về môi trường không khí Hơn thế nữa, Nghiên cứu của UNFPA cho thấy, chất lượng không khí
tại Hà Nội còn thuộc vào loại tồi nhất trong khu vực.Tính trung bình trên toàn thànhphố, nồng độ bụi gấp 1,5 đến 3 lần tiêu chuẩn cho phép Thiệt hại do ô nhiễm không khígây ra đối với Hà Nội ước tính khoảng 1 tỷ đồng/ngày, chưa tính đến thiệt hại đối vớivới nông nghiệp và cây xanh Kết quả quan trắc môi trường không khí cho thấy nồng độ
SO2, CO, NO2 trong các KCN đều vượt tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến 6 lần Tại các nútgiao thông lớn, các điểm gần khu công nghiệp hoặc trong các khu công nghiệp đang cóchiều hướng gia tăng ô nhiễm môi trường cục bộ Nồng độ bụi tại ven các trục giaothông đều đã vượt tiêu chuẩn cho phép Tại một số làng nghề như làng nghề truyềnthống Bát Tràng (Hà Nội), tình trạng ô nhiễm không khí là vấn đề hết sức bức xúc
Ô nhiễm môi trường chất thải rắn ngày càng gia tăng do việc mở rộng sản
xuất công nghiệp, đô thị hoá và mức tiêu thụ dân cư tăng lên Các khu công nghiệp trênđịa bàn thải khoảng 30% tổng lượng rác thải công nghiệp của thành phố Hà Nội Việcthu gom, vận chuyển rác thải chỉ thực hiện trong phạm vi từng nhà máy, việc xử lý chủyếu thực hiện bằng các lò đốt tương đối đơn giản với vốn đầu tư khá khiêm tốn; rác thải
ra khỏi nhà máy gần như chưa đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu Tỷ lệ thu gom rác thải rắnmới chỉ đạt 60% Đặc biệt, các rác thải công nghiệp nguy hại hầu như chưa được xử lý
Không gian kiến trúc ngoại thành trong quá trình đô thị hóa bị ảnh hưởng đến những giá trị văn hóa truyền thống.
Quá trình đô thị hoá ở Hà Nội trải qua các thời kỳ đã tác động làm biến đổicấu trúc không gian làng truyền thống - một đặc trưng trong đô thị cổ Việt Nam Tácđộng của kinh tế thị trường đã làm thay đổi đáng kể đến cuộc sống vật chất và tinh thần