Là một nội dung không thể thiếu trong quá trình đàm phán của mọi hiệp định thương mại tư do, việc đàm phán quy tắc xuất xứ là một nội dung quan trọng và nảy sinh nhiều quan điểm trái chi
Trang 1Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
-*** -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành:Kinh tế đối ngoại
NỘI DUNG ĐÀM PHÁN QUY TẮC XUẤT XỨ ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI HÀNG DỆT MAY TRONG HIỆP ĐỊNH TPP
- CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Trang 2Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
DANH MỤC CHỮ VIÊT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUY TẮC XUẤT XỨ ƯU ĐÃI 5
1.1 Xuất xứ hàng hóa 5
1.1.1 Khái niệm xuất xứ hàng hóa 5
1.1.2 Vai trò của xuất xứ hàng hóa 6
1.2 Quy tắc xuất xứ ưu đãi 7
1.2.1 Các khái niệm 7
1.2.2 Các tiêu chí cơ bản trong quy tắc xuất xứ ưu đãi 9
1.2.3 Quy tắc xuất xứ ưu đãi trong các FTA 22
CHƯƠNG 2: QUY TẮC XUẤT XỨ ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI HÀNG DỆT MAY TRONG KHUÔN KHỔ ĐÀM PHÁN HIỆP ĐỊNH TPP 25
2.1 Giới thiệu về Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương 25
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 25
2.1.2 Quan hệ thương mại giữa các thành viên TPP 27
2.1.3 Các vấn đề chính trong đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương 29
2.2 Nội dung đàm phán quy tắc xuất xứ ưu đãi đối với hàng dệt nay trong khuôn khổ đàm phán hiệp định TPP 33
2.2.1 Các tiêu chí xuất xuất xứ 33
CHƯƠNG 3: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM TRONG VIỆC TUÂN THỦ QUY TẮC XUẤT XỨ TRONG 42
HIỆP ĐỊNH TPP 42
3.1 Tổng quan về ngành dệt may Việt Nam 42
3.1.1 Cơ cấu hoạt động của các doanh nghiệp trong ngành dệt may Việt Nam 42
3.1.2 Hoạt động thương mại trong ngành dệt may Việt Nam 47
Trang 3Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
quy tắc xuất xứ ưu đãi với hàng dệt may trong khuôn khổ đàm phán Hiệp định
TPP 62
3.2.1 Cơ hội của Việt Nam khi tuân thủ các quy tắc xuất xứ ưu đãi với hàng dệt may trong khuôn khổ hiệp định TPP 62
3.2.2 Thách thức đối với ngành dệt may Việt Nam 68
3.3 Các giải pháp đề xuất nhằm phát triển ngành dệt may 70
3.3.1 Nhóm giải pháp ngắn hạn 71
3.3.2 Nhóm giải pháp dài hạn 72
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 4Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
STT TỪ VIẾT
1 AKFTA ASEAN – Korean Free
FDI Foreign Direct
Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
5 FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do
6
FTAAP Khu vực thương mạ tự do châu Á –
Thái Bình Dương
7
GATT General Agreement on
Tariffs and Trade
Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch
8
GDP Gross Domestic
Product Tổng sản phẩm quốc gia
9 GTGT Giá trị gia tăng
10
GSP Generalized Systems
of Prefrences Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập
11 PSR Product special rule Quy tắc cụ thể từng mặt hàng
12
RVC Regional Value
Content) Hàm lượng giá trị khu vực
13 VAT Thuế giá trị gia tăng
14
VITAS Vietnam Textile and
Apparel Association Hiệp hội dệt may Việt Nam
15
WTO World Trade
Organization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 5Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Các quốc gia tham gia đàm phán TPP dân số và GDP tháng 3 năm 2014
27
Bảng 2.2: Tỷ trọng trao đổi thương mại của các nước TPP 28
Bảng 3.1 Xuất nhập khẩu hàng dệt may Việt Nam các năm 2013 – 2014 56
Bảng 3.2: Thị trường xuất khẩu hàng dệt may chính của Việt Nam giai đoạn 2013 – 2014 59
Bảng 3.3 Nhập khẩu hàng dệt may của Hoa Kỳ từ một số nước chính năm 2014 và tháng 1 năm 2015 63
Bảng 3.5 Chương trình phát triển cây bông Việt Nam giao đoạn 2015 – 2020 67
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng kinh ngạch trao đổi thương mại của các quốc gia tham gia đàm phán TPP năm 2011 29
Biểu đồ 3.1: Cơ cấu các doanh nghiệp dệt may Việt Nam theo hoạt động 42
Biểu đồ 3.2: Giá trị gia tăng đóng góp trong ngành dệt may 43
Biểu đồ 3.3: Lượng lao động tham gia trong ngành dệt may giai đoạn 2008 - 2011 45
Biểu đồ 3.4: Chỉ số năng lực lao động theo khu vực tại các quốc gia 46
Biểu đồ 3.5: Các sản phẩm nhập khẩu chính của Việt Nam tháng 11 năm 2014 và so sánh với cùng kỳ năm 2013 47
Biểu đồ 3.6 Giá trị nhập khẩu nguyên vật liệu trong ngành dệt may Việt Nam giai đoạn 2005 -2013 48
Biểu đồ 3.7 Cơ cấu nguyên vật liệu nhập khẩu trong ngành dệt may năm 2014 49
Biểu đồ 3.8 Giá trị nhập khẩu bông của Việt Nam các tháng 50
Biểu đồ 3.9 Thị trường nhập khẩu bông chính của Việt Nam 51
Biểu đồ 3.10: Giá trị nhập khẩu xơ, sợi của Việt Nam qua các tháng 51
Trang 6Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
dựa trên giá trị nhập khẩu) 52
Biểu đồ 3.12 Sản lượng nhập khẩu vải của Việt Nam qua các tháng 53
Biểu đồ 3.13 Thị trường nhập khẩu vài chính của Việt Nam 54
Biểu đồ 3.14 Kim ngạch xuất khẩu mười ngành lớn nhất Việt Nam 55
Biểu đồ 3.15 Giá trị và tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2014 57
Biểu đồ 3.16 Cơ cấu các mặt hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam năm 2013 58
Biểu đồ 3.17: Các thị trường xuất khẩu hàng dệt may chính của Việt Nam năm 2014 60
Biểu đồ 3.18 Các quốc gia nhập khẩu chính hàng dệt may Việt Nam năm 2014 61
Trang 7Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tiến trình hội nhập và toàn cầu hóa đang diễn ra vô cùng sôi động và sâu rộng trên mọi phương diện kéo theo sự xuất hiện của nhiều các hiệp định thương mại tự do Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), với sự tham gia đàm phán của mười hai quốc gia tính đến thời điểm hiện tại, là một trong những hiệp định thương mại tự do tiêu biểu trong thời điểm hiện tại, bởi những định hướng và cam kết hội nhập sâu rộng, toàn diện trên nhiều lĩnh vực: từ các vấn đền thương mại đến các vấn đề phi thương mại, trong phạm vi không những tại mà còn trong biên giới các nước thành viên Các vấn đề mang tính nhạy cảm cao như mua sắm chính phủ hay công đoàn cũng trở thành một nội dung quan trọng trong quá trình đàm phán để đi đến ký kết Với sự tham gia của mười hai nước thành viên, khi chính thức ký kết, TPP sẽ là mái nhà chung của gần 10% dân số toàn thế giới, chiếm khoảng 30% GDP toàn cầu Bắt đầu đàm phán chính thức từ năm 2010, các nước thành viên tham gia đã đi qua trên hai mươi vòng đàm phán chính thức, và đạt được những bước tiến quan trọng trong nhiều vấn đề về doanh nghiệp vừa và nhỏ, sở hữu trí tuệ hay hải quan Là một nội dung không thể thiếu trong quá trình đàm phán của mọi hiệp định thương mại tư do, việc đàm phán quy tắc xuất xứ là một nội dung quan trọng và nảy sinh nhiều quan điểm trái chiều giữa các quốc gia thành viên liên quan đến đề xuất của Hoa Kỳ trong việc áp dụng quy tắc “từ sợi trở đi – yarn forward” với hàng dệt may nội khối
Là nước thành viên thứ chín tham gia vào quá trình đàm phán Hiệp định này, Việt Nam có những kỳ vọng không nhỏ vào cơ hội tiếp cận thị trường các quốc gia trong khối đối với một số ngành hàng nhất định, đặc biệt là với ngành hàng dệt may, khi các nước thành viên đang tham gia đàm phán TPP chiếm tới gần 80% thị trường xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam Là một quốc gia mà dệt may luôn nằm trong nhóm những mặt hàng đóng góp cho kim ngạch xuất khẩu nhiều nhất, tuy nhiên ngành dệt may Việt Nam lại chưa có được sự chủ động cần thiết đối với các nguyên liệu đầu vào cũng như các sản phẩm hỗ trợ, khi hầu hết các sản phẩm đó
Trang 8Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
được nhập khẩu, mà chủ yếu là từ Trung quốc hay Đài Loan, các quốc gia hiện đang
không tham gia đàm phán TPP Và khi đó, quy tắc “từ sợ trở đi” trở thành một trở
ngại vô cùng lớn của các sản phẩm dệt may Việt Nam trong việc tiếp cận những ưu đãi về thuế quan đối với trong khuôn khổ hiệp định này Tuy nhiêm, áp lực về một quy tắc xuất xứ khắt khe đối với hàng dệt may cũng có thể trở thành một nguồn động lực vô cùng lớn giúp Việt Nam có thể thay đổi và khắc phục những yếu điểm bấy lâu nay trong ngành dệt may, và để đưa ngành dệt may phát triển lên một tầm cao mới
Trên cơ sở đó, tác giả quyết định lựa chọn đề tài: “Nội dung đàm phán quy
tắc xuất xứ ưu đãi đối với hàng dệt may trong hiệp định TPP - Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Tìm ra những khó khăn, thách thức cũng như cơ hội cho ngành dệt may Việt Nam đến từ việc tuân thủ quy tắc xuất xứ ưu đãi đối với hàng dệt may trong khuôn khổ Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương – TPP, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm tân dụng các cơ hội, vượt qua các thách thức đối với ngành dệt may
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa lý luận về xuất xứ hàng hóa, và quy tắc xuất xứ đối với hàng hóa
Đưa ra dự đoán về quy tắc xuất xứ đối với hàng dệt may trong khuôn khổ hiệpđịnh TPP trên cơ sở phân tích các nội dung đàm phán trong hiệpđịnh này
Phân tích thực trạng ngành dệt may Việt Nam để thấy được các điểm mạnh, điểm yếu trong ngành, từ đó chỉ ra được những thách thức cũng như cơ hội đến từ việc tuân thủ quy tắc xuất xứ ưu đãi đối với các sản phẩm dệt may trong hiệp định TPP
4 Đối tượng nghiên cứu
Nội dung đàm phán quy tắc xuất xứ ưu đãi trong hiệp định Đối tác chiên lược xuyên Thái Bình Dương
Trang 9Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Thực trạng ngành dệt may Việt Nam cùng thực tiễn hoạt động xác định xuất
xứ hàng dệt may của Việt Nam trên cơ sở các quy tắc xuất xứ trong thương mại quốc tế
6 Phương pháp nghiên cứu:
Với bài nghiên cứu này, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu
mô tả định tính, dựa trên cơ sở các nguồn thông tin, dữ liệu liên quan đến quá trình đám phán Hiệp định TPP nói chung và việc đàn phán quy tắc xuất xứ ưu đãi trong TPP nói riêng, cũng như các nguồn thông tin liên quan đến hoạt động sản xuất và xuất nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam Nguồn thông tin, dữ liệu được thu thập chủ yếu là thông tin thứ cấp
Tác giả đã sử dụng các công cụ nghiên cứu bao gồm tổng hợp, thống kê và phân tích, so sánh đối chiếu các nguồn thông tin dữ liệu để đưa ra các kết luận đánh giá có giá trị khoa học và đảm bảo tính cấp thiết về đối tượng nghiên cứu
7 Kết cấu đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài được bố cục thành ba chương chính:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về Quy tắc xuất xứ ưu đãi Chương 2: Quy tắc xuất xứ ưu đãi đối với hàng dệt may trong khuôn khổ đàm phán hiệp định TPP
Chương 3: Cơ hội và thách thức của dệt may Việt Nam trong việc tuân thủ quy tắc xuất xứ trong hiệp định TPP
Trong quá trình thực hiện đề tài này, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ vô cùng tận tâm từ TS Phan Thị Thu Hiền, Giảng viên bộ môn Giao dịch thương mại
Trang 10Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
quốc tế, khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế, trường Đại học Ngoại Thương Tác giả xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới cô
Do hạn chế về mặt thời gian, năng lực của bản thân cũng như sự phức tạp của đề tài, nên bài nghiên cứu không thể tránh khỏi có nhiều khiếm khuyết Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp, trao đổi cũng như sự lượng thứ từ quý độc giả
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 11Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUY TẮC XUẤT XỨ ƯU ĐÃI 1.1 Xuất xứ hàng hóa
1.1.1 Khái niệm xuất xứ hàng hóa
Ngày nay, cùng với tiến trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, thương mại quốc tế đã và đang ngày càng phát triển về cả chiểu rộng lẫn chiều sâu, với sự tham gia của ngày càng nhiều các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Việc giao lưu kinh tế giữa các quốc gia đã đẩy mạnh quá trình phân công lao động trên toàn cầu, khiến cho một sản phẩm, cho đến khi hoàn thành, có thể có sự đóng góp của hai hay nhiều quốc gia vào công đoạn sản xuất Và do đó, trong thương mại quốc tế, một vấn đề rất được các quốc gia quan tâm đó là xuất xứ hàng hóa nhằm áp dụng các chính sách thương mại, hay các cơ chế đối xử ưu đãi trong thương mại quốc tế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu
Có nhiều khái niệm về xuất xứ hàng hóa được đưa ra
Theo điều 1, Hiệp định GATT 1994: “Xuất xứ hàng hóa là quốc tịch của
hàng hóa đó”
Theo phụ lục chuyên đề K, Công ước Kyoto sửa đổi 1999 định nghĩa: “Nước
xuất xứ của hàng hóa là nước tại đó hàng hóa được chế biến hoặc sản xuất, phù hợp với tiêu chuẩn đặt ra nhằm mục đích áp dụng trong biểu thuế hải quan, những hạn chế về số lượng, hoặc các biện pháp khác liên quan đến thương mại.”
Theo định nghĩa này, hàng hóa sẽ được coi là có xuất xứ tại một nước khi quá trình sản xuất hàng hóa diễn ra tại nước xuất xứ thỏa mãn một tiêu chuẩn cụ thể nào đó Và mục đích chính của việc xác định xuất xứ của hàng hóa, theo Công ước Kyoto, là phục vụ cho các chính sách thương mại
Theo khoản 14, điều 3, Luật Thương mại Việt Nam 2005: “Xuất xứ hàng hóa
là nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hoá hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hoá trong trường hợp có nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất hàng hoá đó”
Theo định nghĩa trên của Luật Thương mại Việt Nam 2005, xuất xứ hàng hóa được chia thành hai loại:
Trang 12Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hàng hóa có xuất xứ thuần túy: là hàng hóa được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ một nước hoặc vùng lãnh thổ
Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy: là hàng hóa không được sản xuất toàn
bộ tại một nước Nói cách khác, có nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia vào
quá trình sản xuất nên hàng hóa đó Khi đó, “công đoạn chế biến cơ bản cuối
cùng” chính là yếu tố quyết định để xác định quốc gia hay vùng lãnh thổ nào là
nước xuất xứ của hàng hóa
Từ những khái niệm trên, có thể tổng kết: “Xuất xứ hàng hóa là quốc gia
hay vùng lãnh thổ nơi hàng hóa được tạo ra toàn bộ, hoặc là nơi thực hiện công đoạn gia công chế biến cơ bản cuối cùng làm thay đổi cơ bản bản chất của hàng hóa”
1.1.2 Vai trò của xuất xứ hàng hóa
1.1.2.1 Xuất xứ hàng hóa giúp các quốc gia dễ dàng hơn trong việc thực hiện các chính sách thương mại
Trong hoạt động thương mại quốc tế, luôn có hai nhóm chính sách đối lập nhau được các quốc gia áp dụng, đó là nhóm chính sách ưu đãi thương mại và nhóm chính sách nhằm hạn chế thương mại
Nhóm chính sách ưu đãi thương mại bao gồm các biện pháp ưu đãi về thuế quan, về hạn ngạch, hay các ưu đãi khác mà các quốc gia dành cho nhau trong khuôn khổ các hiệp định thương mại tự do song phương, đa phương, hoặc các thỏa thuận về ưu đãi thuế quan đơn phương
Nhóm chính sách hạn chế thương mại bao gồm nhóm chính sách về thuế quan, hạn ngạch xuất nhập khẩu, cùng với các biện pháp phòng vệ và trừng phạt thương mại như việc áp thuế chống bán phá giá cho hàng hóa xuất xứ từ một quốc gia
Để thực hiện các chính sách này hiệu quả, điều kiện tiên quyết là phải xác định được xuất xứ của hàng hóa
Trang 13Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
1.1.2.2 Xuất xứ hàng hóa giúp các quốc gia thống kê thương mại một cách hiệu quả
Với việc xác định được xuất xứ của hàng hóa, các quốc gia sẽ dễ dàng hơn trong việc xác định kim ngạch thương mại với nước đối tác, từ đó đánh giá quy mô, tốc độ tăng trưởng của thị trường nước đối tác Đây là cơ sở cho việc hình thành các chính sách thương mại của các quốc gia
1.1.2.3 Xuất xứ hàng hóa là một công cụ trong xúc tiến thương mại
Có nhiều loại hàng hóa gắn liền với tên tuổi và thương hiệu của một quốc gia, như bia Đức hay rượu vang Pháp Và khi đó, xuất xứ hàng hóa, gắn liền với tên tuổi của một quốc gia, là một công cụ vô cùng hữu hiệu trong việc khẳng định chất lượng, uy tín của hàng hóa
Do tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc xác định xuất xứ hàng hóa mà các quy tắc xuất xứ ra đời
1.2 Quy tắc xuất xứ ưu đãi
1.2.1 Các khái niệm
1.2.1.1 Quy tắc xuất xứ
Theo chương 1, phụ lục K, Công ước Công ước quốc tế về đơn giản hóa và hải hòa hóa thủ tục Hải quan của Tổ chức Hải Quan thế giới (Công ước Kyoto), quy
tắc xuất xứ được hiểu là: “Những quy định cụ thể được hình thành trên cơ sở những
quy định của pháp luật quốc gia hoặc các hiệp định quốc tế, được áp dụng để xác định xuất xứ của hàng hóa”
Một cách chung nhất, có thể hiểu quy tắc xuất xứ là “Các quy định, quy tắc
được áp dụng để xác định xuất xứ hàng hóa, trong khuôn khổ một quốc gia, hay một nhóm nước nằm trong một thỏa thuận về thương mại đơn phương, song phương hay đa phương”
Ngày nay trên thế giới, quy tắc xuất xứ được chia thành hai loại chính, theo tiêu chí mục đích sử dụng, bao gồm:
Trang 14Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
1.2.1.2 Quy t ắc xuất xứ không ưu đãi
Theo Hiệp định về Quy tắc xuất xứ của Tổ chức thương mại thế giới WTO,
“Quy tắc xuất xứ không ưu đãi được định nghĩa là những luật, quy đinh, quyết định
hành chính chung do các thành viên áp dụng để xác định nước xuất xứ của hàng hóa với điều kiện là quy tắc xuất xứ này không liên quan đến thỏa thuận thương mại hoặc chế độ thương mại tự chủ có áp dụng ưu đãi thuế quan ngoài phạm vi điều chính của khoản 1, điều 1 hiệp đinh GATT 1994”
Theo mục 3, điều 3, Nghị định 19/2006/NĐ-CP: “ Quy tắc xuất xứ không ưu
đãi là các quy định về xuất xứ áp dụng cho hàng hóa ngoài quy định tại khoản 2 Điều này và trong các trường hợp áp dụng các biện pháp thương mại không ưu đãi
về đối xử tối huệ quốc, chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ, hạn chế số lượng hay hạn ngạch thuế quan, mua sắm chính phủ và thống kê thương mại.”
Các quy tắc xuất xứ không ưu đãi thường được các quốc gia sử dụng nhằm mục đích phân biệt hàng hóa của các nước khác nhau Mục đích của việc này là để phục vụ việc thống kê thương mại, hay để áp dụng các công cụ, chính sách thương mại như việc áp thuế, hạn ngạch và các chính sách thương mại khác đối với hàng hóa nhập khẩu từ một quốc gia xác định Một quốc gia có thể tham gia vào nhiều thỏa thuận thương mại nhưng cũng có thể không tham gia bất kỳ một thỏa thuận thương mại hay ưu đãi thuế quan nào Điều đó có nghĩa là, một quốc gia có thể có hoặc không có các quy tắc xuất xứ ưu đãi, nhưng nhất thiết phải có bộ quy tắc xuất
xứ không ưu đãi của riêng mình
1.2.1.3 Quy tắc xuất xứ ưu đãi
Theo hiệp định về Quy tắc xuất xứ của WTO: “Quy tắc xuất xứ ưu đãi là các
luật, quy định và quyết định hành chính mà các bên áp dụng để xác định hàng hóa
có đủ tiêu chuẩn để được hưởng đối xử ưu đãi theo chế độ thương mại dành ưu đãi lẫn nhau hay một chiều
Theo mục 2, điều 3, Nghị định 19/2006/NĐ-CP: "Quy tắc xuất xứ ưu đãi là
các quy định về xuất xứ áp dụng cho hàng hóa có thoả thuận ưu đãi về thuế quan và
ưu đãi về phi thuế quan”
Trang 15Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Tóm lại, “quy tắc xuất xứ ưu đãi” là các quy định nhằm xác định xuất xứ
của hàng hóa, được áp dụng trong các thỏa thuận, hiệp định ưu đãi thuế quan đơn phương, song phương hoặc đa phương
Các quy tắc xuất xứ ưu đãi thường được sử dụng trong các hiệp định, thỏa thuận thuế quan ưu đãi (như trong các FTA), hay các chế độ thuế quan ưu đãi đơn phương (như trong chế độ ưu đãi thuế quan một chiều GSP) Các quy tắc xuất xứ ưu đãi này là cơ sở duy nhất cho phép xác định hàng hóa có xuất xứ từ nước thành viên nhập khẩu, hay nước được hưởng các ưu đãi về thuế quan Chỉ khi thỏa mãn toàn bộ các quy định hay tiêu chuẩn trong các quy tắc xuất xứ ưu đãi trong mỗi hiệp định thương mại tự do, hay các chế độ ưu đãi thuế quan đơn phương thì hàng hóa từ nước thành viên xuất khẩu mới có thể hưởng các ưu đãi về thuế quan khi nhập khẩu vào các nước thành viên khác, theo các thỏa thuận trong các hiệp định thương mại
tự do hay theo các chế độ ưu đãi thuế quan đơn phương này
1.2.2 Các tiêu chí cơ bản trong quy tắc xuất xứ ưu đãi
Các quy tắc xuất xứ, dù tại mỗi quốc gia hay trong mỗi thỏa thuận về ưu đãi thuế quan đơn phương, song phương hay đa phương, có những điểm khác biệt, luôn bao gồm các yếu tố chính sau đây:
1.2.2.1 Tiêu chí xuất xứ chung
Hàng hóa được coi là có xuất xứ khi thỏa mãn một trong hai tiêu chí sau:
nước xuất xứ
a Hàng hóa có xuất xứ thuần túy
Hàng hóa được coi là có xuất xứ thuần túy tại một nước, hay được sản xuất toàn bộ tại nước xuất xứ khi đó là những sản phẩm được trồng trọt, nuôi dưỡng, đánh bắt, khai thác, thu hoạch hoàn toàn tại nước xuất xứ, hay được sản xuất hoàn toàn từ các sản phẩm này Khi đó, nếu chỉ một thành phần hay nguyên liệu cấu thành nên hàng hóa không có xuất xứ, như nguyên liệu nhập khẩu hay không xác định được xuất xứ, sẽ khiến hàng hóa mất đi tính “xuất xứ thuần túy”
Trang 16Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Trong hầu hết các thỏa thuận thương mại tự do, tiêu chuẩn xuất xứ toàn bộ hầu hết được giải thích một cách tuyệt đối, bằng việc liệt kê các trường hợp mà hàng hóa được coi là có xuất xứ thuần túy Thông thường, một sản phẩm là có xuất
xứ thuần tuy khi sản phẩm đó thỏa mãn một trong các tiêu chí sau đây:
Sản phẩm thu được từ săn bắn, đặt bẫy, đánh bắt, nuôi trồng thuỷ hải sản, thu lượm hoặc săn bắt tại đó;
Khoáng sản và các chất sản sinh tự nhiên khác chưa được liệt kê ở trên được chiết xuất hoặc lấy ra từ đất, nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển của nước xuất xứ
Sản phẩm đánh bắt bằng tàu được đăng ký tại nước xuất xứ và có treo cờ của nước đó, và các sản phẩm khác do nước xuất xứ hoặc người của nước xuất xứ khai thác từ nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của nước đó, với điều kiện là nước xuất xứ có quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên tại vùng nước, đáy biển và dưới đáy biển đó theo luật quốc tế;
Sản phẩm đánh bắt và các sản phẩm từ biển khác đánh bắt được từ vùng biển
cả bằng tàu được đăng ký tại nước xuất xứ và treo cờ của nước đó;
Sản phẩm được chế biến và/hoặc được sản xuất ngay trên tàu chế biến được đăng ký tại nước xuất xứ và treo cờ của nước đó, từ các sản phẩm kể trên;
Các vật phẩm thu nhặt được tại nước xuất xứ nhưng không thực hiện được những chức năng ban đầu hoặc không thể sửa chữa hay khôi phục được và chỉ có thể vứt bỏ hoặc dùng làm các nguyên vật liệu thô, hoặc sử dụng vào mục đích tái chế;
Phế thải và phế liệu có nguồn gốc từ quá trình sản xuất tại nước xuất xứ;
Hàng hoá thu được hoặc được sản xuất tại lãnh thổ của nước xuất xứ từ tất cả các sản phẩm được đề cập bên trên
Nhìn chung, tiêu chí xuất xứ thuần túy liên quan nhiều đến các loại hàng hóa
Trang 17Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
b Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy
Hàng hóa được công nhận có xuất xứ tại một nước, ngoài hàng hóa có xuất
xứ thuần túy còn có hàng hóa có xuất xứ không thuần túy Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy là hàng hóa được sản xuất một phần hoặc toàn bộ tại nước xuất xứ,
từ một vài hay toàn bộ những nguyên vật liệu, thành phần, bộ phận được nhập khẩu hay không có xuất xứ với điều kiện những nguyên vật liệu, thành phần hay bộ phận
đó đã được trải qua quá trình gia công chế biến cơ bản cuối cùng, làm thay đổi cơ bản hàng hóa tại nước xuất xứ
Vậy, điều kiện quyết định đến việc hàng hóa được công nhận là có xuất xứ không thuần túy tại một nước, trong trường hợp hàng hóa không được sản xuất toàn
bộ tại nước đó chính là hàng hóa hay các nguyên vật liệu nhập khẩu, không có xuất
xứ cấu thành nên sản phẩm đã trải qua công đoạn “gia công chế biến cơ bản cuối
cùng” tại nước xuất xứ Vậy thế nào là quá trình gia công chế biến cơ bản cuối
cùng?
“Quá trình gia công chế biến cơ bản cuối cùng là công đoạn chế biến sản
xuất làm thay đổi cơ bản một hàng hóa, để hình thành một sản phẩm thương mại mới, khác biệt về hình dạng, tính năng, đặc điểm cơ bản hay mục đích sử dụng so với hàng hóa ban đầu”
Mỗi quốc gia, hay mỗi khu vực thương mại có những tiêu chí riêng để xác định thế nào là một công đoạn gia công chế biến cơ bản cuối cùng Nhưng thông thường có hai tiêu chí để xác định hàng hóa đã trải qua công đoạn gia công chế biến
cơ bản cuối cùng hay không, đó là tiêu chí “hàm lượng phần trăm giá trị” và tiêu chí “công đoạn gia công”
Tiêu chí hàm lượng phần trăm giá trị
Hàng hóa được coi là có xuất xứ nếu hàm lượng giá trị nội địa trên tổng giá trị sản phẩm đạt một mức giá trị cụ thể, tùy quy định của từng bộ quy tắc xuất xứ
Việc tính toán hàm lượng giá trị nội địa của hàng hóa (RVC – Regional Value Content) được quy định cụ thể trong các bộ quy tắc xuất xứ với hai cách tính khác nhau
Trang 18Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Cách 1: Cách tính gián tiếp (chỉ tính hàm lượng giá trị các nguyên vật liệu
RVC: Hàm lượng giá trị nội địa của hàng hóa
FOB: Giá trị hàng hóa chưa bao gồm tiền cước vận chuyển quốc tế và các chi phí khác
VNM (value of non – origionating materials): Trị giá phần nguyên vật liệu đầu vào không xuất xứ được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa (không bao gồm giá trị nguyên liệu tự sản xuất)
VOM (value of origionating materials): Trị giá phần nguyên vật liệu đầu vào
có xuất xứ để tạo ra hàng hóa
Mỗi quy tắc xuất xứ khác nhau sẽ yêu cầu một tỷ lệ phần trăm giá trị nội địa khác nhau, và quy định một cách tính khác nhau, phần lớn dao động trong khoảng
từ 35% đến 40%
Tiêu chí công đoạn gia công Tiêu chí công đoạn gia công bao gồm hai tiêu chí cụ thể là tiêu chí “chuyển
đổi mã số hàng hóa” và tiêu chí “công đoạn gia công chế biến cụ thể”
Nguyên tắc chung của tiêu chí “công đoạn gia công” là: Nguyên vật liệu đầu
vào không có xuất xứ hay được nhập khẩu sẽ được coi là đã trải qua quá trình gia công chế biến cơ bản cuối cùng khi sản phẩm được tạo ra từ các nguyên vật liệu đầu vào này có sự thay đổi về mã số hàng hóa so với mã số hàng hóa của các nguyên vật liệu đầu vào đó
Sự phát triển của khoa học công nghệ cùng nhu cầu ngày càng tăng của con
Trang 19Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
và càng đa dạng Sự giao lưu kinh tế ngày càng nở rộ giữa các quốc gia khiến cho việc luân chuyển hàng hóa giữa các quốc gia diễn ra thường xuyên với khối lượng lớn Nhằm tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế, cho việc lưu thông hàng hóa, cho hoạt động thu thập, so sánh và phân tích số liệu thống kê đặc biệt là thống kê thương mại quốc tế cũng như tạo thuận lợi và thống nhất trong thủ tục hải quan tại các quốc gia trên thế giới, Tổ chức Hải Quan thế giới đã xây dựng Danh mục hài hòa về mô tả
và mã hóa hàng hóa, gọi tắt là Danh mục HS Danh mục HS bao gồm các quy tắc tổng quát (6 quy tắc) giúp phân loại hàng hóa, và một danh mục chi tiết gồm 21 phần, 97 chương và hơn 1500 nhóm với các chú giải chi tiết cho mỗi phần, chương, nhóm và phân nhóm, giúp phân loại hàng hóa vào từng phần, chương, nhóm và phân nhóm Trong đó, các phần, chương, nhóm hay phân nhóm được thể hiện bằng các con
số Cụ thể, mỗi chương trong một phần sẽ được cụ thể đến hai chữ số, mỗi nhóm trong một chương được cụ thể đến bốn chữ số, và mỗi phân nhóm trong một nhóm được cụ thể bẳng sáu chữ số Trên cơ sở đó, mỗi hàng hóa sẽ thuộc về một phân nhóm, một nhóm, một chương và một phần cụ thể được thể hiện bằng các chữ số
Khi đó, tiêu chí “chuyển đổi mã số hàng hóa” quy định rằng, hàng hóa được
sản xuất không toàn bộ tại một nước sẽ được coi là có xuất xứ tại nước đó nếu hàng hóa thành phẩm được phân loại vào một phân nhóm, một nhóm, một chương hay một phần khác với nguyên vật liệu đầu vào không có xuất xứ hay nguyên vật liệu đầu vào nhập khẩu dùng để sản xuất ra hàng hóa đó Thông thường, các Hiệp định thương mại tự do hiện hành quy định một sự chuyển đổi mã số hàng hóa giữa nguyên vật liệu đầu vào không xuất xứ và hàng hóa thành phẩm diễn ra ở cấp số 4, nghĩa là chuyển đổi mã số hàng hóa ở cấp độ nhóm (CTH) Cũng có trường hợp, sự chuyển đổi chỉ cần thực hiện ở cấp phân nhóm sáu chứ số (CTSH), hay cũng có trường hợp, hàng hóa phải trải qua sự chuyển đổi ở cấp độ chương hai chữ số (CC)
để được công nhận là hàng hóa có xuất xứ Tất các những điều này sẽ khác nhau tùy thuộc vào mỗi bộ quy tắc xuất xứ khác nhau Việc chuyển đổi mã số hàng hóa chỉ áp dụng đối với nguyên vật liệu đầu vào không xuất xứ mà không xét đến các loại nguyên vật liệu đầu vào có xuất xứ từ quốc gia đang xét
Trang 20Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Ví dụ: Quy tắc xuất xứ trong Hiệp định JAEPA quy định như sau: “…Hàng
hóa được coi là có xuất xứ nếu trải qua quá trình chuyển đổi mã số hàng hóa ở cấp
số 4 (gọi tắt là CTH) của Hệ thống hài hòa…”
Khi đó, với mặt hàng cụ thể là bánh bích quy giòn – mã HS là 1905.09 sản xuất tại Việt Nam, được làm từ nguyên liệu gồm: trứng gà và bơ xuất xứ Việt Nam, bột – mã HS 11.01, có xuất xứ từ Trung Quốc
Trong trường không có quy định nào khác, và sản phẩm bách bích quy này được áp dụng tuy tắc chuyển đổi mã hàng hóa để xác định xuất xứ sản phẩm bánh bích quy (19.05) sẽ được coi là có xuất xứ Việt Nam, áp dụng tuy tắc chuyển đổi
mã số hàng hóa, do đã có sự chuyển đổi mã số ở cấp số 4 giữa nguyên liệu đầu vào không xuất xứ là bột, và sản phẩm là bánh bích quy (19.05)
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, rất nhiều sản phẩm mặc dù có sự thay đổi
về mã số hàng hóa nhưng vẫn chưa đảm bảo đã trải qua một quá trình gia công chế biến cơ bản cuối cùng tại nước xuất xứ Do vậy, trong nhiều bộ quy tắc xuất xứ, tiêu
chí “công đoạn gia công chế biến đặc biệt” được đưa ra Đây là tập hợp các công
đoạn gia công hoặc chế biến bắt buộc phải được thực hiện tại nước xuất xứ với các nguyên vật liệu, sản phẩm đầu vào để tạo ra hàng hóa hay thành phẩm cuối cùng
Thông thường, tiêu chí về “công đoạn gia công chế biến đặc biệt” thường được đi
kèm với các tiêu chí về chuyển đổi mã số hàng hóa và tiêu chí về hàm lượng giá trị khu vực để xác định xuất xứ của một số mặt hàng nhất định, và được cụ thể trong
danh mục “Quy tắc cụ thể mặt hàng - PSR”, được đính kèm như một phụ lục của
các bộ quy tắc xuất xứ ưu đãi
Ví dụ: Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Hàn Quốc quy định về quy tắc xuất xứ được đối với nhóm hàng là Áo khoác dài, áo khoác mặc khi đi xe (car-coat),
áo khoác jacket chống gió và các loại tương tự, dùng cho nam giới hoặc trẻ em trai,
dệt kim hoặc móc (thuộc nhóm 61.01 trong danh mục HS) là: “CC, với điều kiện
sản phẩm được cắt và khâu tại bất kì nước thành viên nào; hoặc RVC 40%”
Trang 21Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Điều này có nghĩa rằng, các sản phẩm được phân loại trong nhóm 61.01 trong danh mục HS, muốn được công nhận có xuất xứ tại một nước thành viên xuất khẩu theo quy định của hiêp định AKFTA phải thỏa mãn một trong hai yếu tố:
RVC (hàm lượng giá trị khu vực) >= 40%; hoặc
CC (chuyển đổi chương), đi kèm với điều kiện công đoạn cắt và khâu được thực hiện tại bất kỳ một nước thành viên nào
Thông thường, trong nhiều FTA, các sản phẩm dêt may thuộc chương 60 –
63 sẽ được coi là có xuất xứ kèm theo quy tắc “Cắt và may”, nghĩa là hàng hóa phải được cắt và khâu (may) tại bất kỳ nước thành viên nào Tuy nhiên, có một số FTA, đặc biệt là những FTA có Hoa Kỳ tham gia, thì quy tắc “từ sợi trở đi” thường được
áp dụng với hàng dệt may như một điều bắt buộc
Nhìn chung, tiêu chí Chuyển đổi mã số hàng hóa là một quy tắc dễ dự đoán
Nhà sản xuất có thể căn cứ vào chủng loại nguyên vật liệu đầu vào và thành phẩm
để xác định ngay hàng hóa có xuất xứ hay không Tuy nhiên, sự phức tạp trong việc phân nhóm hàng hóa đôi khi khiến tiêu chí này trở nên tương đối rắc rồi và khó áp dụng
xứ của loại hàng hóa này áp dụng tiêu chí “chuyển đổi mã số hàng hàng hóa”
Trường hợp áp dụng tiêu chí “hàm lượng phần trăm giá trị” để xác định xuất xứ hàng hóa, tiêu chí công gộp cũng cho phép công giá trị của nguyên liệu đầu vào có xuất xứ từ các nước thành viên trong cùng khu vực thương mại hoặc nước cho hưởng vào giá trị nội địa của hàng hóa thành phẩm
Trang 22Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Với quy tắc cộng gộp áp dụng cho tiêu chí tỷ lệ phần trăm nội địa, có hai cách xác định:
Cách 1 Cộng gộp toàn phần
Giá trị hàng hóa là nguyên vật liệu đầu vào có xuất xứ tại nước trong cùng khu vực thương mại hay nước cho hưởng sẽ được cộng toàn bộ vào giá trị nội địa của hàng hóa, mặc dù hàm lượng phần trăm giá trị của nguyên vật liệu này không đạt 100%
Ví dụ: Hàng hóa được sản xuất tại Việt Nam, có giá trị cuối cùng là 1000 USD, được sản xuất từ nguyên liệu đầu vào xuất xứ Thái Lan là 20 USD, hàm lượng giá trị gia tăng được tạo ra tại Việt Nam là 20 USD Trong khi đó, Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN – ATIGA yêu cầu mức hàm lượng phần trăm giá tị nội địa RVC tối thiểu bằng 35% để hàng hóa được công nhận là có xuất xứ ASEAN theo hiệp định này
Trường hợp không áp dụng quy tắc cộng gộp, hàm lượng giá trị nội địa của hàng hóa sản xuất tại Việt Nam là:
Vậy, việc áp dụng quy tắc cộng gộp toàn phần giúp cho việc đáp ứng mức tỷ
lệ hàm lượng phần trăm giá trị của hàng hóa trở nên dễ dàng hơn.Trong hầu hết các
bộ quy tắc xuất xứ thuộc các hiệp định thương mại tự do hay các thỏa thuân về ưu đãi thuế quan đơn phương (GSP) thì việc cộng gộp xuất xứ đều được chấp nhận
Trang 23Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Cách 2 Cộng gộp bộ phận
Với quy tắc này, giá trị của nguyên vật liệu đầu vào không xuất xứ sẽ được cộng gộp theo đúng tỷ lệ hàm lượng phần trăm giá trị nội địa có trong nguyên vật liệu đầu vào đó khi tính hàm lượng phần trăm giá trị khu vực của hàng hóa thành phẩm
Hiện nay, không nhiều bộ quy tắc xuất xứ trọng các hiệp định thương mại tự
do hay các thỏa thuận ưu đãi thuê quan phổ cập áp dụng điều này, duy chỉ có Hiệp định về thương mại hàng hóa ASEAN – ATIGA là cho phép áp dụng cách tính này với nguyên vật liệu đầu vào không có xuất xứ trong khu vực (tức tỷ lệ hàm lượng giá trị khu vực của nguyên vật liệu đầu vào nhỏ hơn 40% và lớn hơn 20%)
Mức tỷ lệ phần trăm tối thiểu (De minimis)
Trên nguyên tắc, hàng hóa sẽ không được coi là có xuất xứ nếu bất kì một thành phần nguyên vật liệu, đầu vào khập khẩu hay không có xuất xứ không trải qua quá trình chuyển đổi mã số hàng hóa Tuy nhiên, trong hầu hết các Hiệp định thương mại tự do song phương, đa phương hay trong các thỏa thuận về ưu đãi thuế quan đơn phương, luôn có một tỷ lệ nhất định lượng nguyên liệu đầu vào không xuất xứ, không cần trải qua quá trình chuyển đổi mã số hàng hóa, nhưng hàng hóa vẫn được công nhận là có xuất xứ Tỷ lệ này được gọi là mức De minimis Giá trị của mức De minimis được quy định cụ thể trong mỗi quy tắc xuất xứ riêng, trong từng FTA hay các hệ thông ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP), và thường có giá trị dao động trong khoảng từ 10 – 15% tổng giá trị hoặc trọng lượng của hàng hóa
Nhìn chung, công đoạn gia công chế biến cơ bản cuối cùng với hàng hóa là công đoạn sản xuất chính, nơi đặc điểm cơ bản của hàng hóa được hình thành
Những công đoạn gia công chế biến sau đây, khi được thực hiện riêng rẽ hay kết hợp với nhau,sẽ được xem là giản đơn và không được xét đến khi xác định xuất xứ của hàng hóa:
Những công đoạn bảo quản hàng hóa trong điều kiện tốt trong quá trình vận chuyển và lưu kho;
Thay đổi bao bì, tháo dỡ và lắp ghép các kiện hàng;
Trang 24Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Sửa đơn giản, lau chùi, tẩy bụi và các chất oxít, dầu, sơn và các chất tráng, phủ bề mặt khác;
Sơn đơn giản và các công đoạn đánh bóng;
Bóc vỏ một phần hoặc làm tróc toàn bộ, đánh bóng và làm láng ngũ cốc và gạo;
Nhuộm màu đường hoặc tạo đường miếng;
Bóc vỏ đơn giản, trích hạt, hoặc tróc hạt;
Mài sắc, mài giũa đơn giản, cắt đơn giản;
Giần, sàng, lựa chọn, phân loại, xếp loại, xếp nhóm;
Đóng đơn giản vào chai, lon, khuôn, túi, hộp hoặc gắn lên thẻ hoặc bảng và các công đoạn đóng gói bao bì đơn giản khác;
Dán hoặc in nhãn, mác hoặc lô-gô và các dấu hiệu phân biệt tương tự lên sản phẩm hoặc lên bao bì
Trộn đơn giản các sản phẩm, cùng loại hay khác loại;
Lắp ráp đơn giản các bộ phận của sản phẩm để tạo nên một sản phẩm hoàn chỉnh hoặc tháo rời sản phẩm thành từng phần;
Kiểm tra hoặc thử nghiệm đơn giản;
Giết mổ động vật
Và khi đó, hàng hóa sẽ vẫn giữ nguyên xuất xứ ban đầu nếu được thực hiện các công đoạn gia công chế biến giản đơn nói trên (riêng rẽ hoặc kết hợp) tại một nước thức ba khác với nước xuất xứ ban đầu của hàng hóa
1.2.2.2 Tiêu chí về vận chuyển
Thông thường, trong hầu hết các quy tắc xuất xứ ưu đãi, hàng hóa chỉ được coi là có xuất xứ nếu nó được vận chuyển thẳng từ nước xuất xứ sang nước nhập khẩu Tuy nhiên, hàng hóa vẫn được coi là có xuất xứ nếu trong quá trình vận chuyển từ nước xuất xứ sang nước nhập khẩu, hàng hóa phải quá cảnh tại một hay nhiều nước trung gian với điều kiện:
Việc quá cảnh là vì lý do địa lý hoặc lý do yêu cầu về vận tải, và
Trang 25Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hàng hoá không tham gia vào giao dịch thương mại hoặc tiêu thụ tại nước quá cảnh, và
Hàng hoá không trải qua bất kỳ công đoạn gia công chế biến nào ngoài việc
dỡ hàng và xếp lại hàng hoặc những công việc nhằm bảo quản hàng hoá
Tiêu chí về vận tải luôn là một trong những tiêu chí quan trọng trong việc xác định xuất xứ của một hàng hóa Mục đích của tiêu chí vận chuyển thẳng là để đàm bảo hàng hóa không trải qua bất kỳ một sự gia công chế biến nào ngoài nước xuất xứ trong qua trình vận chuyển từ nước xuất xứ đến nước nhập khẩu Vì hàng hóa trong quá trình vận chuyển từ hai nước trải qua một quãng thời gian dài, và rủi
ro cho việc xác định xuất xứ của hàng hóa là nó có thể trải qua một quá trình gia công chế biến nào đó tại một nước thứ ba trên đường vận chuyển, làm thay đổi đi xuất xứ của hàng hóa
1.2.2.3 Tiêu chí về chứng từ
Khi đã thỏa mãn toàn bộ các tiêu chí trên, hàng hóa muốn được công nhận là
có xuất xứ tại một nước phải được chứng minh bằng các chứng từ phù hợp, bao gồm chứng từ xuất xứ và chứng từ vận tải
a Chứng từ về xuất xứ
Trong hầu hết các bộ quy tắc xuất xứ đều quy định rằng, hàng hóa xuất khẩu, muốn được công nhận là có xuất xứ từ một nước theo bộ quy tắc xuất xứ đó phải có giấy chứng nhận xuất xứ (certificate of origion – C/O) theo đúng mẫu quy định trong bộ quy tắc xuất xứ đó, đã được điền đầy đủ và ký bởi người xuất khẩu, và được chứng nhận bởi một cơ quan có thẩm quyền tại nước xuất khẩu.Mỗi quy tắc xuất xứ ưu đãi trong các hiệp định thương mại tự do hay các hệ thống ưu đãi thuế quan đơn phương có các mẫu CO khác nhau., thể hiện các tiêu chí khác nhau của các quy tắc xuất xứ này Và C/O là chứng từ duy nhất chứng minh hàng hóa có xuất
xứ theo một bộ quy tắc xuất xứ nhất định
Hiện nay, có một số nước cho phép doanh nghiệp xuất khẩu tự xác nhận xuất
xứ cho hàng hóa của mình Đây là một điểm mới, và dự kiến sẽ được đưa vào một
số FTA mới Việc cho phép các doanh nghiệp tự xác nhận xuất xứ không những đẩy
Trang 26Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
nhanh quá trình cấp giấy xác nhận xuất xứ đôi khi làm cảm trở hoạt động xuất khẩu bởi thủ tục rườm ra, mà còn làm tăng tính tự giác của doanh nghiệp trong việc thực hiện đúng quy tắc xuất xứ với hàng hóa của mình Tuy nhiên việc này cũng sẽ là một bài toán khó cho các cơ quan hải quan nước nhập khẩu trong việc kiểm tra tính xác thực và đúng đắn mà các doanh nghiệp xuất khẩu kê khai trong giấy chứng nhận xuất xứ do họ tự cấp
b Chứng từ về vận chuyển thẳng
Đối với hàng hóa xuất khẩu được vận chuyển qua nước thứ ba, chứng từ chứng minh hàng hóa được vận chuyển thẳng phải được cung cấp cho hải quan nước nhập khẩu, bao gồm:
Vận đơn chở suốt, thể hiện việc hàng hoa đi qua một hay nhiều nước quá cảnh, hoặc
Giấy chứng nhận của cơ quan hải quan của một hay nhiều nước quá cảnh trong đó
Nếu áp dụng tiêu chí RVC để xác định xuất xứ hàng hóa, giá trị của bao bì
và bao gói dùng để bán lẻ hàng hóa sẽ được tính đến khi chúng là một cấu thành của hàng hóa
Trang 27Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Trường hợp áp dụng tiêu chí Chuyển đỗi mã số hàng hóa, bao bì và bao gói dùng để bán lẻ hàng hóa sẽ được loại trừ khi chúng được phân loại cùng với hàng hóa đã được đóng gói
b Tiêu chí về phụ tùng, dụng cụ
Thông thường, các phụ kiện, phụ tùng, dụng cụ và các tài liệu hướng dẫn sử dụng hoặc các tài liệu mang thông tin khác đi kèm hàng hóa không được tính đến khi xác định xuất xứ hàng hóa nếu các phụ kiện, phụ tùng, dụng cụ hay các tài liệu này được phân loại cùng hóa hóa và được tính thuế nhập khẩu cùng hàng hóa đó tại nước nhập khẩu
c Tiêu chí về các yếu tố trung gian
Trong hầu hết các bộ quy tắc xuất xứ, các yếu tố trung gian sẽ được loại bỏ khi xác địng xuất xứ của hàng hóa Các yếu tố trung gian được định nghĩa là các yếu tố được sử dụng trong quá trình sản xuất ra hàng hóa, nhưng không còn nằm lại trong hàng hóa đó, bao gồm:
Năng lượng và nhiên liệu
Dụng cụ và khuôn đúc, khuôn rập
Phụ tùng, nguyên liệu dùng để bảo dưỡng máy móc thiết bị sản xuất,
Dầu nhờn, chất bôi trơi, và các cahats khác dùng trong sản xuất hoặc để vận hành các thiết bị, nhà xưởng
Găng tay, kính, giáy dép,… các thiết bị an toàn
Dụng cụ, máy móc dùng để kiểm nghiệm hoặc giám sát hàng hóa
Bất kỳ nguyên liệu nào khác không cấu thành nên hàng hóa nhưng việc
sử dụng chúng phải được chứng minh là cần thiết trong quá trình sản xuất ra hàng hóa đó
Trên đây là những nội dung chính trong các quy tắc xuất xứ ưu đãi, thường được áp dụng trong các Hiệp định thương mại tự do, các thỏa thuận ưu đãi thuế quan song phương, đa phương và đơn phương
Với cùng một loại hàng hóa được sản xuất và xuất khẩu từ một quốc gia, có thể có hoặc không được công nhận là có xuất xứ tại quốc gia này tùy từng quy tắc
Trang 28Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
xuất xứ được áp dụng Do đó, muốn xác định được xuất xứ của hàng hóa, trước hết cần xác định rõ quy tắc xuất xứ được áp dụng Trên thế giới, mỗi một Hiệp định thương mại tự do đều có một bộ quy tắc xuất xứ ưu đãi riêng biệt và hoàn chỉnh
Điều này chứng tỏ tầm quan trọng đặc biệt của việc xác định xuất xứ hàng hóa trong việc thực hiện các thỏa thuận về tự do hóa thương mại giữa hai hay nhiều quốc gia trên thế giới
1.2.3 Quy tắc xuất xứ ưu đãi trong các FTA
1.2.3.1 Hiệp định thương mại tự do – FTA
Hiệp định thương mại tự do – FTA là một thỏa thuân về tự do hóa thương mại giữa hai, hay nhiều quốc gia Qua đó, các quốc gia cam kết việc mở cửa thị trường trong nước bằng một lộ trình cắt giảm và xóa bỏ các hàng rào thuế quan, phi thuế quan, tiến tới một khu vực mậu dịch tự do
Yếu tố quan trọng nhất trong việc xây dựng một FTA là việc cắt giảm các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, mở cửa thị trường các nước thành viên Điều này có nghĩa, hàng hóa từ một nước thành viên tham gia FTA sẽ được hưởng rất nhiều ưn đãi khi xuất khẩu vào thị trường các nước thành viên còn lại
Theo thống kê của Tổ chức thương mại thế giớiWTO, hiện nay trên thế giới
có khoảng 200 FTA đang có hiệu lực Có thể kể đến các FTA điển hình như:
Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN – ATIGA, được ký kết giữa các thành viên là các quốc gia Đông Nam Á, nhằm dành cho nhau các ưu đãi về thương mại,
từ đó thiết lập một khu vực mậu dịch tự do năng động và cạnh tranh
Hiệp định mậu dịch tự do Bắc Mỹ - NAFTA là hiệp định thương mại tự do giữa
ba nước Canada, Mỹ và Mexico Nội dung của hiệp định này là giúp cho kinh tế của
ba nước này được dễ dàng Cụ thể là việc Mỹ và Canada có thể dễ dàng chuyển giao công nghệ sang Mexico và Mexico cũng dễ dàng chuyển giao nguồn nhân lực sang hai nước kia Ngoài ra, hiệp định này còn giúp cho 3 nước có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới về kinh tế với các khối như EU, AFTA
1.2.3.2 Vai trò của quy tắc xuất xứ trong các Hiệp định thương mại tự do
Trang 29Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Bất kỳ một Hiệp định thương mại tự do nào cũng có một bộ quy tắc xuất xứ riêng biệt, nhằm xác định hàng hóa xuất khẩu từ một quốc gia thành viên có đủ điểu kiện
để hưởng các ưu đãi trong khuôn khổ các hiệp định này hay không, bởi xét cho cùng, mục đích của việc các quốc gia tham gia các Hiệp định thương mại tự do là dành cho nhau các ưu đãi cao hơn các quốc gia ngoài FTA đó Nói cách khác, quy tắc xuất xứ ưu đãi chính là các công cụ kỹ thuật nhằm thực hiện các thỏa thuận và cam kết trong các FTA,
Mặt khác, quy tắc xuất xứ ưu đãi trong các FTA với tiêu chí cộng gộp và các tiêu chí khác như công đoạn gia công chế biến đặc biệt còn là động lực thúc đẩy thương mại nội khối phát triển Giả sử hai quốc gia A, B cùng tham gia một hiệp định thương mại, với một vài quốc gia khác Trong đó, quốc gia A sản xuất sản phẩm xuất khẩu sang thị trường nước A bằng các nguyên vật liệu nhập khẩu từ nước ngoài Để đảm bảo một hàm lượng giá trị khu vực quy định thỏa mãn quy tắc xuất xứ của FTA này nhẳm hưởng các ưu đãi về thuế quan khi xuất khẩu sản phẩm sang thị trường nước B, nước A sẽ phải tìm kiếm các nguyên vật liệu đầu vào từ các quốc gia trong khối Điều này thúc đẩy thương mại trong khối phát triển, và góp phần làm chuyển hưởng thương mại của các thành viên
Đồng thời, quy tắc xuất xứ trong các FTA cũng là công cụ chống gian lận thương mại qua xuất xứ hàng hóa hiệu quả Khi các FTA có hiệu lực, với mức thuế suất giữa các nước thành viên với một số mặt hàng có thể ở mức 0 Khi đó, hiện tượng chệch hướng thương mại – Trade deflection rất có thể sẽ xảy ra, khi hàng hóa
từ các quốc gia không thuộc FTA sẽ vào khu vực FTA thông quan một vài nước thành viên có thuế nhập khẩu với các loại hàng hóa này ở mức thấp, nhằm hưởng lợi từ các ưu đãi về thuế quan và phi thuế quan trong khu vực FTA Khi đó, quy tắc xuất xứ trong các FTA này sẽ là công cụ hữu hiệu để phát hiện và loại bỏ các trường hợp gian lận như vậy
Thêm vào đó, quy tắc xuất xứ trong các FTA còn là những công cụ giúp bảo
hộ thương mại không chỉ giữa các nước thành viên FTA với các quốc gia bên ngoài
mà còn là giữa các nước thành viên trong FTA với nhau Sẽ là rất dễ để hình dung
Trang 30Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
vai trò bảo hộ của quy tắc xuất xứ đối với các thành viên trong và ngoài FTA Cụ thể, với cùng một loại hàng hóa, các sản phẩm nhập khẩu vào một nước thành viên được sản xuất tại nước thành viên khác thuộc FTA thỏa mãn các tiêu chí xuất xứ của FTA này sẽ được hưởng thuế suất ưu đãi hơn rất nhiều so với các sản phẩm nhập khẩu từ một nước nằm ngoài FTA Điều này khiến hàng hóa được nhập khẩu
từ nước thành viên FTA có được lợi thế cạnh tranh về giá lớn hơn rất nhiều so với hàng hóa nhập khẩu từ một nước bên ngoài FTA Tuy nhiên, các quy tắc xuất xứ cũng là công cụ nhằm bảo hộ thị trường giữa các nước thành viên FTA với nhau
Trong rất nhiều các FTA, các nhóm hàng hóa mang tính nhạy cảm thường có quy tắc xuất xứ vô cùng khắt khe Điều này khiến cho hàng hóa từ các nước thành viên xuất khẩu khó lòng mà đạt được xuất xứ theo quy tắc xuất xứ ưu đãi trong FTA này,
và do đó, trở nên giảm sức cạnh tranh tại thị trường nước thành viên nhập khẩu
Việc áp dụng cáct tiêu chí cụ thể từng mặt hàng vô cùng khắt khe đối với một số mặt hàng nhạy cảm tại các FTA trên thế giới đang là một xu hướng ngày càng tăng
Trang 31Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG 2: QUY TẮC XUẤT XỨ ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI HÀNG DỆT MAY
TRONG KHUÔN KHỔ ĐÀM PHÁN HIỆP ĐỊNH TPP 2.1 Giới thiệu về Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương, tên Tiếng Anh Trans-Pacific Partnership – TPP có nguồn gốc từ Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement), được ký kết vào ngày 3 tháng 6 năm 2005, và có hiệu lực từ ngày 28 thàng 5 năm 2006 giữa bốn quốc gia thành viên là Singapore, Chile, New Zealand, Brunei
Nhận thấy tiềm năng phát triển của Hiệp định này, cũng như xu hướng hình thành các liên minh kinh tế trên toàn cầu, các nước sáng lập hiệp định này đã bày tó
ý định muốn mở rộng quy mô, về thành viên cũng như phạm vi hợp tác của Hiệp định này
Và với sự mong muốn kết nạp thêm thành viên của các thành viên sáng lập
trước hết tạo cơ hội cho các doanh nghiệp Mỹ tiếp cận thị trường của các nước thành viên, vốn đang trên đà tăng trưởng mạnh mẽ Đồng thời, đây cũng là cơ hội giúp Hoa Kỳ nâng cao vị thế cũng như tầm ảnh hưởng của mình trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
Đầu năm 2009, Úc và Pê-ru tuyên bố tham gia TPP Tháng 11 năm 2010, Malaysia chính thức trở thành thành viên thứ tám tham gia đàm phán Hiệp định này Đây là cơ hội lớn của Malaysia trong việc thúc đẩy quan hệ thương mại với các quốc gia khác tham gia đàm phán, đặc biệt là Hoa Kỳ, khi mà việc đàm phán hiệp định thương mại tự do song phương giữa hai nước đang đi vào bế tắc Tuy nhiên, việc tham gia TPP cũng là một thách thức lớn với Malaysia khi mà những cam kết
về mở cửa cũng như tự do hóa trong nhiều lĩnh vực trong hiệp định này là rất lớn, trong khi nền linh tế Malaysia vẫn chịu sự bảo hộ cao
Đầu năm 2009, Việt Nam quyết định tham gia Hiệp định TPP với tư cách thành viên liên kết Tháng 11 năm 2010, sau khi tham gia ba phiên đàm phán TPP
Trang 32Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
với tư cách này, Việt Nam đã chính thức tham gia đàm phán và trở thành thành viên thứ chín tham gia đàm phán chính thức hiệp định này Tham gia đàm phán TPP sẽ
là cơ hội lớn giúp Việt Nam tạo dựng mối quan hệ với các quốc gia khác, giúp Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài Đây cũng là động lực giúp Việt Nam tạo nên những thay đổi tích cực, tiến hành tái cơ cấu nền kinh tế trong nước Tuy nhiên, tham gia một hiệp định thương mại với mức độ cam kết sâu như TPP, với vị thế là quốc gia có mức độ phát triển thấp nhất, cũng là một khó khăn không nhỏ với Việt Nam, đặc biệt trong các lĩnh vực sở hữu trí tuệ, vệ sinh dịch tễ, các rào cản kỹ thuật, quy tắc xuất xứ,…
Năm 2012, Mexico và Canada chính thức tham gia vào đàm phán hiệp định TPP, nâng số thành việc tham gia đàm phán hiệp định này lên mười một nước Đây đều là hai quốc gia có trình độ phát triển kinh tế cao Tham gia TPP sẽ giúp các nước này đẩy mở rộng thị trường hơn nữa, tham gia mạnh mẽ hơn vào quá trình hội nhập thương mại quốc tế
Sang đến năm 2013, TPP chính thức chào đón quốc gia thứ mười hai tham gia đàm phán, đó là Nhật Bản Sự gia nhập của quốc gia này đã gợi mở cơ chế đàm phán tự do hóa song phương thay vì cơ chế đàm phán đa phương đang đi vào bế tắc trong các vòng đàm phán trước đây của TPP, mở ra nhiều triển vọng hơn cho các nước tham gia đàm phán trong việc đi đến một thỏa thuận chính thức trong quá trình đàm phán TPP Tham gia đàm phán TPP được coi là việc vô cùng cần thiết để thúc đẩy nền kinh tế đang gặp khó khăn của nước này
Các nước tham gia đàm phán TPP tính đến thời điểm hiện tại tạo nên 32.172
tỷ USD (tháng 4/ 2013) giá trị GDP, chiếm gần 30% GDP toàn cầu, là mái nhà chung của gần 10% dân số thế giới Điều này hứa hẹn khi TPP chính thức được ký kết, với mức độ cam kết mạnh mẽ và sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, và với quy mô cũng như tiềm năng của các quốc gia thành viên, đây sẽ là một khối liên minh kinh
tế hùng mạnh, và có tầm ảnh hưởng vô cùng lớn trên toàn cầu
Trang 33Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Bảng 2.1: Các quốc gia tham gia đàm phán TPP
dân số và GDP tháng 3 năm 2014
Quốc gia Năm tham
gia
Dân số (triệu người)
GDP đầu người
(tỷ USD)
Kinh ngạch thương mại (TỶ USD)
Thuế suất MFN (%)
2.1.2 Quan hệ thương mại giữa các thành viên TPP
Mặc dù chỉ chiếm chưa đến 10% dân số thế giới, nhưng các quốc gia TPP luôn là nhóm nước có đóng góp lớn vào tổng kim ngạch trao đổi thương mại toàn cầu
Trang 34Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Bảng 2.2: Tỷ trọng trao đổi thương mại của các nước TPP
Nguồn: Exported From Datamarket.com
Bảng trên minh họa giá trị trao đổi thương mại giữa các quốc gia TPP, tốc độ tăng trưởng và tỷ trọng trong trao đổi thương mại toàn cầu Chiến đến trên 25%
tổng giá trị trao đổi thương mại toàn cầu trong giai đoạn từ năm 2008 đến 2011, có thể thấy được các quốc gia đang tham gia đàm phán TPP đang là những đối tác thương mại hàng đầu của nhau Đồng thời cũng minh chứng quy mô, sự năng động
và vai trò của khu vực này trong tổng trao đổi thương mại toàn cầu Và trong 12 thành viên đang tham gia đàm phán hiệp định này, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Singapore vẫn là các quốc gia có đóng góp lớn nhất vào tổng giá trị trao đổi thương mại khu vực
Trang 35Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng kinh ngạch trao đổi thương mại của các quốc
gia tham gia đàm phán TPP năm 2011
Đơn vị: %
Nguồn: www.datamarket.com
Tốc độ tăng trưởng kim ngạch trao đổi thương mại của các thành viên đang tham gia đàm phán TPP năm 2011 ở mức 15,21% Trong đó, cao nhất là Brunei với mức 27,74%, Peru với mức 27,49% và Việt Nam với mức 25,2%, cao hơn nhiều so với mức tốc độ tặng trung bình thế giới là 17,91% Điều này chứng tỏ, TPP là tập hợp của rất nhiều quốc gia có năng động, và có tiềm năng vô cùng lớn về tăng trưởng giá trị trao đổi thương mại
2.1.3 Các vấn đề chính trong đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP
Mặc dù là một hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement – FTA), tuy nhiên phạm vi của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP không chỉ dừng lại ở các vấn đề về thương mại mà còn bao gồm cả những vấn đề phi thương mại, không chỉ điều chỉnh trong phạm vi tại biên giới mà còn bao gồm cả các vấn
Trang 36Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
đề bên trong biên giới Ngoài ra, còn có rất nhiều các vấn đề nhạy cảm được đưa vào trong phạm vị điều chỉnh của hiệp định này Vào tháng 3 năm 2011, các nước tham gia đàm phán TPP đã đưa ra một bản khung dự thảo về các vấn đề đàm phán trong khuôn khổ hiệp định này, bao gồm:
và suy trì những quy định pháp luật và cơ quan quản lý các vấn đề liên quan đến cạnh tranh, nhằm đảm bảo công bằng trong thủ tục thi hành luậ cạnh tranh, sự minh bạch, bảo vệ người tiêu dùng và quyền hành động của khu vực tư nhân
hợp tác và hỗ trợ xây dựng mang tính linh hoạt, theo cơ chế “yêu cầu – đáp ứng”
công bằng, mở, minh bạch là các nguyên tắc chính điều chỉnh khu vực này
chóng và thuận lợi cho hoạt động thương mại hướng đến việc liên kết các doanh nghiệp thuộc các nước trong TPP trong chuỗi cung cấp và sản xuất khu vực được các nước thống nhất hướng đến Đồng thời, cam kết về hợp tác hải quan cũng là một vấn đề quan trọng trong nội dung đàm phán cũng như phạm vi điều chỉnh liên quan đến các vấn đề về Hải quan trong khuôn khổ hiệp định xuyên Thái Bình Dương TPP
một nền kinh tế số, với việc xử lý các vấn đề về thuế quan trong môi trường số, chứng thực giao dịch điện tử và bảo vệ người tiêu dùng
trường và cơ chế giám sát việc thực thi và hợp tác hỗ trợ Đồng thời, sư phát triển tương hỗ giữa thương mại và môi trường cũng được các nước quan tâm Ngoài các vấn đề truyền thống như ở trên, các nước thành viên tham gia đàm phán cũng đang tiến hành thảo luận một số vấn đề mới như đánh cá trên biển, bảo tồn sinh học, chống sinh vật ngoại lai, chống biến đổi khí hậu và các sản phấm hàng hóa , dịch vụ môi trường
Trang 37Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
phân biệt đối xử giữa các quốc gia đối với các vấn đề liên quan đến dịch vụ tài chính Đồng thời, việc đảm bảo công bằng đối xử với các dịch vụ tài chính mới cũng như việc bảo hộ đầu tư và các cơ chế giải quyết tranh chấp cũng được các quốc gia tham gia đàm phán quan tâm Mặt khác, các nước thành viên còn hướng tới một thỏa thuận nhằm đảm bảo chủ quyền của các nước, đặc biệt trong trường hợp khủng hoảng tài chính xảy ra
nguyên tắc cơ bản của thủ tục đấu thầu công, bao gồm: công bằng, minh bạch, không phân biệt đối xử dựa trên và phát triển từ hiệp định TRIPS, cũng như phản ánh các cam kết đã nêu trong tuyên bố Doha về Trips và Y tế cộng đồng
gồm: không phân biệt đối xử, chuẩn đối xử tối thiểu, quy tắc về tịch thu tài sản, các quy định cấm các yêu cầu cụ thể về hoạt động king doanh của các nhà đầu tư, cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà nước, nhà đầu tư nhanh chóng, hiệu quả, minh bạch và quyền của nước nhận đầu tư trong việc bảo vệ lợi ích công cộng
đàm phán không những bảo vệ các quyền của người lao động, mà còn là một cơ chế đảm bảo hợp tác, phối hợp và đối thoại về các vấn đề lao động
đàm phán là các quy tắc giải quyết tranh chấp, các ngoại lệ về vấn đề minh bạch trong quá trình ban hành pháp luật nội địa
trong nội dung đàm phán TPP Về cơ bản, phạm vi đàm phán về vấn đề này giữa các bên trong TPP bao gồm một lộ trình cắt bỏ thuế quan của tất cả các dòng thuế (trên 10.000 dòng) Đồng thời với đó là việc xây dựng một bộ quy tắc xuất xứ riêng cho hiệp định này Đây là một trong những nội dung đàm phán hết sức quan trọng của hiệp định TPP, bởi đó chính là nhân tố tọng yếu ảnh hưởng đến lợi ích của các nước thành viên đối việc cắt giảm hàng rào thuế quan và xâm nhập vào thị trường
Trang 38Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
các nước thành viên còn lại Ngoải ra, việc đàm phán hiệp định TPP trong khuôn khổ các thỏa thuân về thương mại hàng hóa còn bao gồm thêm các vấn đề liên quan đến rào cản kỹ thuật (TBT), phòng thủ thương mại,… Mặt khác, các vấn đề liên quan đến dệt nay, bao gồm một loạt các quy định liên quan, từ cơ chế hợp tác hải quan, thủ tục thực thi, quy tắc xuất xứ đối với dòng hàng này, và các cơ chế đàm phán đặc biệt
mại dịch vụ giữa các nước thành viên, TPP hướng tới nguyên tắc là mở cửa tấc cả các ngành dịch vụ (không đề cập đến vấn đề cấp độ phân ngành)
Là một hiệp định thương mại tự do với phạm vị điều chỉnh rộng, cũng như mức độ cam kết sâu hơn hẳn các hiệp định thương mại tự do cùng thời điểm, quá trình đàm phán TPP là một quá trình dài hơi, khó khăn, phức tạp và có nhiều tranh chấp giữa các thành viên Hiện tại, tham gia đàm phán TPP có 12 quốc gia, cùng 20 nhóm đàm phán được thành lập trong các lĩnh vực bao gồm: tiếp cận thị trường (market access), hàng rào kỹ thuật trong thương mại, vệ sinh kiểm dịch, quy tắc xuất xứ, hải quan, đầu tư, dịch vụ, các biện pháp không tương thích, dịch vụ tài chính, thông tin liên lạc, thương mại điện tử, di chuyển kinh doanh, mua sắm chính phủ, cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, lao động, môi trường, xây dựng năng lực thể chế, sửa chữa khiếm khuyết của thương mại, pháp luật và thể chế
Tính đến thời điểm cuối năm 2014, quá trình đám phán TPP đã trải qua hơn
20 vòng đàm phán Nhiều vấn đề đã đi đến thống nhất, như các vấn đề về Hải quan, viễn thông, hài hóa pháp lý Tuy nhiên, những vấn đề phức tạp và chủ chốt như Quy tắc xuất xứ, sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp nhà nước,… vẫn chưa đạt được tiếng nói chung giữa các thành viên
Nằm trong khuôn khổ các nội dung đàm phán của Hiệp định TPP, quy tắc xuất xứ ưu đãi bắt đầu được thảo luận từ vòng đàm phán chính thức thứ ba diễn ra
từ ngày mùng bốn đến ngày mùng chính tháng mười, năm 2010 tại Brunei Mục tiêu của các quốc gia tham gia đàm phán là xây dựng một bộ quy tắc xuất xứ ưu đãi thống nhất, đơn giản và hiệu quả Trong quá trình đạt được một bộ quy tắc xuất xứ
Trang 39Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
ưu đãi hoàn thiện trong TPP, việc xây dựng những tiêu chí về xuất xứ đối với hàng dệt may đang là một trong những vấn đề nổi bật, phức tạp trong quá trình đàm phán Hiệp định này Phần sau của bài nghiên cứu sẽ trình bày nội dung của quá trình đàm phán quy tắc xuất xứ ưu đãi đối với hàng dệt may trong khuôn khổ đàm phán Hiêp định TPP
2.2 Nội dung đàm phán quy tắc xuất xứ ưu đãi đối với hàng dệt nay trong khuôn khổ đàm phán hiệp định TPP
Được hình thành trên cơ sở Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương, ký kết ngày mùng 3 tháng 6 năm 2015, việc đàm phán bộ quy tắc xuất xứ
ưu đãi mới cho TPP cũng được xây dựng trên cơ sở bộ quy tắc xuất xứ ưu đãi trong Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương
2.2.1 Các tiêu chí xuất xuất xứ
Mặc dù mỗi Hiệp định thương mại tự do đều có cho mình những bộ quy tắc xuất xứ ưu đãi khác nhau, tuy nhiên mỗi bộ quy tắc xuất xứ này đều được xây dựng trên những tiêu chí chung nhất Và việc xây dựng bộ quy tắc xuất xứ ưu đãi trong TPP cũng không nằm ngoài các tiêu chí chung này Đối với các tiêu chí xuất xứ của hàng hóa, chắc chắn bộ quy tắc xuất xứ thống nhất của TPP sẽ bao gồm hai tiêu chí xuất xứ: Xuất xứ thuần túy và xuất xứ không thuần túy
2.2.1.1 Xuất xứ thuần túy
Không có nhiều phức tạp trong việc đàm phán để đưa đến một quy định thống nhất trong việc xác định thế nào là hàng hóa của xuất xứ thuần túy, đối với các sản phẩm dệt may nói riêng và tất cả các sản phẩm khác nói chung trong TPP
Tuy nhiên, với TPP, có thể có một cách quy định hơi khác so với rất nhiều FTA khác đối với quy tắc xuất xứ thuần túy Cụ thể, hàng hóa có xuất xứ thuần túy bao gồm hai nhóm hàng hóa
Hàng hóa được sản xuất toàn bộ trên lãnh thổ một nước thành viên
Hàng hóa được sản xuất toàn bộ trên lãnh thổ một hoặc nhiều nước thành viên, từ các nguyên vật liệu có xuất xứ TPP
Trang 40Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Việc đề cập đến hàng hóa có xuất xứ thuần túy được sản xuất trên lãnh thổ của một hay một vài nước thành viên từ các nguyên vật liệu có xuất xứ TPP là một sự
kế thừa từ bộ quy tắc xuất xứ của hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương được ký kết giữa nhóm nước P4
2.2.1.2 Xuất xứ không thuần túy
“Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy là hàng hóa không được sản xuất
toàn bộ tại một hoặc một vài nước thành viên, nhưng đã trải qua công đoạn gia công chế biến cơ bản cuối cùng tại nước thành viên đó” là định nghĩa được các bên
thống nhất trong quá trình đàm phán về bộ quy tắc xuất xứ trong TPP Tuy nhiên,
như thế nào là hàng hóa đã trải qua “công đoạn gia công chế biến cơ bản cuối
cùng” đối với nguyên vật liệu không xuất xứ là một vấn đề phức tạp, và then chốt
nhất trong quá trình đàm phán quy tắc xuất xứ trong TPP
Không giống như nhiều FTA khác khi quy định cụ thể các tiêu chí để xác định xuất xứ không thuần túy chung cho các loại hàng hóa, các quốc gia tham gia đàm phán TPP đã không đưa ra một tiêu chí chung cụ thể nào cho việc xác định xuất xứ không thuần túy cho các mặt hàng Việc đàm phán quy tắc xuất xứ không thuần túy chung cho các mặt hàng trong TPP chỉ dừng lại ở việc quy định rằng:
“Hàng hóa được sản xuất trên lãnh thổ một hay nhiều nước thành viên sử dụng
nguyên vật liệu không xuất xứ sẽ được coi là có xuất xứ không thuần túy nếu trải qua một quá trình chuyển đổi mã số hàng hóa, chứa đựng một hàm lượng giá trị khu vực, hay trải qua một công đoạn gia công chế biến cụ thể tùy từng mặt hàng”
Hàng hóa phải trải qua một qua trình chuyển đổi mã số hàng hóa đến cấp số nào, phải chứa đựng một hàm lượng giá trị khu vực nhỏ nhất bằng bao nhiêu, và trải qua công đoạn gia công chế biến cụ thể nào sẽ được quy định cụ thể cho từng mặt hàng
Đối với hàng dệt may, việc đàm phán các tiêu chí này đã đi đến những thống nhất, mặc dù vẫn còn nhiều bất đồng và phức tạp